SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 7
PHẨM TRƯỜNG THỌ
VƯƠNG
86. KINH THUYẾT XỨ[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một thời Đức Phật
đến nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ Tôn giả
A-nan vào lúc xế, từ chỗ ngồi tĩnh tọa đứng dậy, dẫn các Tỳ-kheo niên
thiếu đi đến chỗ Phật, cúi lạy dưới chân Phật rồi ngồi qua một bên. Các
Tỳ-kheo niên thiếu cũng cúi lạy chân Phật, rồi ngồi qua một bên.
Tôn giả A-nan bạch
rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn,
với các Tỳ-kheo niên thiếu này, con phải quở trách như thế nào? Dạy dỗ như
thế nào? Thuyết pháp cho họ nghe như thế nào?
Đức Thế Tôn bảo
rằng:
“Này A-nan, ông hãy
nói về xứ
và dạy về xứ cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu ông nói về xứ và dạy về xứ
cho các Tỳ-kheo niên thiếu, họ sẽ được an ổn, được sức lực, được an lạc,
thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh”.
Tôn giả A-nan chắp
tay hướng về Phật, bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, nay
thật là đúng thời. Bạch Thiện Thệ, nay thật là đúng thời. Nếu Thế Tôn nói
về xứ và dạy về xứ cho các Tỳ-kheo niên thiếu, con và các Tỳ-kheo niên
thiếu sau khi nghe Thế Tôn nói sẽ khéo léo thọ trì”.
Đức Thế Tôn bảo rằng
“A-nan, các ông hãy
lắng nghe, hãy khéo tư niệm. Ta sẽ phân biệt rộng rãi cho ông và các
Tỳ-kheo niên thiếu nghe”.
Tôn giả A-nan thọ
giáo, lắng nghe.
Đức Thế Tôn bảo
rằng:
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về năm thủ uẩn:
sắc thủ uẩn, thọ, tưởng, hành và thức thủ uẩn. Này A-nan, năm thủ uẩn này,
ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy cho các
Tỳ-kheo niên thiếu về năm thủ uẩn này, họ sẽ được an ổn, được sức lực,
được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về sáu nội xứ: nhãn xứ, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ.
A-nan, sáu nội xứ này ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu
nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu về sáu nội xứ này, họ sẽ được an ổn,
được sức lực, được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành
phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta đã nói cho ông nghe về sáu ngoại xứ: sắc xứ, thanh,
hương, vị, xúc, pháp xứ. A-nan, sáu ngoại xứ này ông hãy nói để dạy cho
các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu về sáu
ngoại xứ này, họ sẽ được an ổn, được sức lực, được hoan lạc, thân tâm
không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về sáu thức thân:
nhãn thức, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức. A-nan, sáu thức thân này, ông hãy
nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên
thiếu về sáu thức thân này, họ sẽ được an ổn, được sức lực, được an lạc,
thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về sáu xúc thân:
nhãn xúc, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc. A-nan, sáu xúc thân này, ông hãy
nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên
thiếu về sáu xúc thân này, họ sẽ được an ổn, được sức lực, được hoan lạc,
thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về sáu thọ thân:
nhãn thọ, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thọ. A-nan, sáu thọ thân này, ông hãy
nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên
thiếu về sáu thọ thân này, họ sẽ được an ổn, được sức lực, được an lạc,
thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta đã nói cho ông nghe về sáu tưởng thân:
nhãn tưởng, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý tưởng. A-nan, sáu tưởng thân này, ông
hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy cho các Tỳ-kheo
niên thiếu về sáu tưởng thân này, họ sẽ được an ổn, được sức lực, được an
lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về sáu tư thân:
nhãn tư, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý tư. A-nan, sáu tư thân này, ông hãy nói
để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên
thiếu về sáu tư thân này, họ sẽ được an ổn, được sức lực, được an lạc,
thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về sáu ái thân:
nhãn ái, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý ái. Này A-nan, sáu ái thân này, ông hãy
nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên
thiếu về sáu ái thân này, họ sẽ được an ổn, được sức lực, được hoan lạc,
thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về sáu giới: địa giới, thủy, hỏa, phong, không, thức
giới. A-nan, sáu giới này, ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu.
Nếu nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu về sáu giới này, họ sẽ được an
ổn, được sức lực, được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu
hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về nhân duyên khởi và nhân duyên khởi sở sanh pháp:
‘Nếu có cái này thì có cái kia, nếu không có cái này thì không có cái kia.
Nếu sanh cái này thì sanh cái kia, nếu diệt cái này thì diệt cái kia.
Duyên vô minh, hành. Duyên hành, thức. Duyên thức, danh sắc. Duyên danh
sắc, sáu xứ. Duyên sáu xứ, xúc. Duyên xúc, thọ. Duyên thọ, ái. Duyên ái,
thủ. Duyên thủ, hữu. Duyên hữu, sanh. Duyên sanh, già chết. Nếu vô minh
diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt,
danh sắc diệt thì sáu xứ diệt, sáu xứ diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ
diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt,
hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì già chết diệt. A-nan, nhân duyên
khởi và nhân duyên khởi sở sanh pháp này, ông hãy nói để dạy cho các
Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu về nhân
duyên khởi và nhân duyên khởi sở sanh pháp này, họ sẽ được an ổn, được sức
lực, được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về bốn niệm xứ, quán thân như thân, quán thọ, quán
tâm, quán pháp như pháp. A-nan, bốn niệm xứ này ông hãy nói để dạy cho các
Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu về bốn niệm
xứ này, họ sẽ được an ổn, được sức lực, được an lạc, thân tâm không phiền
nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về bốn chánh đoạn,
Tỳ-kheo đối với pháp ác bất thiện đã sanh, vì để đoạn trừ chúng nên khởi
ước muốn, nỗ lực hành, tinh cần, dốc hết tâm, đoạn trừ.
Đối với các pháp ác bất thiện chưa sanh, vì để chúng không phát sanh nên
khởi ước muốn, nỗ lực hành, tinh cần, dốc hết tâm, đoạn trừ. Đối với các
pháp thiện chưa sanh, vì để cho phát sanh nên khởi ước muốn, nỗ lực hành,
tinh cần, dốc hết tâm, đoạn trừ. Đối với các pháp thiện đã sanh, vì để
chúng kiên trụ, không bị quên lãng, không bị thoái hóa, được bồi bổ tăng
tiến, được phát triển rộng rãi, được viên mãn cụ túc, nên khởi ước muốn,
nỗ lực hành, tinh cần, dốc hết tâm, đoạn trừ. A-nan, bốn chánh đoạn này,
ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy cho các
Tỳ-kheo niên thiếu về bốn chánh đoạn này, họ sẽ được an ổn, được sức lực,
được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về bốn như ý túc,
Tỳ-kheo thành tựu dục định, thiêu đốt các hành,
tu tập như ý túc,
nương vào vô dục, nương vào viễn ly, nương vào diệt, nguyện
đến phi phẩm.
Tinh tấn định, tâm định cũng như vậy. Thành tựu quán định, thiêu đốt các
hành, tu tập như ý túc, nương vào dô vục, nương vào viễn ly, nương vào
diệt, nguyện đến phi phẩm. Này A-nan, bốn như ý túc này, ông hãy nói để
dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy cho các
Tỳ-kheo niên thiếu về bốn như ý túc này, họ sẽ được an ổn, được sức lực,
được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về Tứ thiền, Tỳ-kheo ly dục, ly ác bất thiện cho đến
được đệ Tứ thiền, thành tựu an trụ. Này A-nan, Tứ thiền này, ông hãy nói
để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên
thiếu về Tứ thiền này, họ sẽ được an ổn, được sức lực, được hoan lạc, thân
tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta đã nói cho ông nghe vềà bốn Thánh đế, Khổ thánh đế,
Tập, Diệt và Đạo thánh đế. A-nan, bốn Thánh đế này, ông hãy nói để dạy cho
các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu về bốn
thánh đế này, họ sẽ được an ổn, được sức lực, được an lạc, thân tâm không
phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta đã nói cho ông nghe về bốn tưởng, Tỳ-kheo có tiểu
tưởng, có đại tưởng, có vô lượng tưởng, có vô sở hữu tưởng.
A-nan, bốn tưởng này, ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu
nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu về bốn tưởng này, họ sẽ được an ổn,
được sức lực, được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành
phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về bốn vô lượng, Tỳ-kheo tâm đi đôi với Từ biến mãn
một phương, thành tựu an trụ. Cứ như thế, hai phương, ba phương, bốn
phương, tứ duy, trên dưới biến khắp tất cả, tâm đi đôi với Từ, không kết,
không oán, không sân nhuế, không tranh, vô cùng rộng lớn, vô lượng, khéo
tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu an trụ. Bi và Hỷ cũng vậy. Tâm
đi đôi với Xả, không kết, không oán, không sân nhuế, không tranh, vô cùng
rộng lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu an
trụ. A-nan, bốùn vô lượng này, ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên
thiếu. Nếu nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu về bốn vô lượng này, họ
sẽ được an ổn, được sức lực, được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn
đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về bốn vô sắc, Tỳ-kheo đoạn trừ tất cả sắc tưởng, cho
đến chứng đắc phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, thành tựu an trụ. A-nan, bốn
vô sắc này, ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy
cho các Tỳ-kheo niên thiếu về bốn vô sắc này, họ sẽ được an ổn, được sức
lực, được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về bốn Thánh chủng, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nhận được cái
y thô xấu mà biết hài lòng, tri túc, không phải vì y áo mà mong thỏa mãn ý
mình. Nếu chưa được y thì không u uất, không khóc than, không đấm ngực,
không si dại. Nếu đã được y áo thì không nhiễm, không trước, không ham
muốn, không tham lam, không cất giấu, không tích trữ. Khi dùng y thì thấy
rõ tai hoạn và biết sự xuất ly. Được sự lợi như vậy vẫn không giải đãi mà
có chánh trí. Đó là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni chân chánh an trụ nơi Thánh chúng
cựu truyền.
Về ẩm thực và trụ xứ cũng như vậy. Mong muốn đoạn trừ, vui thích đoạn trừ,
mong muốn tu, vui thích tu. Vị ấy nhân muốn đoạn, vui đoạn, muốn tu, vui
tu nên không quý mình, không khinh người. Sự lợi như vậy, không giải đãi
nhưng chánh trí. Đó gọi là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni chân chánh an trụ nơi Thánh
chúng cựu truyền.
“A-nan, bốn Thánh
chủng này, ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy
cho các Tỳ-kheo niên thiếu về bốn Thánh chúng này, họ sẽ được an ổn, được
sức lực, được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm
hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về bốn quả Sa-môn, Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm,
tối thượng A-la-hán quả. A-nan, bốn quả Sa-môn này, ông hãy nói để dạy cho
các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu về bốn
quả Sa-môn này, họ sẽ được an ổn, được sức lực, được an lạc, thân tâm
không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về năm thục giải thoát tưởng:
tưởng về vô thường, tưởng vì vô thường cho nên khổ, tưởng khổ cho nên vô
ngã, tưởng bất tịnh ố lộ,
tưởng hết thảy thế gian không có gì đáng ái lạc.
A-nan, năm thục giải thoát này, ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên
thiếu. Nếu nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu về năm thục giải thoát
tưởng này, họ sẽ được an ổn, được sức lực, được an lạc, thân tâm không
phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về năm giải thoát xứ. Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni chưa
giải thoát thì nhờ ở đây mà tâm được giải thoát.
Nếu chưa tận trừ các lậu thì sẽ được tận trừ hoàn toàn. Nếu chưa chứng đắc
vô thượng Niết-bàn thì sẽ chứng đắc vô thượng Niết-bàn. Thế nào là năm?
A-nan, Thế Tôn thuyết pháp cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nghe, các bậc trí phạm
hạnh cũng thuyết pháp cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nghe. A-nan, nếu Thế Tôn
thuyết pháp cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nghe, các bậc trí phạm hạnh cũng
thuyết pháp cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nghe; họ nghe pháp rồi thấu hiểu pháp,
thấu hiểu nghĩa, và do sự thấu hiểu pháp, thấu hiểu nghĩa đó nên được hoan
duyệt, nhân hoan duyệt mà được hoan hỷ. Nhân hoan hỷ mà được thân khinh an.
Do thân khinh an nên được cảm thọ lạc. Do cảm thọ lạc nên được tâm định.
A-nan, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nhân tâm định nên được thấy như thật, biết như
thật. Do thấy như thật, biết như thật nên phát sanh sự nhàm tởm. Do nhàm
tởm nên được vô dục. Do vô dục nên được giải thoát. Do giải thoát mà biết
là mình giải thoát, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh
đã lập, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh đời sau nữa’. A-nan,
đó là giải thoát xứ thứ nhất. Nhân đó mà nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni chưa được
giải thoát, chưa tận trừ các lậu thì được tận trừ hoàn toàn, chưa chứng
đắc vô thượng Niết-bàn thì chứng đắc vô thượng Niết-bàn. Lại nữa, này
A-nan, nếu trong trường hợp Thế Tôn không có thuyết pháp cho Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo-ni nghe, các bậc trí phạm hạnh cũng không thuyết pháp cho Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo-ni nghe, nhưng họ theo những điều đã nghe, đã tụng tập và đọc tụng
rộng rãi. Nếu không đọc tụng rộng rãi những điều đã nghe, đã tụng đọc
nhưng họ chỉ tùy theo điều đã nghe, đã tụng tập, nói lại rộng rãi cho
người khác nghe. Nếu không nói rộng rãi cho người khác nghe những điều đã
nghe, đã tụng tập, nhưng họ chỉ tùy theo điều đã nghe, đã tụng tập mà tư
duy, phân biệt. Nếu không tư duy phân biệt những điều đã nghe, đã tụng
tập, nhưng họ chỉ thọ trì các tướng tam-muội. A-nan, nếu Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo-ni khéo thọ trì các tướng tam muội thì thấu hiểu pháp, thấu hiểu
nghĩa. Do thấu hiểu pháp, thấu hiểu nghĩa nên được hoan duyệt. Do hoan
duyệt nên hoan hỷ. Do hoan hỷ nên được thân khinh an. Do thân khinh an nên
được cảm thọ lạc. Do cảm thọ lạc nên được tâm định. A-nan, Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo-ni nhân tâm định nên được thấy như thật, biết như thật. Do thấy
như thật, biết như thật nên phát sanh nhàm tởm. Do nhàm tởm nên được vô
dục. Do vô dục nên được giải thoát. Do giải thoát mà biết là mình đã giải
thoát, biết một cách như thật rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững,
điều đáng làm đã làm xong, không còn tái sanh đời sau nữa’. Này A-nan, đó
là giải thoát xứ thứ năm, nhân đó mà nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni chưa được
giải thoát thì được tâm giải thoát, chưa dứt sạch các lậu thì được dứt
sạch trọn vẹn, chưa chứng đắc vô thượng Niết-bàn thì chứng đắc vô thượng
Niết-bàn. A-nan, năm giải thoát xứ này ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo
niên thiếu. Nếu nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu về năm giải thoát xứ
này, họ sẽ được an ổn, được sức lực, được an lạc, thân tâm không phiền
nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về năm căn, tín, tinh tấn, niệm, định và tuệ căn.
A-nan, năm căn này, ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói
và dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu về năm căn này, họ sẽ được an ổn, được
sức lực, được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm
hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về năm lực, tín, tinh tấn, niệm, định, tuệ lực. A-nan,
năm lực này, ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy
cho các Tỳ-kheo niên thiếu về năm lực này, họ sẽ được an ổn, được sức lực,
được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về năm xuất yếu giới.
Những gì là năm? A-nan, Đa văn Thánh đệ tử quán sát dục một cách cực kỳ
mãnh liệt. Vị ấy do cực kỳ mãnh liệt quán sát dục nên tâm không hướng theo
dục, không vui say dục, không gần gũi với dục, không quyết tâm
nơi dục. Khi tâm dục vừa sanh, tức thì bị cháy tiêu, khô héo, co rút lại,
bị cuốn tròn lại chứ không được mở rộng ra, bị vứt bỏ đi, không trụ nơi
dục, chán ghét, nhàm tởm. A-nan, giống như lông và gân của con gà bị đem
quăng vào trong lửa, tức khắc cháy tiêu, khô héo, co rút lại, bị cuốn tròn
lại chứ không được mở rộng ra. A-nan, Đa văn Thánh đệ tử cũng vậy, cực kỳ
mãnh liệt quán sát dục. Vị ấy do cực kỳ mãnh liệt quán sát dục nên tâm
không hướng theo dục, không vui say trong dục, không gần gũi với dục,
không quyết tâm nơi dục. Khi tâm dục vừa sanh, tức thì bị cháy tiêu, khô
héo, co rút lại, bị cuốn tròn lại chứ không được mở rộng ra. Vị ấy vứt bỏ,
không trụ nơi dục, chán ghét, nhàm tởm, chế ngự dục. Vị ấy quán sát vô
dục, tâm hướng về vô dục, vui say vô dục, gần gũi vô dục, quyết tâm nơi vô
dục, tâm không bị chướng ngại, không ô trược, tâm được an lạc, rất an lạc,
viễn ly tất cả dục, viễn ly các lậu và các thứ phiền nhọc, ưu sầu do dục
mà có, giải chúng, thoát chúng và lại giải thoát khỏi chúng. Vị ấy không
còn nhận lãnh các cảm thọ ấy nữa, tức các cảm thọ sanh ra bởi dục. Như
vậy, đó là sự xuất ly khỏi dục. A-nan, đó là xuất yếu giới thứ nhất.
A-nan, Đa văn Thánh đệ tử quán sát sân nhuế cực kỳ mãnh liệt. Vị ấy do cực
kỳ mãnh liệt quán sát sân nhuế nên tâm không hướng theo sân nhuế, không
vui say trong sân nhuế, không gần gũi với sân nhuế, không quyết tâm nơi
sân nhuế. Khi tâm sân nhuế vừa sanh, tức khắc bị cháy tiêu, bị khô héo, co
rút lại, bị cuốn tròn lại chứ không được nở rộng ra, bị vứt bỏ di. Vị ấy
không trụ nơi sân nhuế, chán ghét, nhàm tởm, chế ngự sân nhuế. A-nan,
giống như lông và gân của con gà bị đem quăng vào trong lửa, tức khắc bị
cháy tiêu, bị khô rút lại, bị cuốn tròn lại chứ không được nở rộng ra.
A-nan, Đa văn Thánh đệ tử cũng vậy, cực kỳ mãnh liệt quán sát sân nhuế. Vị
ấy do cực kỳ mãnh liệt quán sát sân nhuế nên tâm không hướng theo nhuế,
không vui say nhuế, không quyết định nơi nhuế. Tâm nhuế vừa sanh, tức khắc
bị cháy tiêu, bị khô rút, bị cuốn tròn chứ không nở rộng ra được, bị vứt
bỏ đi, vị ấy không an trụ nơi nhuế, chán ghét, nhàm tởm, chế ngự nhuế. Vị
ấy quán sát vô nhuế, tâm hướng về vô nhuế, vui say vô nhuế, gần gũi vô
nhuế, quyết định nơi vô nhuế, tâm không bị chướng ngại, không ô trược, tâm
được an lạc, rất an lạc, viễn ly dục nhuế, viễn ly các lậu và các thứ
phiền nhọc, ưu sầu do nhuế mà có, thoát chúng, giải chúng và lại giải
thoát khỏi chúng. Vị ấy không còn nhận lãnh cảm thọ này nữa, tức cảm thọ
sanh ra bởi nhuế. Như vậy, đó là sự xuất ly khỏi nhuế. A-nan, đó là xuất
yếu giới thứ hai. Lại nữa, A-nan, Đa văn Thánh đệ tử quán sát một cách cực
kỳ mãnh liệt não hại. Vị ấy do cực kỳ mãnh liệt quán sát hại nên tâm không
hướng theo hại, không vui say hại, không gần gũi với hại, không quyết định
nơi hại. Khi tâm hại vừa sanh, tức khắc bị cháy tiêu, bị khô héo, co rút
lại, bị cuốn tròn lại chứ không được nở rộng ra, bị vứt bỏ đi. Vị ấy không
trụ nơi hại, chán ghét, nhàm tởm, chế ngự não hại. A-nan, giống như lông
và gân của con gà bị đem quăng vào trong lửa, tức khắc bị cháy tiêu, bị
khô, bị cuốn tròn lại chứ không được nở rộng ra. A-nan, Đa văn Thánh đệ tử
cũng vậy, cực kỳ mãnh liệt quán sát não hại. Vị ấy do cực kỳ quán sát não
hại nên tâm không hướng theo hại, không vui say hại, không gần gũi với
hại, không quyết định nơi hại. tâm hại vừa sanh, tức khắc bị cháy tiêu, bị
khô rút, bị cuốn tròn chứ không nở rộng ra được, bị vứt bỏ đi. Vị ấy không
an trụ nơi hại, chán ghét, nhàm tởm, chế ngự hại. Vị ấy quán sát vô hại,
tâm hướng về vô hại, vui say vô hại, gần gũi vô hại, quyết định nơi vô
hại, tâm không bị chướng ngại, không ô trược, tâm được an lạc, rất an lạc,
viễn ly dục hại, viễn ly các lậu và các thứ phiền nhọc, ưu sầu do hại mà
có, thoát chúng, giải chúng và lại giải thoát khỏi chúng. Vị ấy không còn
nhận lãnh cảm thọ này nữa, tức cảm thọ sanh ra bởi hại. Như vậy, đó là sự
xuất ly khỏi hại. A-nan, đó là xuất yếu giới thứ ba. Lại nữa, A-nan, Đa
văn Thánh đệ tử quán sát sắc cực kỳ mãnh liệt. Vị ấy do cực kỳ mãnh liệt
quán sát sắc nên tâm không hướng theo sắc, không vui say trong sắc, không
gần gũi với sắc, không quyết định nơi sắc. Khi tâm sắc vừa sanh, tức thì
bị cháy tiêu, bị khô héo, co rút lại, bị cuốn tròn lại chứ không được nở
rộng ra, bị vứt bỏ đi. Vị ấy không trụ nơi sắc, chán ghét, nhàm tởm, chế
ngự sắc. A-nan, giống như lông và gân của con gà bị đem quăng vào trong
lửa, tức khắc bị cháy tiêu, bị khô, bị cuốn tròn lại chứ không được nở
rộng ra. A-nan, Đa văn Thánh đệ tử cũng vậy, cực kỳ mãnh liệt quán sát
sắc. Vị ấy do cực kỳ quán sát sắc nên tâm không hướng theo sắc, không vui
say sắc, không gần gũi với sắc, không quyết định nơi sắc. Tâm sắc vừa
sanh, tức khắc bị cháy tiêu, bị khô rút, bị cuốn tròn chứ không nở rộng ra
được, bị vứt bỏ đi. Vị ấy không an trụ nơi sắc, chán ghét, nhàm tởm, chế
ngự sắc. Vị ấy quán sát vô sắc, tâm hướng về vô sắc, vui say vô sắc, gần
gũi vô sắc, quyết định nơi vô sắc, tâm không bị chướng ngại, không ô
trược, tâm được an lạc, rất an lạc, viễn ly dục sắc, viễn ly các lậu và
các thứ phiền nhọc, ưu sầu do sắc mà có, thoát chúng, giải chúng và lại
giải thoát khỏi chúng. Vị ấy không còn nhận lãnh cảm thọ này nữa, tức cảm
thọ sanh ra bởi sắc. Như vậy, đó là sự xuất ly khỏi sắc. A-nan, đó là xuất
yếu giới thứ tư. Lại nữa, A-nan, Đa văn Thánh đệ tử hết sức thận trọng
khéo léo, quán sát tự thân một cách cực kỳ mãnh liệt. Vị ấy do cực kỳ mãnh
liệt quán sát tự thân nên tâm không hướng theo tự thân, không vui say
trong tự thân, không gần gũi với tự thân, không quyết định nơi tự thân.
Khi tự thân vừa sanh, tức khắc bị cháy tiêu, bị khô héo, co rút lại, bị
cuốn tròn lại chứ không được nở rộng ra, bị vứt bỏ đi. Vị ấy không trụ nơi
thân, chán ghét, nhàm tởm, chế ngự tự thân. A-nan, giống như lông và gân
của con gà bị đem quăng vào trong lửa, tức khắc bị cháy tiêu, bị khô, bị
cuốn tròn lại chứ không được nở rộng ra. A-nan, Đa văn Thánh đệ tử cũng
vậy, cực kỳ mãnh liệt quán sát tự thân. Vị ấy do cực kỳ mãnh liệt quán sát
tự thân nên tâm không hướng theo thân, không vui say thân, không quyết
định nơi thân. Tự thân vừa sanh, tức khắc bị cháy tiêu, bị khô rút, bị
cuốn tròn chứ không nở rộng ra được, bị vứt bỏ đi. Vị ấy không an trụ nơi
thân, chán ghét, nhàm tởm, chế ngự thân. Vị ấy quán sát vô thân, tâm hướng
về vô thân, vui say vô thân, gần gũi vô thân, quyết định vô thân, tâm
không bị chướng ngại, không ô trược, tâm được an lạc, rất an lạc; viễn ly
dục thân, viễn ly các lậu và các thứ phiền nhọc, ưu sầu do thân mà có,
thoát chúng, giải chúng và lại giải thoát khỏi chúng. Vị ấy không còn nhận
lãnh cảm thọ này nữa, tức cảm thọ sanh ra bởi thân. Như vậy, đó là sự xuất
ly khỏi thân. A-nan, đó là xuất yếu giới thứ năm. A-nan, năm xuất yếu giới
này, ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy cho các
Tỳ-kheo niên thiếu về năm xuất yếu giới này, họ sẽ được an ổn, được sức
lực, được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về bảy tài sản, tín, giới, tàm, quý, văn, thí và tuệ
tài. A-nan, bảy tài sản này, ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên
thiếu. Nếu nói và dạy bảy tài sản này cho các Tỳ-kheo niên thiếu, họ sẽ
được an ổn, được sức lực, được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn
đời tu phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về bảy lực, tín, tinh tấn, tàm, quý, niệm, định, tuệ
lực. A-nan, bảy lực này, ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu.
Nếu nói và dạy bảy lực này cho các Tỳ-kheo niên thiếu, họ sẽ được an ổn,
được sức lực, được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành
phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về bảy giác chi, niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh
an,
định, xả giác chi. A-nan, bảy giác chi này, ông hãy nói để dạy cho các
Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy bảy giác chi này cho các Tỳ-kheo niên
thiếu, họ sẽ được an ổn, được sức lực, được an lạc, thân tâm không phiền
nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
“A-nan, trước kia Ta
đã nói cho ông nghe về Thánh đạo tám chi, chánh kiến, chánh tư duy,
chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn,
chánh niệm, chánh định. Đó là tám. A-nan, Thánh đạo tám chi này, ông hãy
nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy tám chi Thánh đạo
này cho các Tỳ-kheo niên thiếu, họ sẽ được an ổn, được sức lực, được an
lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh”.
Lúc ấy, Tôn giả
A-nan chắp tay hướng về Phật, bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, thật
là kỳ diệu, thật là hy hữu! Đức Thế Tôn đã nói về xứ và dạy về xứ cho các
Tỳ-kheo niên thiếu”.
Đức Thế Tôn bảo:
“Này A-nan, thật
vậy, thật vậy! Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu, Ta nói về xứ và dạy về xứ
cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Này A-nan, nếu ông lại hỏi về đảnh pháp và
đảnh pháp thối
từ nơi Như Lai thì ông hết sức tin tưởng, hoan hỷ đối với Như Lai”.
Bấy giờ Tôn giả
A-nan chắp tay hướng về Phật, bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, nay
thật đúng thời. Bạch Thiện Thệ, nay thật đúng thời. Nếu Thế Tôn nói và dạy
về đảnh pháp và đảnh pháp thối cho các Tỳ-kheo niên thiếu thì con và các
Tỳ-kheo niên thiếu từ Đức Thế Tôn nghe xong sẽ khéo léo thọ trì”.
Đức Thế Tôn bảo:
“Này A-nan, các ông
hãy lắng nghe. Hãy khéo tự niệm. Ta sẽ nói về đảnh pháp và đảnh pháp thối
cho ông và các Tỳ-kheo niên thiếu nghe”.
Tôn giả A-nan và các
Tỳ-kheo niên thiếu thọ trì lắng nghe.
Đức Thế Tôn bảo rằng:
“A-nan, Đa văn Thánh đệ tử chân thật, nhân nơi tâm tư niệm,
tư lương, khéo quán sát, phân biệt về vô thường, khổ, không, phi ngã. Vị
ấy khi tư niệm như vậy, tư lương như vậy, khéo quán sát, phân biệt như
vậy, liền phát sanh nhẫn, phát sanh lạc, phát sanh dục, tức mong cầu nghe,
mong cầu niệm, mong cầu quán.
Này A-nan, ấy gọi là đảnh pháp.
“A-nan, nếu được
đảnh pháp này nhưng lại mất đi, suy thoái, không tu thủ hộ, không tập tinh
tấn, này A-nan, ấy gọi là đảnh pháp thối.
Cũng vậy, đối với thức nội xứ, thức ngoại xứ, xúc, thọ, tưởng, tư, ái,
giới, nhân duyên khởi và nhân duyên khởi pháp
cũng như vậy.
“A-nan, Đa văn Thánh
đệ tử đối với nhân duyên khởi và nhân duyên khởi pháp này mà tư niệm, tư
lương, khéo quán sát, phân biệt về vô thường, khổ, không, phi ngã, vị ấy
khi tư niệm như vậy, tư lương như vậy, khéo quán sát, phân biệt như vậy
nên phát sanh nhẫn, phát sanh lạc, phát sanh dục, tức mong cầu nghe, mong
cầu niệm, mong cầu quán. A-nan, đó gọi là đảnh pháp.
“A-nan, nếu được
đảnh pháp này nhưng lại mất đi, suy thoái, không tu thủ hộ, không tập tinh
tấn, này A-nan, ấy gọi là đảnh pháp thối. A-nan, đảnh pháp và đảnh pháp
thối này, ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy
đảnh pháp và đảnh pháp thối này cho các Tỳ-kheo niên thiếu, họ sẽ được an
ổn, được sức lực, được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu
phạm hạnh.
“A-nan, Ta đã nói về
xứ, dạy về xứ, về đảnh pháp, đảnh pháp thối cho các ông nghe, như vị Tôn
sư vì đệ tử nên khởi lòng đại từ ái, lân niệm, mẫn thương mà mong cầu sự
thiện lợi và hữu ích, mong cầu an ổn, khoái lạc. Ta đã thực hiện như vậy,
các ông cũng nên tự chính mình thực hiện. Hãy đến nơi rừng vắng, nơi núi
rừng, dưới gốc cây, chỗ an tĩnh không nhàn, tĩnh tọa tư duy, không được
phóng dật, siêng năng tinh tấn, đừng để ân hận về sau. Đây là lời giáo sắc
của Ta, là lời huấn thị của Ta”.
Phật thuyết như vậy.
Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo niên thiếu nghe lời Phật thuyết, hoan hỷ
phụng hành.
Uẩn, nội, ngoại,
thức, xúc,
Thọ, tưởng, tư, ái,
giới;
Nhân duyên, niệm,
chánh đoạn,
Như ý, thiền, đế
tưởng,
Vô lượng, vô sắc
chủng,
Sa-môn quả, giải
thoát,
Xứ, căn, lực, xuất
yếu,
Tài, lực, giác, đạo,
danh.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 7 |
72
|
73
|
74
|
75
76
|
77
|
78
|
79
|
80
|
81
|
82
|
83
|
84
|
85
|
86
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003