SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ
8
PHẨM UẾ
89. KINH TỲ-KHEO THỈNH[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một thời Đức Phật du
hóa tại thành Vương xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa cùng với chúng Đại
Tỳ-kheo an cư mùa mưa.
Bấy giờ, Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên
nói với các Tỳ-kheo:
“Này chư Hiền, nếu
có Tỳ-kheo thỉnh cầu
các Tỳ-kheo rằng: ‘Xin các ngài nói với tôi, chỉ giáo tôi, ha trách tôi,
xin đừng cật nạn tôi’. Vì sao vậy? Này chư Hiền, hoặc có một người hay có
lời nói cộc,
mang bản tánh nói cộc và do bản tánh nói cộc này mà các vị phạm hạnh không
nói tới, không chỉ giáo, không ha trách, trái lại cật nạn người ấy.
“Này chư Hiền, thế
nào là bản tánh nói cộc, mà nếu ai có bản tánh nói cộc, các vị phạm hạnh
không nói với, không chỉ giáo, không ha trách, trái lại cật nạn người ấy?
“Này chư Hiền, ở đây
có người có ác dục và nhớ nghĩ đến dục.
Này chư Hiền, nếu là người có ác dục và nhớ nghĩ đến dục thì đó là bản
tánh nói cộc. Cũng như thế, nhiễm và hành nhiễm,
cố ý phú tàng,
lường gạt dối trá, xan tham, tật đố, vô tàm, vô quý, sân tệ ác ý
,
nói lời phẫn nộ, ha trách Tỳ-kheo ha trách,
ha trách Tỳ-kheo khinh mạn,
ha trách Tỳ-kheo phát lồ, nói lãng ngoài đề để tránh né, che giấu và hờn
giận, thù ghét phừng phực, bằng hữu ác, đồng bọn ác, vong ân, không biết
ân. Chư Hiền nếu ai người vong ân, không biết ân, thì đó là người có bản
tánh cộc. Này chư Hiền, đó là những bản tánh khiến nói cộc. Nếu ai có bản
tánh nói cộc, các vị phạm hạnh không nói với, không chỉ giáo, không ha
trách, trái lại cật nạn người ấy.
“Này chư Hiền,
Tỳ-kheo hãy tự tư lương.
‘Chư Hiền, nếu ai có ác dục, niệm dục thì tôi không ưa thích người đó và
nếu tôi có ác dục, niệm dục thì người ấy cũng chẳng ưa thích tôi’. Tỳ-kheo
hãy quán sát như vậy, không hành ác dục, không niệm dục. Nên học như vậy.
“Cũng như thế, ai
nhiễm và hành nhiễm, cố ý phú tàng, lường gạt dối trá, xan tham, tật đố,
vô tàm, vô quý, sân tệ ác ý, nói lời phẫn nộ, ha trách Tỳ-kheo ha trách,
ha trách Tỳ-kheo khinh mạn, ha trách Tỳ-kheo phát lồ, nói lãng ngoài đề để
tránh né, che giấu và hờn giận, thù ghét phừng phực, bằng hữu ác, đồng bọn
ác, vong ân, không biết ân. ‘Chư Hiền, nếu ai vong ân, không biết ân thì
tôi không ưa thích người ấy, và nếu tôi vong ân, không biết ân thì người
ấy cũng chẳng ưa thích tôi’. Tỳ-kheo hãy quán sát như vậy, không hành sự
vong ân không biết ân. Nên học như vậy.
“Này chư Hiền, nếu
Tỳ-kheo không thỉnh cầu các Tỳ-kheo rằng: ‘Xin các ngài nói với tôi, chỉ
giáo tôi, ha trách tôi, đừng cật nạn tôi’. Vì sao vậy? Chư Hiền, hoặc có
một người dễ nói, đầy đủ bản tánh dễ nói,
và do đầy đủ bản tánh dễ nói nên các bậc phạm hạnh khéo nói với, khéo chỉ
giáo, khéo ha trách và không cật nạn người đó.
“Này chư Hiền, thế
nào là bản tánh dễ nói? Nếu có người đầy đủ bản tánh dễ nói thì các vị
phạm hạnh khéo nói với, khéo chỉ giáo, khéo ha trách và không cật nạn
người đó. Chư Hiền, hoặc có người không ác dục, không niệm dục, đó là bản
tánh dễ nói. Cũng như thế, không nhiễm và hành nhiễm, không cố ý phú tàng,
không lường gạt dối trá, không xan tham tật đố, không vô tàm vô quý, không
sân tệ ác ý, không nói lời phẫn nộ, không ha trách Tỳ-kheo ha trách, không
ha trách Tỳ-kheo khinh mạn, không ha trách Tỳ-kheo phát lồ, không nói lãng
ngoài đề để tránh né, không che giấu và hờn giận, không thù ghét phừng
phực, không bằng hữu ác đồng bọn ác, không vong ân không biết ân. Chư
Hiền, nếu ai không vong ân không biết ân, đó là có bản tánh dễ nói. Chư
Hiền, đó là những bản tánh khiến dễ nói. Nếu ai đầy đủ bản tánh dễ nói thì
các vị phạm hạnh khéo nói với, khéo chỉ giáo, khéo ha trách và không cật
nạn người đó.
“Này chư Hiền,
Tỳ-kheo nên tự tư lương. ‘Chư Hiền, ‘nếu có người không ác dục, không niệm
dục, thì tôi ưa thích người đó; và nếu tôi không ác dục, không niệm dục
thì người đó cũng ưa thích tôi’, Tỳ-kheo nên quán sát như vậy, không hành
ác dục, không niệm dục. Nên học như vậy. Cũng như thế, không nhiễm và hành
nhiễm, không cố ý phú tàng, không lường gạt dối trá, không xan tham tật
đố, không vô tàm vô quý, không sân tệ ác ý, không nói lời phẫn nộ, không
ha trách Tỳ-kheo ha trách, không ha trách Tỳ-kheo khinh mạn, không ha
trách Tỳ-kheo phát lồ, không nói lãng ngoài đề để tránh né, không che giấu
và hờn giận, không thù ghét phừng phực, không bằng hữu ác đồng bọn ác,
không vong ân không biết ân. ‘Chư Hiền, nếu có người không vong ân không
biết ân thì tôi thích người đó, và nếu tôi không vong ân không biết ân thì
người đó cũng ưa thích tôi’. Tỳ-kheo nên quán sát như vậy, không vong ân
không biết ân. Nên học như vậy.
“Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo quán sát như vầy:
‘Ta có ác dục, niệm dục hay không có ác dục, niệm dục?’ thì chắc chắn có
nhiều lợi ích.
“Này chư Hiền, nếu
khi Tỳ-kheo quán sát mà biết được ta có ác dục, niệm dục thì không thể vui
mừng. Do đó mong cầu đoạn trừ dục.
“Này chư Hiền, nếu
lúc Tỳ-kheo quán sát mà biết mình không có ác dục, niệm dục tức thì vui
mừng, rằng: ‘Ta tự thanh tịnh, cầu học pháp tôn quý’, cho nên vui mừng.
“Này chư Hiền, như
người có mắt, lấy gương tự soi thì thấy được mặt mình là sạch hay dơ. Chư
Hiền, nếu người có mắt thấy mặt mình bẩn thì không vui mừng và mong muốn
rửa sạch. Chư Hiền, nếu người có mắt thấy mặt mình không bẩn thì vui mừng
rằng: ‘Mặt ta sạch’, nên vui mừng. Chư Hiền, cũng như vậy, nếu khi Tỳ-kheo
quán sát mà biết được ta có ác dục, niệm dục thì không vui mừng và mong
cầu đoạn trừ dục. Chư Hiền, nếu lúc Tỳ-kheo quán sát mà biết được mình
không có ác dục, niệm dục thì vui mừng rằng ‘Ta tự thanh tịnh, cầu học
pháp tôn quý’ nên vui mừng. Cũng như thế, ta nhiễm và hành nhiễm hay không
nhiễm và hành nhiễm? Cố ý phú tàng hay không cố ý phú tàng? Lường gạt dối
trá hay không lường gạt dối trá? Xan tham tật đố hay không xan tham tật
đố? Vô tàm vô quý hay không vô tàm vô quý? Sân tệ ác ý hay không sân tệ ác
ý? Nói lời phẫn nộ hay không nói lời phẫn nộ? Ha trách Tỳ-kheo ha trách
hay không ha trách Tỳ-kheo ha trách? Ha trách Tỳ-kheo khinh mạn hay không
ha trách Tỳ-kheo khinh mạn? Ha trách Tỳ-kheo phát lồ hay không ha trách
Tỳ-kheo phát lồ? Nói lãng ngoài đề để tránh né hay không nói lãng ngoài đề
để tránh né? Che giấu và hờn giận hay không che giấu và hờn giận? Thù ghét
phừng phực hay không thù ghét phừng phực? Bằng hữu ác và đồng bọn ác hay
không bằng hữu ác và đồng bọn ác? Vong ân không biết ân hay không vong ân
không biết ân? Chư Hiền, nếu khi Tỳ-kheo quán sát mà biết được ‘ta có vong
ân không biết ân’ thì không vui mừng và mong muốn đoạn trừ. Chư Hiền, nếu
lúc Tỳ-kheo quán sát mà biết được mình không có vong ân không biết ân thì
được vui mừng rằng ‘Ta tự thanh tịnh, cầu học pháp tôn quý’, cho nên vui
mừng.
“Này chư Hiền, như
người có mắt, lấy gương tự soi thì thấy được mặt mình là sạch hay dơ. Chư
Hiền, nếu người có mắt thấy mặt mình bẩn thì không vui mừng và mong muốn
rửa sạch. Chư Hiền, nếu người có mắt thấy mặt mình không bẩn thì được vui
mừng rằng ‘Mặt ta sạch sẽ’, cho nên vui mừng. Chư Hiền, cũng vậy, nếu khi
Tỳ-kheo mà biết được ta có vong ân không biết ân, thì không vui mừng và
mong muốn đoạn trừ. Chư Hiền, nếu khi Tỳ-kheo quán sát mà biết được mình
không có vong ân không biết ân thì được vui mừng rằng ‘Ta tự thanh tịnh,
cầu học tôn pháp’, cho nên vui mừng. Do vui mừng cho nên có hỷ, nhân hỷ
nên thân khinh an, do thân khinh an
nên được cảm thọ lạc, do cảm thọ lạc nên được định tâm.
“Này chư Hiền, Đa
văn Thánh đệ tử do định tâm nên thấy như thật, biết như thật; do thấy như
thật, biết như thật nên được yểm ly, do yểm ly nên được vô dục, do vô dục
nên được giải thoát, do giải thoát mà được tri giải thoát, biết một cách
như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều đáng làm đã làm
xong, không còn tái sanh’.”
Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên nói như vậy, các thầy Tỳ-kheo nghe Tôn giả Đại Mục-kiền-liên
nói xong, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 8
87 |
88 |
89 |
90 |
91 |
92 |
93 |
94 |
95 |
96
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003