SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 7
PHẨM TRƯỜNG THỌ
VƯƠNG
81. KINH NIỆM THÂN[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một thời Đức Phật du
hóa tại nước Ương-kì,
cùng với đại chúng Tỳ-kheo đi qua A-hòa-na,
trú xứ của Kiền-ni.
Bấy giờ đêm tàn,
trời sáng, Đức Thế Tôn đắp y ôm bát vào A-hòa-na để khất thực. Sau buổi ăn
trưa, Đức Thế Tôn thu cất y bát, rửa tay chân, vắt Ni-sư-đàn lên vai, đi
đến một khu rừng, vào trong rừng đó, đến dưới một gốc cây, trải Ni-sư-đàn
và ngồi kiết già.
Lúc bấy giờ một số
đông các Tỳ-kheo sau giờ ăn trưa, tụ họp tại giảng đường, cùng thảo luận
vấn đề này:
“Này chư Hiền, Đức
Thế Tôn thật kỳ diệu thay, hy hữu thay! Sự tu tập niệm thân
được phân biệt, được quảng bá, được hiểu biết tột cùng, được quán sát tột
cùng, được tu tập tột cùng, được thủ hộ và đối trị tột cùng, khéo sung
mãn, khéo thực hành, ở trong một tâm. Phật tuyên bố niệm thân có đại quả
báo, được con mắt, có con mắt thấy đệ nhất nghĩa”.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn
từ chỗ tĩnh tọa, bằng thiên nhĩ thanh tịnh, nghe xa hơn người, Ngài biết
các Tỳ-kheo sau giờ ăn trưa tụ họp tại giảng đường, cùng bàn luận vấn đề
này, “Này chư Hiền, Đức Thế Tôn thật kỳ diệu thay, hy hữu thay! Sự tu tập
niệm thân được phân biệt, được quảng bá, được hiểu biết tột cùng, được
quán sát tột cùng, được tu tập tột cùng, được thủ hộ và đối trị tột cùng,
khéo sung mãn, khéo thực hành, ở trong một tâm. Phật tuyên bố niệm thân có
đại quả báo, được con mắt, có con mắt thấy đệ nhất nghĩa”.
Sau khi Đức Thế Tôn
nghe như vậy, vào lúc xế, từ chỗ tĩnh tọa đứng dậy, Ngài đến giảng đường,
trải chỗ ngồi trước chúng Tỳ-kheo.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
hỏi các Tỳ-kheo:
“Các ngươi cùng nhau
vừa bàn luận việc gì? Vì việc gì mà tụ tập tại giảng đường?”
Các Tỳ-kheo bạch
Phật:
“Bạch Thế Tôn,
Tỳ-kheo chúng con sau giờ ăn trưa, tụ họp tại giảng đường, cùng bàn luận
về vấn đề này: ‘Này chư Hiền, Đức Thế Tôn thật kỳ diệu thay, hy hữu thay!
Sự tu tập niệm thân được phân biệt, được quảng bá, được hiểu biết tột
cùng, được quán sát tột cùng, được tu tập tột cùng, được thủ hộ và đối trị
tột cùng, khéo sung mãn, khéo thực hành, ở trong một tâm. Phật tuyên bố
niệm thân có đại quả báo, được con mắt, có con mắt thấy đệ nhất nghĩa’.
Bạch Thế Tôn, chúng con vừa cùng nhau bàn luận vấn đề vấn đề như vậy. Vì
vấn đề này mà tụ họp tại giảng đường”.
Đức Thế Tôn lại hỏi
các Tỳ-kheo:
“Ta đã nói như thế
nào về tu tập niệm thân, phân biệt, quảng bá, được đại quả báo?”
Lúc ấy các Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, Thế
Tôn là gốc của Pháp, là chủ của Pháp, Pháp do Thế Tôn. Kính mong Thế Tôn
giảng thuyết. Chúng con sau khi nghe xong sẽ được hiểu biết nghĩa lý rộng
rãi”.
Đức Phật nói:
“Các ngươi hãy lắng
nghe, hãy khéo suy nghĩ. Ta sẽ phân biệt nghĩa ấy cho các ngươi nghe”.
Các Tỳ-kheo vâng lời
Phật dạy, lắng nghe.
Đức Phật nói:
“Tỳ-kheo tu tập niệm
thân như thế nào? Tỳ-kheo khi đi thì biết mình đang đi, đứng thì biết mình
đang đứng, ngồi thì biết mình đang ngồi, nằm thì biết mình đang nằm, ngủ
thì biết mình đang ngủ. Như vậy, Tỳ-kheo tùy thân hành mà biết đúng như
thật như vậy. Tỳ-kheo như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật,
tu hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn của tâm và được định tâm.
Được định tâm rồi thì biết trên như thật.
Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại nữa, Tỳ-kheo tu
tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo biết rõ mình
khi vào, khi ra, khéo quán sát phân biệt, khi co, lúc duỗi, khi cúi, lúc
ngước; nghi dung chững chạc, khoác Tăng-già-lê ngay ngắn và ôm bát chỉnh
tề; đi đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức, nói năng, im lặng, đều biết rõ như
thực. Như vậy, Tỳ-kheo tùy thân hành mà biết đúng như thật như vậy.
Tỳ-kheo như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh
tấn, đoạn trừ các tai hoạn của tâm và được định tâm. Được định tâm rồi thì
biết trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại nữa, Tỳ-kheo tu
tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo khi sanh niệm ác, bất thiện, liền bằng niệm
thiện pháp để đối trị, đoạn trừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ. Như người thợ mộc
hoặc học trò thợ mộc kéo thẳng dây mực, búng thẳng lên thân cây, rồi dùng
búa bén mà đẽo cho thẳng. Cũng vậy, Tỳ-kheo khi sanh niệm ác bất thiện,
liền niệm thiện pháp để đối trị, đoạn trừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ. Như vậy,
Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo như thế, sống cô
độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn
của tâm và được định tâm. Được định tâm rồi thì biết trên như thật. Ấy là
Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại nữa, Tỳ-kheo tu
tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo răng ngậm khít lại, lưỡi ấn lên trên khẩu
cái, dùng tâm trị tâm, đối trị, đoạn trừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ. Như hai lực
sĩ bắt một người yếu mang đi khắp nơi, tự do đánh đập; cũng vậy, Tỳ-kheo
răng ngậm khít lại, lưỡi ấn lên khẩu cái, dùng tâm trị tâm, đối trị, đoạn
trừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ. Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên
như thật. Tỳ-kheo như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu
hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn của tâm và được định tâm. Được định
tâm rồi thì biết trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại nữa, Tỳ-kheo tu
tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo-niệm hơi thở vào thì biết niệm hơi thở vào;
niệm hơi thở ra thì biết niệm hơi thở ra; thở vào dài thì biết thở vào
dài, thở ra dài thì biết thở ra dài; thở vào ngắn thì biết thở vào ngắn,
thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn. Học toàn thân thở vào, học toàn thân thở
ra. Học thở vào thân hành tĩnh chỉ, học thở ra khẩu hành tĩnh chỉ. Như
vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo như thế,
sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn, đoạn trừ các
tai hoạn của tâm và được định tâm. Được định tâm rồi thì biết trên như
thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại nữa, Tỳ-kheo tu
tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo có hỷ lạc do ly dục nhuần thấm thân, phổ
biến sung mãn. Khắp trong thân thể, hỷ lạc sanh do ly dục, không đâu không
có. Như người hầu tắm, bỏ bột tắm
đầy chậu, nước hòa thành bọt, nước thấm vào thân, phổ biến sung mãn, không
đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có hỷ lạc do ly dục nhuần thấm vào thân,
phổ biến sung mãn, khắp trong thân thể hỷ lạc sanh do ly dục, không đâu
không có. Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên như thật.
Tỳ-kheo như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh
tấn, đoạn trừ các tai hoạn của tâm và được định tâm. Được định tâm rồi thì
biết trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại nữa, Tỳ-kheo tu
tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo có hỷ lạc do định sanh nhuần thấm thân, phổ
biến sung mãn. Khắp trong thân thể, hỷ lạc do định sanh không đâu không
có. Cũng như suối trên núi trong sạch không nhơ, nước từ bốn phương chảy
đến, đổ vào một cách tự nhiên, tức thì đáy suối nước tự phun lên, chảy
tràn ra ngoài, thấm ướt cả núi, phổ biến sung mãn, không đâu không có.
Cũng vậy, Tỳ-kheo có hỷ lạc do định sanh nhuần thấm thân, phổ biến sung
mãn. Khắp trong thân thể, hỷ lạc do định sanh không đâu không có. Như vậy,
Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo như thế, sống cô
độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn
của tâm và được định tâm. Được định tâm rồi thì biết trên như thật. Ấy là
Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại nữa, Tỳ-kheo tu
tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo có lạc do ly hỷ thấm nhuần thân, phổ biến
sung mãn. Khắp trong thân thể, lạc do ly hỷ không đâu không có. Như các
thứ sen xanh, hồng, đỏ, trắng sanh ra từ nước, lớn lên trong nước, ở dưới
đáy nước, rễ, cọng, hoa, lá đều nhuần thấm, phổ biến sung mãn, không đâu
không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có lạc do ly hỷ nhuần thấm vào thân, phổ biến
sung mãn; khắp trong thân thể, lạc do ly hỷ không đâu không có. Như vậy,
Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo như thế, sống cô
độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn
của tâm và được định tâm. Được định tâm rồi thì biết trên như thật. Ấy là
Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo ở trong thân này biến
mãn với tâm thanh tịnh,
ý cởi mở, thành tựu an trụ; ở trong thân này với tâm thanh tịnh, không chỗ
nào là không biến mãn. Như có một người trùm một cái áo dài bảy hay tám
khuỷu tay, từ đầu đến chân, không chỗ nào là không phủ kín; cũng vậy,
Tỳ-kheo ở trong thân này, biến mãn với tâm thanh tịnh, ý cởi mở, thành tựu
an trụ; ở trong thân này với tâm thanh tịnh, không chỗ nào là không biến
mãn. Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo
như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn, đoạn
trừ các tai hoạn của tâm và được định tâm. Được định tâm rồi thì biết trên
như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại nữa, Tỳ-kheo tu
tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo-niệm quang minh tưởng,
khéo thọ, khéo trì, nhớ rõ điều niệm; như phía trước, phía sau cũng vậy;
như phía sau, phía trước cũng vậy;
ngày cũng như đêm, đêm cũng như ngày; dưới cũng như trên, trên cũng như
dưới. Như vậy, tâm không điên đảo, tâm không bị ràng buộc, tâm tu quang
minh, không khi nào còn bị bóng đen che lấp. Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo
thân hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo như thế, sống cô độc, viễn ly,
tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn của tâm và
được định tâm. Được định tâm rồi thì biết trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu
tập niệm thân.
“Lại nữa, Tỳ-kheo tu
tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo quán sát tướng,
khéo tiếp thu, khéo ghi nhớ, khéo được tư niệm bởi ý. Như người ngồi quán
sát kẻ nằm, người nằm quán sát kẻ ngồi. Cũng vậy, Tỳ-kheo quán sát tướng,
khéo tiếp thu, khéo ghi nhớ, khéo được tư niệm bởi ý. Như vậy, Tỳ-kheo tùy
theo thân hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo như thế, sống cô độc, viễn
ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn của tâm
và được định tâm. Được định tâm rồi thì biết trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo
tu tập niệm thân.
“Lại nữa, Tỳ-kheo tu
tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo tùy theo những chỗ trong thân, tùy theo
tính chất tốt xấu, từ đầu đến chân, quán thấy thảy đều đầy dẫy bất tịnh.
Tức là, trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da dày, da non, thịt,
gân, xương, tim, thận, gan, phổi, ruột già, ruột non, lá lách, dạ dày,
phân,
não và não căn, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước miếng, mủ, máu, mỡ, tủy,
đờm giải, nước tiểu. Như một cái bồn chứa đủ loại hạt giống, ai có mắt
sáng thì thấy rõ ràng, ‘Đây là hạt lúa, gạo; kia là hạt cải, cỏ, rau’.
Cũng vậy, Tỳ-kheo tùy theo những chỗ trong thân, tùy theo tính chất tốt
xấu, từ đầu đến chân, quán thấy thảy đều đầy dẫy bất tịnh. Tức là, trong
thân này có tóc, lông, móng, răng, da dày, da non, thịt, gân, xương, tim,
thận, gan, phổi, ruột già, ruột non, lá lách, dạ dày, phân, não và não bộ,
nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước miếng, mủ, máu, mỡ, tủy, đờm giải, nước
tiểu. Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo
như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn, đoạn
trừ các tai hoạn của tâm và được định tâm. Được định tâm rồi thì biết trên
như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại nữa, Tỳ-kheo tu
tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo quán các giới trong thân rằng ‘Trong thân
này của ta có địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức
giới’. Như gã đồ tể mổ bò, lột hết bộ da, trải lên mặt đất, phân thành sáu
đoạn. Cũng vậy, Tỳ-kheo quán các giới trong thân rằng: ‘Trong thân này của
ta có địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới’.
Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên như thật. Tỳ-kheo như
thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh tấn, đoạn trừ
các tai hoạn của tâm và được định tâm. Được định tâm rồi thì biết trên như
thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại nữa, Tỳ-kheo tu
tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo quán xác chết mới chết, từ một, hai ngày
đến sáu, bảy ngày, đang bị quạ, diều bươi mổ, sài lang cấu xé; hoặc đã
được hỏa thiêu hay đã được chôn lấp, đang bị rữa nát hư hoại. Quán sát
rồi, tự so sánh: ‘Thân ta cũng thế, đều có những trường hợp này, không sao
tránh khỏi’. Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên như thật.
Tỳ-kheo như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh
tấn, đoạn trừ các tai hoạn của tâm và được định tâm. Được định tâm rồi thì
biết trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại nữa, Tỳ-kheo tu
tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo như đã từng thấy trong nghĩa địa, hài cốt
sắc xanh, rửa nát, bị chim thú ăn một nửa, xương cốt nằm rải rác trên mặt
đất. Tỳ-kheo thấy rồi, tự so sánh, ‘Thân ta cũng thế, đều có những trường
hợp này, không sao tránh khỏi’. Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà
biết trên như thật. Tỳ-kheo như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng
dật, tu hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn của tâm và được định tâm.
Được định tâm rồi thì biết trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại nữa, Tỳ-kheo tu
tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo như đã từng thấy ở trong nghĩa địa, thây
chết không còn da thịt, máu, mà chỉ còn gân nối liền với xương. Thấy rồi,
tự so sánh, ‘Thân ta cũng thế, đều có những trường hợp này, không sao
tránh khỏi’. Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên như thật.
Tỳ-kheo như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh
tấn, đoạn trừ các tai hoạn của tâm và được định tâm. Được định tâm rồi thì
biết trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại nữa, Tỳ-kheo tu
tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo như đã từng thấy trong nghĩa địa, xương rời
từng đốt, tản mác khắp nơi, xương chân, xương đùi, xương đầu gối, xương
bắp vế, xương sống, xương vai, xương cổ, xương sọ, mỗi thứ một nơi. Thấy
rồi tự so sánh, ‘Thân ta cũng thế, đều có những trường hợp này, không sao
tránh khỏi’. Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên như thật.
Tỳ-kheo như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu hành tinh
tấn, đoạn trừ các tai hoạn của tâm và được định tâm. Được định tâm rồi thì
biết trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Lại nữa, Tỳ-kheo tu
tập niệm thân như sau. Tỳ-kheo như đã từng thấy ở trong nghĩa địa, xương
trắng như vỏ ốc, xanh như lông chim bồ câu, đỏ như màu máu, mục nát, bể
vụn. Thấy rồi tự so sánh, ‘Thân ta cũng thế, đều có những trường hợp này,
không sao tránh khỏi’. Như vậy, Tỳ-kheo tùy theo thân hành mà biết trên
như thật. Tỳ-kheo như thế, sống cô độc, viễn ly, tâm không phóng dật, tu
hành tinh tấn, đoạn trừ các tai hoạn của tâm và được định tâm. Được định
tâm rồi thì biết trên như thật. Ấy là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
“Nếu có vị nào tu
tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy, các thiện pháp kia toàn bộ đều ở
trong đó, gọi là Đạo phẩm pháp.
Nếu Vị ấy có tâm biến mãn, ý cởi mở, giống như đại hải, các con sông nhỏ
kia đều đổ vào biển. Nếu tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy, các
thiện pháp kia toàn bộ đều ở trong đó, gọi là Đạo phẩm pháp.
“Nếu có Sa-môn, Phạm
chí nào không chánh lập an trụ niệm thân, sống với tâm nhỏ hẹp,
vị ấy nếu Ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì có thể lợi dụng được. Vì sao? Vì
Sa-môn, Phạm chí kia trống không, không có niệm thân. Giống như một cái
bình, bên trong trống không, không có nước, đặt ngay ngắn trên mặt đất,
nếu có người đem nước đến đổ vào trong bình thì Tỳ-kheo nghĩ sao? Bình ấy
như vậy có chứa nước được hay không?”
Tỳ-kheo đáp:
“Bạch Thế Tôn, có
thể được. Vì sao? Vì bình trống không, không có nước, đặt ngay ngắn trên
mặt đất cho nên chứa nước được”.
“Cũng vậy, nếu có
Sa-môn, Phạm chí nào không chánh lập an trụ niệm thân, sống với tâm nhỏ
hẹp, vị ấy nếu ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì có thể lợi dụng được. Vì sao?
Vì Sa-môn, Phạm chí kia trống không, không có niệm thân.
“Nếu có Sa-môn, Phạm
chí nào chánh lập an trụ niệm thân, sống với tâm vô lượng, vị ấy nếu ma
Ba-tuần muốn lợi dụng, nhất định không thể được. Vì sao? Vì Sa-môn, Phạm
chí kia không trống không, có niệm thân. Giống như có một cái bình, bên
trong chứa đầy nước, đặt ngay ngắn trên mặt đất, nếu có người đem nước đến
đổ vào trong bình, thì Tỳ-kheo nghĩ sao? Bình ấy như vậy có chứa nước nữa
không?”
Tỳ-kheo đáp:
“Bạch Thế Tôn, không
thể được. Vì sao? Vì bình ấy nước đã đầy rồi, đặt ngay ngắn trên mặt đất,
cho nên không chứa nước được nữa”.
“Cũng vậy, nếu có
Sa-môn, Phạm chí nào chánh lập an trụ niệm thân, sống với tâm vô lượng, vị
ấy nếu ma Ba-tuần muốn lợi dụng, nhất định không thể được. Vì sao? Vì
Sa-môn, Phạm chí kia không trống không, có niệm thân.
“Nếu có Sa-môn, Phạm
chí nào không chánh lập an trụ niệm thân, sống với tâm nhỏ hẹp, vị ấy nếu
Ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì có thể lợi dụng được. Vì sao? Vì Sa-môn, Phạm
chí kia trống không, không có niệm thân. Giống như người lực sĩ khiêng hòn
đá to, nặng, quăng vào trong vũng bùn thì Tỳ-kheo nghĩ sao? Hòn đá có bị
lún vào bùn không?”
Tỳ-kheo đáp:
“Bạch Thế Tôn, hòn
đá bị lún vào bùn. Vì sao? Vì bùn lầy mà đá nặng, cho nên chắc chắn phải
lún vào”.
“Cũng vậy, nếu có
Sa-môn, Phạm chí nào không chánh lập an trụ niệm thân, sống với tâm nhỏ
hẹp, vị ấy nếu ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì có thể lợi dụng được. Vì sao?
Vì Sa-môn, Phạm chí kia trống không, không có niệm thân.
“Nếu có Sa-môn, Phạm
chí nào chánh lập an trụ niệm thân, sống với tâm vô lượng, vị ấy nếu ma
Ba-tuần muốn lợi dụng, nhất định không thể được. Vì sao? Vì Sa-môn, Phạm
chí kia không trống không, có niệm thân. Giống như người lực sĩ cầm một
trái cầu nhẹ bằng lông, ném vào một cánh cửa đóng kín, thì Tỳ-kheo nghĩ
sao? Cánh cửa kia có nhận cầu chăng?”
Tỳ-kheo đáp:
“Bạch Thế Tôn, không
thể nhận. Vì sao? Vì trái cầu thì nhẹ mà cánh cửa đứng thẳng, không thể
nhận được”.
“Cũng vậy, nếu có
Sa-môn, Phạm chí nào chánh lập an trụ niệm thân, tâm vô lượng, vị ấy nếu
ma Ba-tuần muốn lợi dụng, nhất định không thể được. Vì sao? Vì Sa-môn,
Phạm chí kia không trống không, có niệm thân.
“Nếu có Sa-môn, Phạm
chí nào không chánh lập an trụ niệm thân, sống với tâm nhỏ hẹp, vị ấy nếu
Ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì có thể lợi dụng được. Vì sao? Vì Sa-môn, Phạm
chí kia trống không, không có niệm thân. Giống như người tìm lửa, lấy củi
khô làm mồi, rồi dùng dùi khô mà dùi thì Tỳ-kheo nghĩ sao? Người kia làm
như vậy có tìm thấy lửa không?”
Tỳ-kheo đáp:
“Bạch Thế Tôn, người
kia tìm thấy lửa. Vì sao? Vì người kia lấy dùi khô mà dùi củi khô, cho nên
chắc chắn tìm thấy lửa”.
“Cũng vậy, nếu có
Sa-môn, Phạm chí nào không chánh lập an trụ niệm thân, tâm nhỏ hẹp, vị ấy
nếu ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì có thể lợi dụng được. Vì sao? Vì Sa-môn,
Phạm chí kia trống không, không có niệm thân.
“Nếu có Sa-môn, Phạm
chí nào chánh lập an trụ niệm thân, sống với tâm vô lượng, vị ấy nếu ma
Ba-tuần muốn lợi dụng, nhất định không thể được. Vì sao? Vì Sa-môn, Phạm
chí kia không trống không, có niệm thân. Giống như người tìm lửa, lấy củi
ướt làm mồi, rồi dùng dùi ướt mà dùi, thì Tỳ-kheo nghĩ sao? Người kia làm
vậy có tìm thấy lửa không?”
Tỳ-kheo đáp:
“Bạch Thế Tôn, người
kia không tìm thấy lửa. Vì sao? Vì người kia lấy cái dùi ướt mà dùi gỗ
ướt, cho nên không tìm thấy lửa”.
“Cũng vậy, nếu có
Sa-môn, Phạm chí nào chánh lập an trụ niệm thân, tâm vô lượng, vị ấy nếu
ma Ba-tuần muốn lợi dụng, nhất định không thể được. Vì sao? Vì Sa-môn,
Phạm chí kia không trống không, có niệm thân.
“Tu tập niệm thân
như vậy, quảng bá như vậy, nên biết có mười tám công đức.
Những gì là mười tám công đức?
“Tỳ-kheo có thể nhẫn
nại những sự đói, khát, nóng, lạnh, muỗi mòng, ruồi nhặng, gió nắng bức
bách, hay gậy đánh, tiếng dữ cũng có thể nhẫn nại. Thân bị bệnh tật hết
sức đau đớn, gần như tuyệt vọng, những điều không xứng ý đều có thể kham
nhẫn. Đây là đức tánh thứ nhất khi tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như
vậy.
“Lại nữa, Tỳ-kheo
kham nhẫn điều không vui thích hoan lạc. Nếu sanh điều không hoan lạc thì
tâm nhất định không dính trước. Đây là đức tánh thứ hai khi tu tập niệm
thân như vậy, quảng bá như vậy.
“Lại nữa, Tỳ-kheo
kham nhẫn sự sợ hãi. Nếu sợ hãi phát sanh thì tâm nhất định không dính
trước. Đây là đức tánh thứ ba khi tu tập niệïm thân như vậy.
“Lại nữa, Tỳ-kheo
sanh ba ác niệm: dục niệm, nhuế niệm, hại niệm. Nếu ba ác niệm phát sanh,
tâm nhất định không dính trước. Đây là đức tánh thứ tư, thứ năm, thứ sáu
và thứ bảy
khi tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy.
“Lại nữa Tỳ-kheo ly
dục, ly pháp ác bất thiện, cho đến chứng đắc đệ Tứ thiền, thành tựu an
trụ. Đây là đức tánh thứ tám khi tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như
vậy.
“Lại nữa, Tỳ-kheo đã
diệt tận ba kết sử, chứng quả Tu-đà-hoàn, không còn đọa vào ác pháp, nhất
định đến chánh giác, chỉ còn thọ sanh tối đa bảy đời nữa. Sau bảy lần qua
lại thiên thượng, nhân gian sẽ chứng đắc khổ biên. Đây là đức tánh thứ
chín khi tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy.
“Lại nữa, Tỳ-kheo đã
diệt tận ba kết sử, dâm, nộ, si đã mỏng, chỉ còn qua lại một lần thiên
thượng nhân gian. Sau một lần qua lại sẽ chứng đắc khổ biên. Đây là đức
tánh thứ mười khi tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy.
“Lại nữa, Tỳ-kheo đã diệt tận năm hạ phần kết sử, sanh vào nơi kia rồi
nhập Niết-bàn, được pháp bất thối, không trở lại đời này. Đây là đức tánh
thứ mười một khi tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy.
“Lại nữa, Tỳ-kheo
nếu có tịch tĩnh giải thoát,
ly sắc, chứng đắc vô sắc, định như vậy,
tự thân tác chứng, thành tựu an trụ, rồi bằng trí tuệ và quán sát để vĩnh
viễn đoạn trừ các lậu. Đây là đức tánh thứ mười hai, mười ba, mười bốn,
mười lăm, mười sáu, mười bảy
khi tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy.
“Lại nữa, Tỳ-kheo
chứng đắc Như ý túc, Thiên nhĩ, Tha tâm trí, Túc mạng trí, Sanh tử trí,
các lậu đã tận diệt, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Ngay trong đời này mà tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu an trụ;
biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã thành, điều cần
làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Đây là đức tánh thứ mười tám khi
tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy.
“Tu tập niệm thân
như vậy, quảng bá như vậy, nên biết, có mười tám công đức này.”
Phật thuyết như vậy.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 7 |
72
|
73
|
74
|
75
76
|
77
|
78
|
79
|
80
|
81
|
82
|
83
|
84
|
85
|
86
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003