SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ
9
PHẨM NHÂN
103. KINH SƯ TỬ HỐNG[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một thời Đức Phật du
hóa tại Câu-lâu-sấu, ở Kiếm-ma-sắt-đàm. một đô ấp của Câu-lâu.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn
bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Ở đây
có Sa-môn thứ nhất, thứ hai, thứ ba, Sa-môn thứ tư. Ngoài đây ra
không có Sa-môn, Phạm chí; Dị học hoàn toàn không có
Sa-môn, Phạm chí. Trong bất cứ chúng hội, các ngươi hãy chân chánh rống
tiếng rống như sư tử vậy.
“Này các Tỳ-kheo,
nếu có người Dị học đến hỏi các ngươi, ‘Này chư Hiền, các ông có hành gì,
lực gì, trí gì mà các ông nói như vầy: ‘Ở đây có Sa-môn thứ nhất, thứ hai,
thứ ba, Sa-môn thứ tư. Ngoài đây ra không có Sa-môn, Phạm chí; Dị học hoàn
toàn không có Sa-môn, Phạm chí’. Trong bất cứ chúng hội các ông đều chân
chánh rống tiếng rống sư tử như vậy?”.
“Này các Tỳ-kheo,
các ngươi nên trả lời Dị học ấy như vầy: ‘Này chư Hiền, Đức Thế Tôn của
tôi là bậc có trí, có kiến; là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác,
thuyết giảng bốn pháp. Nhân nơi bốn pháp này mà chúng tôi nói như vầy: ‘Ở
đây có Sa-môn thứ nhất, thứ hai, thứ ba, Sa-môn thứ tư. Ngoài đây ra không
có Sa-môn, Phạm chí; Dị học hoàn toàn không có Sa-môn, Phạm chí. Trong bất
cứ chúng hội mà chúng tôi đều chân chánh rống tiếng rống sư tử như vậy.’
“Bốn pháp đó là
những gì? Này chư Hiền, chúng tôi tin tưởng Đấng Tôn Sư, tin Pháp, tin sự
thành mãn của giới đức,
đồng đạo có ái kính, có phụng sự chân thành.
“Này chư Hiền, Đức
Thế Tôn của chúng tôi là bậc có trí, có kiến, là Như Lai, Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác, thuyết giảng bốn pháp này. Nhân bốn pháp này mà chúng tôi
nói như vầy: ‘Ở đây có Sa-môn thứ nhất, thứ hai, thứ ba, Sa-môn thứ tư.
Ngoài ra không có Sa-môn, Phạm chí; Dị học hoàn toàn không có Sa-môn, Phạm
chí. Trong bất cứ chúng hội chúng tôi đều chân chánh rống tiếng rống sư tử
như vậy.’
“Này các Tỳ-kheo,
nếu Dị học cũng có thể lại nói: ‘Này chư Hiền, chúng tôi cũng tin đấng Tôn
sư, tức Tôn sư của chúng tôi; tin pháp, tức pháp của chúng tôi; tin sự
thành mãn của giới đức, tức giới của chúng tôi; cũng ái kính bạn đồng đạo,
phụng sự chân thành, là bạn đồng đạo xuất gia và tại gia của chúng tôi.
Này chư Hiền, giữa hai lời nói này, của Sa-môn Cù-đàm và của chúng tôi, có
gì hơn chăng? Có ý gì chăng? Có sai biệt gì chăng?’ Thì này các Tỳ-kheo,
các ngươi nên hỏi Dị học như vầy: ‘Này chư Hiền, cứu cánh là một hay cứu
cánh là nhiều?’ Này các Tỳ-kheo, nếu Dị học trả lời như vầy: ‘Này chư
Hiền, cứu cánh chỉ có một, cứu cánh không có nhiều’. Thì này các Tỳ-kheo,
các ông hỏi tiếp Dị học: ‘Này chư Hiền, người có dục mà được cứu cánh, hay
người không có dục mới được cứu cánh?’Này các Tỳ-kheo, nếu Dị học trả lời
như vầy, ‘Này chư Hiền, người không có dục mới được cứu cánh, không phải
người có dục mà được cứu cánh’.
Thì này các Tỳ-kheo,
các ngươi hãy hỏi tiếp Dị học, ‘Này chư Hiền, người có nhuế mà được cứu
cánh, hay người không có nhuế mà được cứu cánh?’ Này các Tỳ-kheo, nếu Dị
học trả lời như vầy: ‘Này chư Hiền, người không có nhuế mà được cứu cánh,
không phải người có nhuế mà được cứu cánh’. Này các Tỳ-kheo, các ngươi hãy
hỏi tiếp Dị học: ‘Này chư Hiền, người có si mà được cứu cánh hay người
không có si mà được cứu cánh?’ Này các Tỳ-kheo, nếu Dị học trả lời như
vầy: ‘Này chư Hiền, người không có si mà được cứu cánh, không phải người
có si mà được cứu cánh’. Thì này các Tỳ-kheo, các ngươi hãy hỏi tiếp Dị
học: ‘Này chư Hiền, người có ái, có thủ
mà được cứu cánh, hay người không có ái, không có thủ mà được cứu cánh?’
Này các Tỳ-kheo, nếu Dị học trả lời như vầy: ‘Này chư Hiền, người không có
ái, không có thủ mà được cứu cánh, không phải người có ái, có thủ mà được
cứu cánh’. Thì này các Tỳ-kheo, các ngươi hãy hỏi tiếp Dị học: ‘Này chư
Hiền, người không có tuệ,
không có thuyết tuệ
mà được cứu cánh, hay người có tuệ, có thuyết giảng tuệ mà được cứu cánh?’
Này các Tỳ-kheo, nếu Dị học trả lời như vầy: ‘Này chư Hiền, người có tuệ,
có thuyết tuệ mà được cứu cánh; không phải người không có tuệ, không
thuyết tuệ mà được cứu cánh’. Thì này các Tỳ-kheo, các ngươi hãy hỏi tiếp
Dị học: ‘Này chư Hiền, người có tắng, có tránh
mà được cứu cánh, hay người không có tắng có tránh mà được cứu cánh?’ Này
các Tỳ-kheo, nếu Dị học trả lời như vầy: ‘Này chư Hiền, người không có
tắng, không có tránh mà được cứu cánh; không phải người có tắng có tránh
mà được cứu cánh’. Thì này các Tỳ-kheo, các ngươi hãy nói với Dị học như
vầy: ‘Này chư Hiền, như vậy là các ông nói có một cứu cánh, không phải
nhiều cứu cánh.
“Người không có dục
mà được cứu cánh, không phải người có dục mà được cứu cánh. Người không có
nhuế mà được cứu cánh, không phải người có nhuế mà được cứu cánh. Người
không có si mà được cứu cánh, không phải người có si mà được cứu cánh.
Người không có ái, không có thủ được cứu cánh, không phải người có ái, có
thủ mà được cứu cánh. Người có tuệ, có thuyết tuệ mà được cứu cánh; không
phải người không có tuệ, không có thuyết tuệ mà được cứu cánh. Người không
có tắng, không có tránh mà được cứu cánh; không phải người có tắng, có
tránh mà được cứu cánh.
“Nếu có Sa-môn, Phạm
chí nương nơi vô lượng kiến, vị đó nhất định nương nơi hai kiến, hữu kiến
và vô kiến.
Nếu nương nơi hữu kiến, vị đó liền bám dính hữu kiến, nương cậy nơi hữu
kiến, y trụ nơi hữu kiến và tắng, tránh với vô kiến.
Nếu nương nơi vô kiến, vị đó liền bám dính vô kiến, nương cậy nơi vô kiến
mà tắng tránh với hữu kiến.
“Nếu có Sa-môn, Phạm
chí không biết một cách như thật về nhân, về tập, về diệt, về tận, vị
ngọt, tai hoạn và sự xuất yếu,
vị đó nhất định có dục, có nhuế, có si, có ái, có thủ, không có tuệ, không
có thuyết tuệ, có tắng, có tránh; vị đó không lìa khỏi sanh, già, bệnh,
chết, cũng không thể thoát khỏi sự buồn rầu, kêu khóc, lo khổ, áo não,
không chứng đắc khổ biên.
“Nếu có Sa-môn, Phạm
chí đối với những loại kiến này mà biết một cách như thật về tập, về diệt,
về tận, vị ngọt, sự tai hoạn và sự xuất yếu, vị đó nhất định không có dục,
không có nhuế, không có si, không có ái, không có thủ, có tuệ, có thuyết
tuệ, không có tắng, không có tránh, vị đó lìa khỏi sanh, già, bệnh, chết,
cũng có thể thoát khỏi sự buồn rầu, kêu khóc, lo khổ, áo não, vượt khỏi bờ
khổ.
“Hoặc có Sa-môn,
Phạm chí chủ trương đoạn trừ thủ, nhưng không chủ trương đoạn trừ tất cả
thủ; chỉ chủ trương đoạn trừ dục thủ mà không chủ trương đoạn trừ giới
thủ, kiến thủ, ngã thủ.
Vì sao vậy? Vì Sa-môn, Phạm chí đó không biết đúng như thật về ba xứ.
Do đó, vị ấy chủ trương đoạn trừ thủ, nhưng không chủ trương đoạn trừ tất
cả thủ.
“Lại có Sa-môn, Phạm
chí chủ trương đoạn trừ thủ, nhưng không chủ trương đoạn trừ tất cả thủ;
chỉ chủ trương đoạn trừ dục thủ, giới thủ, mà không chủ trương đoạn trừ
kiến thủ, ngã thủ. Vì sao vậy? Vì Sa-môn, Phạm chí đó không biết đúng như
thật về hai xứ. Do đó, vị ấy tuy đoạn trừ thủ nhưng không chủ trương đoạn
trừ tất cả thủ.
“Lại có Sa-môn, Phạm
chí chủ trương đoạn trừ thủ nhưng không chủ trương đoạn trừ tất cả thủ;
chỉ chủ trương đoạn trừ dục thủ, giới thủ, kiến thủ mà không chủ trương
đoạn trừ ngã thủ. Vì sao vậy? Vị Sa-môn, Phạm chí đó không biết đúng như
thật về một xứ. Do đó vị ấy chủ trương đoạn trừ thủ nhưng không chủ trương
đoạn trừ tất cả thủ.
“Đối với pháp luật
như vậy, người nào tin đấng Tôn sư, người đó không phải là chân chánh,
không phải là thứ nhất. Nếu tin pháp, cũng không phải là chân chánh, không
phải là hạng thứ nhất. Nếu ái kính bạn đồng đạo, chân thành phụng sự, cũng
không phải chân chánh, không phải hạng thứ nhất.
“Nếu có Đức Như Lai ra đời, là Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh
Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân
Sư, gọi là Phật, là Đấng Chúng Hựu, Ngài cũng chủ trương đoạn trừ thủ.
Ngay trong đời này, Ngài chủ trương đoạn trừ tất cả thủ, thi hành đoạn trừ
dục thủ, giới thủ, kiến thủ, ngã thủ. Bốn thủ này nhân nơi đâu? Tập khởi
do đâu? Phát sinh từ đâu? Lấy gì làm gốc? Nếu thọ này nhân nơi vô minh,
phát sanh từ vô minh, lấy vô minh làm gốc, nếu có Tỳ-kheo vô minh đã diệt
tận, minh tuệ đã phát sanh, vị đó từ đây không còn trở lại chấp thủ dục,
chấp thủ giới, chấp thủ kiến và chấp thủ ngã nữa. Vị đó đã không chấp thủ
rồi thì không còn lo sợ. Đã không lo sợ nên đoạn trừ nhân duyên, chắc chắn
chứng đắc Niết-bàn và biết đúng như thật rằng ‘Sự sanh đã hết, phạm hạnh
đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh’.
“Trong Pháp Luật
chân chánh như vậy, nếu người nào tin Đấng Tôn Sư thì đó là người chân
chánh, là người bậc nhất; nếu tin Pháp thì đó là người chân chánh, là
người bậc nhất; nếu tin sự thành mãn của giới đức, đồng đạo có ái kính,
thì đó là người chân chánh, là người bậc nhất; nếu đồng đạo có ái kính, có
phụng sự chân thành thì đó là người chân chánh, là người bậc nhất.
“Này chư Hiền, chúng tôi có hành như vậy, có lực như vậy, có trí như vậy.
Nhân nơi đó mà chúng tôi nói như vầy, ‘Ở đây có Sa-môn thứ nhất, thứ hai,
thứ ba, Sa-môn thứ tư. Ngoài đây ra không có Sa-môn, Phạm chí; Dị học hoàn
toàn không có Sa-môn, Phạm chí. Do đó, bất cứ trong chúng hội mà chúng tôi
chân chánh rống tiếng rống sư tử như vậy’.”
Phật thuyết giảng
như vậy, các Tỳ-kheo ấy sau khi Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 9
97 |
98 |
99 |
100 |
101 |
102 |
103 |
104 |
105 |
106
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003