SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 7
PHẨM TRƯỜNG THỌ
VƯƠNG
82. KINH CHI-LY-DI-LÊ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại thành Vương xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa.
Bấy giờ một số đông
các Tỳ-kheo sau giờ ăn trưa, có ít việc cần làm nên tụ họp ngồi ở giảng
đường để quyết định sự tranh luận. Tức là bàn luận những vấn đề về pháp
luật, về lời Phật dạy.
Lúc bấy giờ Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử
cũng hiện diện trong chúng.
Trong khi một số
đông các Tỳ-kheo đang bàn luận những vấn đề về Pháp Luật, về lời Phật dạy,
thì ngay trong lúc đang bàn luận ấy, Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử không đợi
cho các Tỳ-kheo nói pháp xong, mà cứ nói xen ào vào, lại không có thái độ
cung kính, không quan sát cẩn thận để thưa hỏi các bậc Tỳ-kheo Thượng tôn
Trưởng lão.
Bấy giờ, Tôn giả Đại
Câu-hi-la
cũng có mặt trong chúng, nói với Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử rằng:
“Hiền giả nên biết,
trong khi một số đông Tỳ-kheo đang nói những vấn đề về Pháp Luật và về lời
Phật dạy này, thì Hiền giả chớ nói xen vào ở khoảng giữa. Đợi các Tỳ-kheo
nói xong, nhiên hậu Hiền giả mới nói. Hiền giả hãy có thái độ cung kính và
quán sát cẩn thận để thưa hỏi các bậc Tỳ-kheo Thượng tôn Trưởng lão. Chớ
đem sự không cung kính, không khéo quán sát để thưa hỏi các ngài”.
Khi đó, bạn bè quen
thân của Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử hiện có trong chúng, nói với Tôn giả
Đại Câu-hi-la rằng:
“Này Hiền giả Đại
Câu-hi-la, ngài chớ nặng lời quở trách Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử. Lý do
vì sao? Vì Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử có giới đức, đa văn, trông giống
như người giải đãi nhưng không cống cao, ngã mạn. Này Hiền giả Đại
Câu-hi-la, bất cứ lúc nào, các Tỳ-kheo làm việc gì, thì Tỳ-kheo Chất-đa-la
Tượng Tử đều có thể giúp đỡ cả”.
Tôn giả Đại
Câu-hi-la khi ấy nói với bạn bè quen thuộc của Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử
rằng:
“Này chư Hiền, nếu
không biết tâm của kẻ khác thì đừng vội nói là người ấy xứng đáng hay
không xứng đáng. Lý do vì sao? Vì hoặc có một người lúc ở trước Đức Thế
Tôn và trước các bậc phạm hạnh Thượng tôn Trưởng lão, khả tàm, khả quý,
khả ái, khả kính, thì người ấy khéo léo thủ hộ, nhưng sau đó, khi không
còn ở trước Đức Thế Tôn và trước các bậc phạm hạnh Thượng tôn Trưởng lão
khả tàm, khả quý, khả ái, khả kính, thì người ấy thường cùng với bạch y tụ
họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện. Người ấy thường cùng với
bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện, rồi tâm sanh
tham dục. Tâm sanh tham dục rồi thì thân nhiệt, tâm nhiệt.
Thân nhiệt, tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo.
“Này chư Hiền, giống
như con bò vào trong ruộng lúa của người, người giữ ruộng bắt được, hoặc
lấy tay cột, hoặc nhốt trong chuồng. Này chư Hiền, nếu có người nói rằng:
‘Con bò này không vào ruộng lúa của người khác nữa đâu’. Người kia nói như
vậy có đúng chăng?”
“Không đúng. Vì sao?
Vì nếu con bò bị trói kia, hoặc làm đứt, hoặc làm sút sợi dây trói, hoặc
nhảy ra khỏi chuồng, nó cũng lại vào trong ruộng lúa của người khác như
trước, chứ không khác gì cả”.
“Này chư Hiền, hoặc
có một người lúc ở trước Đức Thế Tôn và trước các bậc phạm hạnh Thượng tôn
Trưởng lão khả tàm, khả quý, khả ái, khả kính thì người ấy khéo léo thủ
hộ. Nhưng sau đó, khi không còn ở trước Đức Thế Tôn và trước các bậc phạm
hạnh Thượng tôn Trưởng lão khả tàm, khả quý, khả ái, khả kính, thì người
ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ
chuyện, rồi thì tâm sanh tham dục, tâm sanh ham muốn, rồi thì thân nhiệt,
tâm nhiệt. Thân nhiệt tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo. Này chư Hiền, đó
gọi là có một người.
“Lại nữa, này chư
Hiền, hoặc có một người vừa được Sơ thiền; được Sơ thiền rồi, người ấy
liền an trú chứ không mong cầu thêm, không mong được những gì chưa được,
không mong thu hoạch những gì chưa thu hoạch, không mong tác chứng những
gì chưa tác chứng. Người ấy, sau đó thường cùng với bạch y tụ họp, cười
cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện. Người ấy thường cùng với bạch y tụ
họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm sanh tham
dục. Tâm sanh tham dục rồi thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt tâm nhiệt
rồi thì xả giới, bỏ đạo.
“Này chư Hiền, như
lúc mưa to, hồ ao trong thôn xóm đều đầy nước. Có người trước khi chưa
mưa, thấy trong hồ ao đó có cát, đá, cỏ cây, một vài loại giáp trùng, cá,
rùa, ểnh ương và các loài thủy tánh khác, lúc bơi qua, lúc bơi lại, lúc
rượt chạy, lúc đứng yên. Nhưng sau khi trời mưa, ao hồ đầy nước, người đó
không còn thấy như thế nữa. Chư Hiền, nếu người kia nói như thế này:
‘Trong hồ ao kia nhất định không thể nào thấy lại được cát, đá, cỏ cây,
một vài loại giáp trùng, cá, rùa, ểnh ương và các loài thủy tánh khác, lúc
bơi qua, lúc bơi lại, lúc rượt chạy, lúc đứng yên’. Người ấy nói như vậy
có đúng chăng?”
“Không đúng. Vì sao?
Vì hồ ao đầy nước kia, hoặc voi uống, ngựa uống, lạc đà, bò, lừa, heo,
nai, trâu uống, hoặc người lấy dùng, gió thổi, mặt trời rọi, thì nước sẽ
cạn. Người kia khi nước đầy hồ ao không thấy cát, đá, cỏ cây, một vài loại
giáp trùng, cá, rùa, ểnh ương và các loài thủy tánh khác, lúc bơi qua, lúc
bơi lại, lúc rượt chạy, lúc đứng yên, nhưng sau khi nước đã cạn rồi thì
vẫn thấy như cũ”.
“Cũng vậy, này chư
Hiền, hoặc có một người vừa được Sơ thiền; được Sơ thiền rồi, người ấy
liền an trụ chứ không mong cầu thêm, không mong được những gì chưa được,
thu hoạch những gì chưa thu hoạch, tác chứng những gì chưa tác chứng. Sau
đó người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn
ào đủ chuyện. Người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao,
bàn tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm sanh tham dục. Tâm sanh tham dục rồi
thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt, tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo.
Này chư Hiền, đó gọi là có một người.
“Lại nữa, này chư
Hiền, hoặc có một người được đệ Nhị thiền; được đệ Nhị thiền rồi, người ấy
liền an trụ chứ không mong cầu thêm, không mong được những gì chưa được,
thu hoạch những gì chưa thu hoạch, tác chứng những gì chưa tác chứng. Sau
đó người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn
ào đủ chuyện, rồi thì sanh tâm tham dục. Tâm sanh tham dục rồi thì thân
nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt, tâm nhiệt rồi liền xả giới bỏ đạo.
“Này chư Hiền, như
lúc mưa to, đất bụi ở nơi ngã tư đường đều thành bùn. Này chư Hiền, nếu có
người nói như thế này: ‘Bùn ở nơi ngã tư đường này nhất định không khô
ráo, không thể trở lại thành bụi đất được nữa’. Người ấy nói như vậy có
đúng chăng?”
“Không đúng. Vì sao?
Vì ngã tư đường này hoặc voi đi, ngựa đi, lạc đà, bò, lừa, heo, nai, trâu
và người đi, gió thổi, mặt trời rọi, thì con đường kia bùn sẽ khô và khô
rồi sẽ trở thành đất bụi trở lại”.
“Cũng như vậy, này
chư Hiền, hoặc có người được đệ Nhị thiền; được đêï Nhị thiền rồi, người
ấy liền an trụ không mong cầu thêm, không mong được những gì chưa được,
thu hoạch những gì chưa thu hoạch, tác chứng những gì chưa tác chứng. Sau
đó người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn
ào đủ chuyện. Người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao,
bàn tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm sanh tham dục. Tâm sanh tham dục rồi
thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt, tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo.
Này chư Hiền, đó gọi là có một người.
“Này chư Hiền, lại
nữa, hoặc có một người được đệ Tam thiền; được đệ Tam thiền rồi, người ấy
liền an trụ chứ không mong cầu thêm, không mong được những gì chưa được,
thu hoạch những gì chưa thu hoạch, tác chứng những gì chưa tác chứng. Sau
đó người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn
ào đủ chuyện. Người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao,
bàn tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm sanh tham dục. Tâm sanh tham dục rồi
thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt, tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo.
“Này chư Hiền, như
nước suối, nước hồ lặng trong, ngang bờ đứng yên, không xao động và cũng
không có sóng. Này chư Hiền, nếu có người nói như thế này: ‘Nước suối,
nước hồ kia nhất định không bao giờ xao động và nổi sóng nữa’. Người ấy
nói như vậy có đúng chăng?”
“Không đúng. Vì sao?
Vì hoặc ở phương Đông gió lớn chợt thổi đến làm cho nước trong hồ xao động
nổi sóng. Cũng vậy, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, gió lớn chợt thổi
đến làm cho nước trong hồ xao động nổi sóng”.
“Cũng như vậy, này
chư Hiền, hoặc có một người được đệ Tam thiền; được đệ Tam thiền rồi,
người ấy liền an trụ chứ không mong cầu thêm, không mong được những gì
chưa được, thu hoạch những gì chưa thu hoạch, tác chứng những gì chưa tác
chứng. Sau đó người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao,
bàn tán ồn ào đủ chuyện. Người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt,
cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm sanh tham dục. Tâm sanh tham
dục rồi thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt, tâm nhiệt rồi thì xả giới,
bỏ đạo. Này chư Hiền, đó gọi là có một người.
“Lại nữa, này chư
Hiền, hoặc có một người được đệ Tứ thiền; được đệ Tứ thiền rồi, người ấy
liền an trụ chứ không mong cầu thêm, không mong được những gì chưa được,
thu hoạch những gì chưa thu hoạch, tác chứng những gì chưa tác chứng. Sau
đó người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn
ào đủ chuyện. Người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao,
bàn tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm sanh tham dục. Tâm sanh tham dục rồi
thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt, tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo.
“Này chư Hiền, ví
như cư sĩ hoặc con cư sĩ ăn đồ ăn vi diệu, sau khi ăn uống no nê đầy bụng
rồi thì những món ăn mà họ đã ăn trước kia, bây giờ không còn muốn ăn nữa.
Này chư Hiền, nếu có lời nói như thế này: ‘Cư sĩ hoặc con của cư sĩ nhất
định không bao giờ muốn ăn lại nữa’. Người ấy nói như vậy có đúng chăng?”
“Không đúng.
Vì sao? Vì cư sĩ hoặc con của cư sĩ kia qua một đêm đã thấy đói, thì những
gì khi no bụng họ không muốn ăn, bây giờ lại có thể ăn như trước”.
“Cũng vậy, này chư
Hiền, hoặc có một người được đệ Tứ thiền; được đệ Tứ thiền rồi, người ấy
liền an trụ chứ không mong cầu thêm, không mong được những gì chưa được,
thu hoạch những gì chưa thu hoạch, tác chứng những gì chưa tác chứng. Sau
đó người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn
ào đủ chuyện. Người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao,
bàn tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm sanh tham dục. Tâm sanh tham dục rồi
thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt, tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo.
Này chư Hiền, đó gọi là có một người.
“Lại nữa, này chư
Hiền, hoặc có một người được Vô tưởng tâm định;
được vô tưởng tâm định rồi thì người ấy liền an trụ, không mong cầu thêm,
không mong được những gì chưa được, thu hoạch những gì chưa thu hoạch, tác
chứng những gì chưa tác chứng. Sau đó người ấy thường cùng với bạch y tụ
họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện. Người ấy thường cùng với
bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm
sanh tham dục. Tâm sanh tham dục rồi thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân
nhiệt, tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo.
“Này chư Hiền, ví
như ở một khu rừng vắng, người ta nghe tiếng dế kêu.
Khi vua hoặc đại thần ngủ đêm tại khu rừng vắng đó, bấy giờ người ta nghe
nào là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe cộ, tiếng đi bộ, tiếng trống, tiếng
trống cơm, tiếng trống múa, tiếng múa, tiếng hát, tiếng đàn cầm, tiếng ăn
uống, chứ không nghe tiếng dế kêu như trước tại khu rừng này nữa. Này chư
Hiền, nếu có lời nói như thế này: ‘Khu rừng kia nhất định không bao giờ
nghe được tiếng dế kêu nữa’. Người ấy nói như vậy có đúng chăng?”
“Không đúng. Vì sao?
Vì vua hoặc đại thần ấy qua đêm, trời sáng rồi đều trở về. Nếu chỗ đó vì
nghe các tiếng voi, ngựa, xe cộ, đi bộ, tiếng ốc, tiếng trống, trống cơm,
trống múa, tiếng múa, ca, tiếng đàn, ăn uống nên không nghe tiếng dế kêu,
nhưng khi họ đã đi rồi thì nghe lại như cũ”.
“Cũng vậy, này chư
Hiền, có một người được Vô tưởng tâm định; được Vô tưởng tâm định rồi liền
an trụ chứ không mong cầu thêm, không mong được những gì chưa được, thu
hoạch những gì chưa thu hoạch, tác chứng những gì chưa tác chứng. Sau đó
người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào
đủ chuyện. Người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn
tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm sanh tham dục. Tâm sanh tham dục rồi thì
thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt, tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo. Này
chư Hiền, đó gọi là có một người”.
Bấy giờ Tỳ-kheo
Chất-đa-la Tượng Tử sau đó chẳng bao lâu xả giới, bỏ đạo. Bạn bè quen thân
của Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử nghe ông xả giới bỏ đạo, qua đến chỗ Tôn
giả Đại Câu-hi-la, đến nơi rồi, bạch rằng:
“Bạch Tôn giả Đại
Câu-hi-la, ngài biết rõ tâm của Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử hay nhờ các
việc khác mà biết? Lý do vì sao? Vì nay Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử đã xả
giới bỏ đạo”.
Tôn giả Đại
Câu-hi-la bảo các bạn bè quen thân kia rằng:
“Này chư Hiền, việc
ấy phải như vậy. Lý do vì sao? Vì do không biết như thật, không thấy như
chân nên xảy ra như vậy”.
Tôn giả Đại
Câu-hi-la thuyết như vậy, các Tỳ-kheo nghe Tôn giả dạy xong, hoan hỷ phụng
hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 7 |
72
|
73
|
74
|
75
76
|
77
|
78
|
79
|
80
|
81
|
82
|
83
|
84
|
85
|
86
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003