SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ
8
PHẨM UẾ
91. KINH CHU-NA VẤN KIẾN[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại Câu-xá-di, trong vườn Cù-sư-la.
Bấy giờ Tôn giả Đại Chu-na vào lúc xế, từ chỗ tĩnh tọa đứng dậy, đi đến
chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi xuống một bên, bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, trong
đời, các kiến chấp phát sanh và phát sanh, tức các chủ trương có thần ngã,
có chúng sanh, có nhân, có thọ, có mạng, có thế gian.
Bạch Thế Tôn, biết như thế nào, thấy như thế nào để các kiến chấp này được
tiêu diệt, được xả ly và khiến cho các tà kiến khác không tiếp diễn, không
bị chấp thủ?”
Bấy giờ Thế Tôn nói
rằng:
“Chu-na, trong đời,
các kiến chấp phát sanh và phát sanh, tức các chủ trương có thần ngã, có
chúng sanh, có nhân, có thọ, có mạng, có thế gian. Chu-na, nếu muốn các
pháp diệt tận không dư, thì phải biết như vậy, thấy như vậy mới có thể
khiến cho các kiến chấp này được tiêu diệt, được xả ly và khiến cho các
kiến chấp khác không tiếp diễn, không bị chấp, hãy học pháp tiệm giảm.
“Chu-na, trong Thánh
pháp luật, thế nào là tiệm giảm? Tỳ-kheo ly dục, ly ác bất thiện, cho đến
chứng đắc Tứ thiền, thành tựu an trụ, vị ấy nghĩ như vầy: ‘Ta đã thực hành
sự tiệm giảm’. Này Chu-na, trong Thánh pháp luật không phải chỉ có sự tiệm
giảm này.
“Có bốn tăng thượng
tâm, hiện pháp lạc trú,
hành giả từ đó xuất rồi lại nhập trở lại. Vị ấy nghĩ như thế này: ‘Ta thực
hành sự tiệm giảm này’. Này Chu-na, trong Thánh pháp luật không phải chỉ
có sự tiệm giảm này.
“Tỳ-kheo vượt khỏi
mọi sắc tưởng, cho đến chứng đắc phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, thành tựu
an trụ. Vị ấy nghĩ như thế này: ‘Ta thực hành sự tiệm giảm’. Này Chu-na,
trong Thánh pháp luật không phải chỉ có sự tiệm giảm này.
“Có bốn tịch tĩnh
giải thoát,
lìa sắc, chứng đắc vô sắc, hành giả từ đó khởi lên sẽ nói cho người khác
biết. Vị ấy nghĩ như thế này: ‘Ta thực hành sự tiệm giảm’. Này Chu-na,
trong Thánh pháp luật không phải chỉ có sự tiệm giảm này.
“Chu-na, ‘Người khác
có ác dục, niệm dục; ta không có ác dục, niệm dục’. Hãy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác
có sân hại ý;
ta không có sân hại ý’. Hãy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác
có sát sanh, lấy của không cho, phi phạm hạnh; ta không phi phạm hạnh’.
Hãy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác
có tham lam,
tâm não hại,
thụy miên triền,
trạo cử,
cống cao và có nghi hoặc;
ta không có nghi hoặc’. Hãy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác
có sân kết,
dua siểm, lừa gạt, vô tàm, vô quý; ta có tàm quý’. Hãy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác
có mạn, ta không có mạn’. Hãy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác
có tăng thượng mạn, ta không có tăng thượng mạn’.
Hãy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác
không đa văn, ta có đa văn’. Hãy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác
không quán các thiện pháp, ta quán các thiện pháp’. Hãy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác
hành phi pháp, ác hạnh; ta hành đúng pháp, diệu hạnh’. Hãy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác
có nói láo, hai lưỡi, nói cộc cằn, nói thêu dệt, ác giới; ta không ác
giới’. Hãy học tiệm giảm.
“Chu-na, ‘Người khác
có bất tín, giải đãi, vô niệm, vô định mà lại có ác tuệ; ta không có ác
tuệ’. Hãy học tiệm giảm.
“Chu-na, chỉ cần
phát tâm nghĩ muốn cầu học các thiện pháp còn được nhiều sự lợi ích, huống
chi thân và khẩu thực hành thiện pháp?
“Chu-na, ‘Người khác
có ác dục, niệm dục; ta không có ác dục, niệm dục’. Hãy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người
khác có sân hại ý; ta không có sân hại ý’. Hãy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác
có sát sanh, lấy của không cho, phi phạm hạnh; ta không phi phạm hạnh’.
Hãy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác
có tham lam, tâm não hại, thụy miên triền, trạo cử và cống cao và có nghi
hoặc; ta không có nghi hoặc’. Hãy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác
có sân kết, dua siểm, lừa gạt, vô tàm, vô quý; ta có tàm quý’. Hãy phát
tâm.
“Chu-na, ‘Người khác
có mạn, ta không có mạn’. Hãy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác
có tăng thượng mạn, ta không có tăng thượng mạn’. Hãy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác
không đa văn, ta có đa văn’. Hãy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác
không quán các thiện pháp, ta quán các thiện pháp’. Hãy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác
hành phi pháp, ác hạnh; ta hành đúng pháp, diệu hạnh’. Hãy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác
có nói láo, nói hai lưỡi, nói cộc cằn, nói thêu dệt, ác giới; ta không ác
giới’. Hãy phát tâm.
“Chu-na, ‘Người khác
có bất tín, giải đãi, vô niệm, vô định mà lại có ác tuệ; ta không có ác
tuệ’. Hãy phát tâm.
“Chu-na, ví như con
đường xấu, có con đường tốt đối lại; bến đò xấu, có bến đò tốt, đối lại.
Cũng vậy, này Chu-na, ác dục có phi ác dục đối lại. Hại ý sân, có không
hại ý sân đối lại. Sát sanh, lấy của không cho, phi phạm hạnh, có phạm
hạnh đối lại. Tham lam, não hại, thụy miên, trạo cử cống cao, nghi hoặc,
có sự không nghi hoặc đối lại. Sân kết, dua siểm, lừa gạt, vô tàm, vô quý;
có tàm quý đối lại. Mạn, có không mạn đối lại. Tăng thượng mạn có không
tăng thượng mạn đối lại. Không đa văn, có đa văn đối lại. Không quán các
thiện pháp, có quán các thiện pháp đối lại. Hành phi pháp, ác hạnh; có
hành đúng pháp, diệu hạnh đối lại. Nói láo, nói hai lưỡi, nói cộc cằn, nói
thêu dệt, ác giới; có thiện giới đối lại. Bất tín, giải đãi, vô niệm, vô
định, ác tuệ; có thiện tuệ đối lại.
“Chu-na, hoặc có
pháp đen, có quả báo đen, dẫn đến ác xứ; hoặc có pháp trắng, có quả báo
trắng, dẫn lên thiện xứ. Cũng như thế, này Chu-na, người ác dục thì do phi
ác dục mà đi lên. Người có hại ý sân thì do không có hại ý sân mà đi lên.
Người sát sanh, lấy của không cho, phi phạm hạnh, thì do phạm hạnh mà đi
lên. Người tham lam, não hại, thụy miên, trạo cử cống cao, nghi hoặc thì
do không nghi hoặc mà đi lên. Người sân nhuế, dua siểm, lừa gạt, vô tàm,
vô quý thì do tàm quý mà đi lên. Người mạn thì do không mạn mà đi lên,
Người tăng thượng mạn thì do không tăng thượng mạn mà đi lên. Người không
đa văn thì do đa văn mà đi lên. Người không quán các thiện pháp thì do
quán các thiện pháp mà đi lên. Người hành phi pháp, ác hạnh thì do hành
đúng pháp, diệu hạnh mà đi lên. Người nói láo, nói hai lưỡi, nói cộc cằn,
nói thêu dệt, ác giới thì do thiện giới mà đi lên. Người bất tín, giải
đãi, vô niệm, vô định, ác tuệ thì do thiện tuệ mà đi lên.
“Chu-na, nếu có
người tự mình không điều phục, người khác không điều phục, mà muốn có sựï
điều phục, sự kiện ấy không bao giờ có. Tự mình chìm, người khác chìm mà
muốn vớt lên, sự kiện ấy không bao giờ có. Tự mình không Bát-niết-bàn,
người khác không Bát-niết-bàn mà muốn dẫn đến nhập Niết-bàn, sự kiện ấy
không bao giờ có.
“Chu-na, nếu có
người tự mình điều phục được, người khác không điều phục được, mà muốn có
sự điều phục, sự kiện ấy có xảy ra. Tự mình không chìm, người khác bị chìm
mà muốn vớt lên, sự kiện ấy có xảy ra. Tự mình Bát-niết-bàn, người khác
không Bát-niết-bàn mà muốn đưa đến Niết-bàn, sự kiện ấy có xảy ra.
“Cũng như thế, này Chu-na, người ác dục thì do phi ác dục mà nhập
Niết-bàn. Người có hại ý sân thì do không có hại ý sân mà nhập Niết-bàn.
Người sát sanh, lấy của không cho, phi phạm hạnh thì do phạm hạnh mà nhập
Niết-bàn. Người tham lam, não hại, thùy miên, trạo cử, cống cao, nghi
hoặc, thì do không nghi hoặc mà nhập Niết-bàn. Người sân kết, dua nịnh, vô
tàm, vô quý, thì do tàm quý mà nhập Niết-bàn. Người tăng thượng mạn thì do
không tăng thượng mạn mà nhập Niết-bàn. Người không đa văn thì do đa văn
mà nhập Niết-bàn. Người không quán các thiện pháp thì do quán các thiện
pháp mà nhập Niết-bàn. Người hành phi pháp, ác hạnh thì do hành đúng pháp,
diệu hạnh mà nhập Niết-bàn. Người nói láo, nói hai lưỡi, nói cộc cằn, nói
thêu dệt, ác giới, thì do thiện giới mà nhập Niết-bàn. Người bất tín, giải
đãi, vô niệm, vô định, ác tuệ, thì do thiện tuệ mà nhập Niết-bàn.
“Chu-na, đó là Ta đã
nói cho ngươi nghe về pháp tiệm giảm, đã nói pháp phát tâm, đã nói pháp
đối trị, đã nói pháp thăng thượng, đã nói pháp nhập Niết-bàn. Như bậc Tôn
sư đối với đệ tử khởi tâm đại từ, thương xót, thương tưởng, mong cầu cho
đệ tử được phước lợi và thiện ích, mong cầu an ổn khoái lạc. Ta đã làm như
vậy. Các ngươi cũng nên tự mình làm. Hãy đến nơi rừng vắng, núi sâu, dưới
gốc cây, chỗ an tĩnh không nhàn, tĩnh tọa tư duy, đừng phóng dật, không
ngừng tinh tấn, chớ để ân hận mai sau. Đó là lời khuyến giáo, lời huấn thị
của Ta”.
Phật thuyết như vậy.
Tôn giả Đại Chu-na và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng
hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 8
87 |
88 |
89 |
90 |
91 |
92 |
93 |
94 |
95 |
96
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003