SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ
8
PHẨM UẾ
88. KINH CẦU PHÁP[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa nước Câu-tát-la
cùng đại chúng Tỳ-kheo, qua đến phía Bắc làng Ngũ sa-la,
trong rừng Thi-nhiếp-hòa với hàng đại đệ tử Trưởng lão, Thượng tôn, danh
đức, như các ngài: Tôn giả Xá-lê Tử, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả
Ca-diếp, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả A-na-luật, Tôn giả Lệ-việt,
Tôn giả A-nan và các đại đệ tử Trưởng lão Thượng tôn danh đức khác ngang
hàng như vậy cũng có mặt tại làng Ngũ sa-la. Tất cả đều ở gần bên cạnh
ngôi nhà lá của Phật.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
bảo các thầy Tỳ-kheo:
“Các ngươi nên thực
hành sự cầu pháp,
đừng thực hành sự cầu ẩm thực. Vì sao? Vì Ta thương tưởng các đệ tử, muốn
các đệ tử nên thực hành sự cầu pháp, chứ không thực hành sự cầu ẩm thực.
Nếu các ngươi thực hành cầu ẩm thực, không thực hành sự cầu pháp, không
những các ngươi tự xấu xa, mà Ta cũng không được danh dự gì. Nếu các thầy
thực hành sự cầu pháp, chứ không thực hành sự cầu ẩm thực, không những các
thầy đã tự tốt đẹp mà Ta cũng được danh dự.
“Thế nào là các đệ
tử vì cầu ẩm thực mà theo Phật tu hành, chứ không phải vì cầu pháp? Sau
khi Ta ăn no, bữa ăn đã xong, còn lại đồ ăn dư; sau đó có hai Tỳ-kheo đến,
đói khát, sức lực hao mòn, Ta nói với họ rằng: ‘Sau khi Ta ăn no, bữa ăn
đã xong, còn lại đồ ăn dư, các ngươi muốn ăn thì lấy mà ăn. Nếu các ngươi
không lấy thì Ta sẽ mang đổ nơi đất sạch, hoặc đổ trong nước không có
trùng’.
“Trong hai người ấy,
Tỳ-kheo thứ nhất suy nghĩ như vầy, ‘Đức Thế Tôn ăn rồi, bữa ăn đã xong,
còn lại đồ ăn dư, nếu ta không lấy tất nhiên Đức Thế Tôn sẽ mang đổ nơi
đất sạch, hoặc trong nước không có trùng. Vậy ta hãy lấy mà ăn’. Tỳ-kheo
ấy liền lấy mà ăn. Tuy được một ngày một đêm an ổn khoái lạc, nhưng vì
Tỳ-kheo ấy nhận lấy đồ ăn dư đó nên không vừa ý Phật.
Vì sao? Vì Tỳ-kheo đó nhận lấy đồ ăn đó nên không thể thiểu dục, không thể
tri túc, không thể dễ nuôi, không thể dễ thỏa mãn, không thể biết thời,
không thể biết tiết độ, không thể tinh tấn, không thể tĩnh tọa, không thể
có tịnh hạnh, không thể sống viễn ly, không được nhất tâm, không được tinh
cần, cũng không thể chứng đắc Niết-bàn. Vì vậy, do bởùi Tỳ-kheo nhận lấy
đồ ăn dư mà không vừa ý Phật. Như thế, gọi là các đệ tử vì cầu ẩm thực mà
theo Phật tu hành, chứ không phải vì cầu pháp.
“Thế nào là các đệ tử thực hành sự cầu pháp, chứ không thực hành cầu ẩm
thực? Trong hai người ấy, Tỳ-kheo thứ hai suy nghĩ như vầy, ‘Đức Thế Tôn
ăn rồi, bữa ăn đã xong, còn lại đồ ăn dư. Nếu ta không lấy thì tất nhiên
Đức Thế Tôn sẽ mang đổ nơi đất sạch, hoặc trong nước không có trùng. Nhưng
Đức Thế Tôn có dạy rằng: ‘Điều thấp kém nhất trong việc ăn uống là ăn đồ
ăn dư.’
Vậy ta không nên nhận lấy đồ ăn đó’. Nghĩ như thế rồi, Tỳ-kheo ấy không nhận lấy đồ ăn.
Tỳ-kheo kia không nhận lấy đồ ăn đó, tuy suốt một ngày một đêm khổ sở,
không được an ổn, nhưng nhân vì Tỳ-kheo ấy không nhận lấy đồ ăn đó nên
được vừa lòng Phật. Vì sao? Tỳ-kheo ấy do bởi không nhận lấy đồ ăn dư nên
được sự thiểu dục, được sự tri túc, được sự sống dễ nuôi, dễ thỏa mãn,
biết thời, có tiết độ, có tinh tấn, có thể tĩnh tọa, có tịnh hạnh, có thể
sống viễn ly, được nhất tâm, được tinh cần và cũng có thể chứng đắc
Niết-bàn. Cho nên, do bởi Tỳ-kheo ấy không nhận lấy đồ ăn này mà được vừa
lòng Phật. Như thế, gọi là các đệ tử vì cầu pháp mà theo Phật tu hành, chứ
không phải vì cầu ẩm thực”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
nói với các đệ tử:
“Nếu một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn ly, mà đệ tử hàng trưởng
thượng của vị ấy không thích đời sống viễn ly, thì pháp luật đó không có
ích gì cho mọi người, không mang lại an lạc cho mọi người, không phải là
vì thương xót thế gian, cũng không phải là mong sự thiện lợi, mong cầu an
ổn khoái lạc cho loài trời, loài người.
“Nếu một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn ly, mà đệ tử bậc trung và
bậc hạ của vị ấy không thích đời sống viễn ly, thì pháp luật đó không ích
gì cho mọi người, không mang lại an lạc cho mọi người, không phải là vì
thương xót thế gian, cũng không phải là mong cầu sự thiện lợi và hữu ích,
mong cầu an ổn khoái lạc cho loài trời, loài người.
“Nếu một Tôn sư có
pháp luật, thích an trú viễn ly, mà đệ tử hàng trưởng thượng của vị ấy
cũng thích đời sống viễn ly, thì pháp luật đó có ích cho mọi người, mang
lại an lạc cho mọi người, là vì thương xót thế gian, mong cầu sự thiện lợi
và hữu ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho loài trời và loài người.
“Nếu một Tôn sư có
pháp luật, thích an trú viễn ly, đệ tử bậc trung và bậc hạ của vị ấy cũng
thích đời sống viễn ly, thì pháp luật đó có ích cho mọi người, mang lại an
lạc cho mọi người, là bậc thương xót thế gian, mong cầu sự thiện lợi và
hữu ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho trời, người”.
Bấy giờ Tôn giả
Xá-lê Tử cũng hiện diện trong chúng. Đức Thế Tôn bảo Tôn giả rằng:
“Xá-lê Tử, thầy hãy
nói pháp như pháp cho các Tỳ-kheo nghe. Ta bị đau lưng, nay Ta muốn nghỉ
một lát”.
Tôn giả Xá-lê Tử
liền vâng lãnh lời Phật:
“Kính vâng, bạch Thế
Tôn”.
Rồi Đức Thế Tôn gấp
tư y Ưu-đa-la-tăng trải trên giường, cuộn y Tăng-già-lê làm gối, nằm
nghiêng hông bên phải, hai chân chồng lên nhau, khởi quang minh tưởng,
chánh niệm, chánh trí và chuyên niệm về dục khởi tưởng.
Bấy giờ Tôn giả
Xá-lê Tử nói với các Tỳ-kheo:
“Này chư Hiền, nên
biết, Đức Thế Tôn vừa nói pháp sơ lược rằng: ‘Nếu một Tôn sư có pháp luật,
thích an trú viễn ly mà đệ tử hàng trưởng thượng của vị ấy không thích đời
sống viễn ly, thì pháp luật đó không có ích gì cho mọi người, không mang
lại an ạc cho mọi người, không phải là vì thương xót thế gian, không phải
là mong cầu thiện lợi và hữu ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho loài trời,
loài người. Nếu một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn ly mà đệ tử bậc
trung và hạ của vị ấy không thích đời sống viễn ly, thì pháp luật đó không
có ích gì cho mọi người, không mang lại an lạc cho mọi người, không phải
là vì thương xót thế gian, cũng không phải là mong cầu sự thiện lợi và hữu
ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho loài trời, loài người. Nếu một Tôn sư có
pháp luật, thích an trú viễn ly và đệ tử hàng trưởng thượng của vị ấy cũng
thích đời sống viễn ly, thì pháp luật đó có ích cho mọi người, mang lại an
lạc cho mọi người, là vì thương xót thế gian, mong cầu sự thiện lợi và hữu
ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho loài trời, loài người. Nếu một Tôn sư có
pháp luật, thích an trú viễn ly, đệ tử bậc trung và bậc hạ của vị ấy cũng
thích đời sống viễn ly, thì pháp luật đó có ích cho mọi người, mang lại sự
an lạc cho mọi người, là vì thương xót thế gian, mong cầu sự thiện lợi và
hữu ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho loài trời, loài người’.
“Nhưng Đức Thế Tôn
nói pháp này hết sức sơ lược, các thầy thấu hiểu nghĩa đó như thế nào và
phân biệt rộng rãi như thế nào?”
Bấy giờ trong chúng,
hoặc có Tỳ-kheo nói như thế này:
“Bạch Tôn giả Xá-lê
Tử, nếu các Trưởng lão Thượng tôn tuyên bố rằng ‘Ta đã chứng đắc cứu cánh
trí, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều
cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’, thì các vị phạm hạnh khi
nghe vị Tỳ-kheo tự tuyên bố ‘Ta đã chứng đắc cứu cánh trí’, bèn được hoan
hỷ”.
Lại có Tỳ-kheo nói
như thế này:
“Bạch Tôn giả Xá-lê
Tử, nếu có đệ tử bậc trung, bậc hạ có ước nguyện vô thượng Niết-bàn, các
người phạm hạnh thấy vị Tỳ-kheo kia đã thực hành theo, nên được hoan hỷ.”
Như vậy, các Tỳ-kheo
ấy giải thích ý nghĩa đó như vậy mà không hài lòng Tôn giả Xá-lê Tử.
Tôn giả Xá-lê Tử nói
với các thầy Tỳ-kheo ấy rằng:
“Này chư Hiền, hãy
lắng nghe, tôi sẽ giải thích cho các thầy.
“Này chư Hiền, nếu
một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn ly, mà hàng đệ tử trưởng thượng
của vị ấy không thích đời sống viễn ly, thì người đệ tử hàng trưởng thượng
ấy có ba điều đáng chê.
“Những gì là ba? Tôn
sư thích an trú viễn ly mà đệ tử hàng trưởng thượng không học theo hạnh
viễn ly. Vị đệ tử ấy vì vậy mà đáng chê. Nếu Tôn sư dạy những pháp phải
đoạn trừ mà đệ tử trưởng thượng không đoạn trừ pháp ấy. Vị đệ tử này vì
vậy mà đáng chê. Với những điều có thể thủ chứng mà đệ tử trưởng thượng
lại từ bỏ phương tiện.
Vị đệ tử này vì vậy mà đáng chê. Nếu bậc Tôn sư có pháp luật, thích an trú
viễn ly mà đệ tử trưởng thượng của vị ấy không thích đời sống viễn ly thì
người đệ tử ấy có ba điều đáng chê trách này.
“Này chư Hiền, nếu
Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn ly mà đệ tử bậc trung và hạ không
thích đời sống viễn ly, thì đệ tử trung và hạ ấy có ba điều đáng chê.
“Những gì là ba? Tôn
sư thích an trú viễn ly, đệ tử trung và hạ không học theo hạnh viễn ly,
những đệ tử này vì vậy mà đáng chê. Nếu Tôn sư dạy những pháp phải đoạn
trừ mà đệ tử trung và hạ không đoạn trừ những pháp ấy, những đệ tử này vì
vậy mà đáng chê. Với những điều có thể thủ chứng, mà đệ tử trung và hạ lại
từ bỏ phương tiện, những đệ tử này vì vậy mà đáng chê. Nếu Tôn sư có pháp
luật, thích an trú viễn ly, mà đệ tử trung và hạ không thích đời sống viễn
ly, thì những đệ tử ấy có ba điều đáng chê này.
“Này chư Hiền, nếu
Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn ly và đệ tử trưởng thượng của vị ấy
cũng thích đời sống viễn ly, thì đệ tử trưởng thượng này có ba điều đáng
tán thưởng.
“Những gì là ba? Tôn
sư thích an trú viễn ly, đệ tử trưởng thượng cũng học theo hạnh viễn ly.
Vị đệ tử này vì vậy đáng được tán thưởng. Nếu Tôn sư dạy những pháp phải
đoạn trừ và đệ tử trưởng thượng đoạn trừ những pháp ấy. Vị đệ tử trưởng
thượng này vì vậy đáng tán thưởng. Với những điều có thể thủ chứng thì đệ
tử trưởng thượng tinh tấn cầu học, không bỏ phương tiện. Vị đệ tử này vì
vậy đáng được tán thưởng. Nếu bậc Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn
ly và đệ tử trưởng thượng cũng thích đời sống viễn ly thì những đệ tử ấy
có ba điều đáng tán thưởng này.
“Này chư Hiền, nếu
Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn ly, đệ tử trung và hạ cũng thích
đời sống viễn ly, thì những đệ tử ấy có ba điều đáng tán thưởng.
“Những gì là ba? Tôn
sư thích an trú viễn ly, đệ tử trung và hạ cũng thích đời sống viễn ly.
Những đệ tử này vì vậy đáng được tán thưởng. Nếu Tôn sư dạy những pháp
phải đoạn trừ thì đệ tử trung và hạ đoạn trừ những pháp ấy. Những đệ tử
này vì vậy đáng được tán thưởng. Với những điều có thể thủ chứng thì đệ tử
trung và hạ tinh tấn, cầu học, không bỏ phương tiện. Những đệ tử này vì
vậy đáng được tán thưởng. Nếu bậc Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn
ly và đệ tử trung và hạ cũng thích đời sống viễn ly thì những đệ tử ấy có
ba điều đáng tán thưởng này”.
Tôn giả Xá-lê Tử lại
nói với các Tỳ-kheo:
“Này chư Hiền, có
con đường giữa, nhờ đó có thể được tâm trú, được định, được an lạc, thuận
pháp, thứ pháp, được trí thông, được giác ngộ và cũng chứng đắc Niết-bàn.
“Này chư Hiền, thế
nào là có một con đường giữa, có thể được tâm trú, được định, được an lạc,
thuận pháp, thứ pháp, được trí thông, được giác ngộ và chứng đắc Niết-bàn?
“Này chư Hiền, niệm
tham dục là ác pháp, ghét bỏ niệm tham dục cũng là ác pháp.
Người ấy đoạn trừ niệm tham dục và cũng đoạn trừ sự ghét bỏ niệm tham dục.
Cũng vậy, sân nhuế, oán kết, bỏn sẻn, ganh tị, dối trá, vô tàm, vô quý,
mạn, tối thượng mạn, cống cao, phóng dật, hào quý, tăng tránh.
“Này chư Hiền, tham
cũng là pháp ác mà đắm trước cũng là pháp ác. Người ấy đoạn trừ tham và
cũng đoạn trừ đắm trước.
“Này chư Hiền, đó là
có một con đường giữa, có thể được tâm trú, được định, được an lạc, thuận
pháp, thứ pháp, được trí thông, được giác ngộ và cũng chứng đắc Niết-bàn.
“Này chư Hiền, lại
có một con đường giữa khác có thể được tâm trú, được định, được an lạc,
thuận pháp, thứ pháp, được trí thông, được giác ngộ và cũng chứng đắc
Niết-bàn. Chư Hiền, thế nào là có một con đường giữa khác có thể được tâm
trú, được định, được an lạc, thuận pháp, thứ pháp, được trí thông, được
giác ngộ và cũng chứng đắc Niết-bàn? Chư Hiền, đó là Thánh đạo tám chi, từ
chánh kiến đến chánh định, ấy là tám. Chư Hiền, đó là một con đường giữa
khác có thể được tâm trú, được định, được an lạc, thuận pháp, thứ pháp,
được trí thông, được giác ngộ và chứng đắc Niết-bàn”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
đã qua cơn đau và được an ổn, từ chỗ nằm trở dậy, ngồi kiết già, Ngài tán
thán Tôn giả Xá-lê Tử:
“Lành thay! Lành
thay! Xá-lê Tử nói pháp như pháp cho các Tỳ-kheo nghe. Xá-lê Tử, từ nay về
sau, thầy hãy nói pháp như pháp cho các Tỳ-kheo nghe nữa. Xá-lê Tử, thầy
nên luôn luôn nói pháp như pháp
cho các Tỳ-kheo nghe”.
Rồi Đức Thế Tôn nói
với các Tỳ-kheo:
“Các ngươi phải cùng
nhau vâng lãnh pháp như pháp, hãy tụng tập, chấp trì. Vì sao? Vì pháp như
pháp này có pháp, có nghĩa, là căn bản phạm hạnh, được trí thông, được
giác ngộ và cũng chứng đắc Niết-bàn. Các thiện nam tử cạo bỏ râu tóc, mặc
áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình sống không gia đình, xuất gia học đạo
thì phải khéo léo thọ trì pháp như pháp này”.
Phật thuyết như vậy.
Tôn giả Xá-lê Tử và các Tỳ-kheo nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 8
87 |
88 |
89 |
90 |
91 |
92 |
93 |
94 |
95 |
96
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003