SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 7
PHẨM TRƯỜNG THỌ
VƯƠNG
78. KINH PHẠM THIÊN THỈNH PHẬT[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ có một Phạm
thiên
ở cõi trời Phạm thiên, sanh khởi tà kiến như thế này: “Chỗ này là hằng
hữu, chỗ này là thường hữu, chỗ này là trường tồn, chỗ này quan yếu,
chỗ này pháp không hoại diệt,
chỗ này là xuất yếu,
ngoài xuất yếu này không còn xuất yếu nào khác nữa mà có đấng Tối thắng,
Tối diệu, Tối thượng”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
bằng tha tâm trí, biết rõ tâm niệm của Phạm thiên đang nghĩ, liền như vậy
mà nhập định.
Với định như vậy, chỉ trong khoảnh khắc ví như người lực sĩ co duỗi cánh
tay Ngài biến mất khỏi vườn Cấp cô độc, trong rừng Thắng tại nước Xá-vệ,
đi lên cõi trời Phạm.
Lúc ấy, Phạm thiên
trông thấy Đức Thế Tôn đi đến, liền chào hỏi:
“Kính chào Đại Tiên nhân, chỗ này là thường hữu, chỗ này là hằng hữu, chỗ
này là trường tồn, chỗ này là quan yếu, chỗ này là pháp không hoại diệt,
chỗ này là xuất yếu, và ngoài xuất yếu này không còn xuất yếu nào hơn nữa
mà có bậc Tối thắng, Tối diệu, Tối thượng”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
bảo:
“Này Phạm thiên, cái
không thường, ông bảo là thường; cái không hằng, ông bảo là hằng; cái
không trường tồn, ông bảo là trường tồn; cái không quan yếu, ông bảo là
quan yếu; cái hoại diệt, ông bảo là không hoại diệt; cái không xuất yếu,
ông bảo là xuất yếu mà ngoài sự xuất yếu ấy, không còn xuất yếu nào khác
nữa để có đấng Tối thắng, Tối diệu, Tối thượng. Phạm thiên, ông có cái vô
minh ấy! Phạm thiên, ông có cái vô minh ấy!”
Lúc đó, có ma
Ba-tuần
ở trong chúng, ma Ba-tuần nói với Đức Thế Tôn rằng:
“Này Tỳ-kheo, chớ nên trái điều Phạm thiên nói, chớ nên nghịch điều Phạm
thiên nói. Tỳ-kheo, nếu ông trái điều Phạm thiên nói, nghịch điều Phạm
thiên nói thì, Tỳ-kheo, cũng như người gặp vận may mà lại xua đuổi đi. Lời
Tỳ-kheo nói ra, lại cũng như vậy. Cho nên, Tỳ-kheo, tôi bảo ông rằng ông
chớ trái điều Phạm thiên nói, chớ nên nghịch điều Phạm thiên nói. Này
Tỳ-kheo, nếu ông trái lời Phạm thiên, chống đối thuyết của Phạm thiên thì,
Tỳ-kheo, cũng như người từ núi cao rơi xuống, tuy dang tay chân quờ quạng
hư không nhưng không bám víu được gì. Lời Tỳ-kheo nói ra lại cũng như vậy.
Cho nên, Tỳ-kheo, tôi bảo ông rằng ông chớ trái điều Phạm thiên nói, chớ
nên nghịch điều Phạm thiên nói. Này Tỳ-kheo, nếu ông trái điều Phạm thiên
nói, nghịch điều Phạm thiên nói thì, Tỳ-kheo, cũng như người từ trên cây
cao rơi xuống, tuy dang tay chân quờ quạng lá cành nhưng chẳng bám víu
được gì. Lời Tỳ-kheo nói ra lại cũng như vậy. Cho nên, này Tỳ-kheo, tôi
bảo ông rằng ông chớ nên trái điều Phạm thiên nói, chớ nên nghịch điều
Phạm thiên nói. Vì sao? Vì Phạm thiên là đấng Phước hựu, là Hóa công, là
đấng Tối tôn, là đấng Năng tác, là đấng Sáng tạo, là Tổ phụ của tất cả
chúng sanh đã sanh và sẽ sanh. Tất cả đều do Ngài sanh ra. Những gì Ngài
biết là trọn biết, những gì Ngài thấy là trọn thấy.
“Đại Tiên nhân, nếu
có Sa-môn, Phạm chí nào ghét đất, chê bai đất, thì sau khi thân hoại mạng
chung, chắc chắn sanh làm thần kỹ nhạc trong chốn hạ tiện nhất. Cũng thế,
đối với nước, lửa, gió, quỷ thần,
chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên, nếu ai ghét Phạm thiên, chê bai Phạm
thiên, thì sau khi thân hoại mạng chung, chắc chắn sanh làm thần kỹ nhạc
trong chốn hạ tiện nhất. Đại Tiên nhân, nếu có Sa-môn, Phạm chí nào ưa
thích đất, ca ngợi đất thì sau khi thân hoại mạng chung, chắc chắn sanh
làm bậc tối Thượng tôn trong cõi trời
Phạm thiên. Cũng thế, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, chư Thiên, Sanh
chủ, Phạm thiên, nếu ai ưa thích Phạm thiên, tán thán Phạm thiên, thì sau
khi thân hoại mạng chung, chắc chắn sanh làm bậc tối Thượng tôn trong cõi
trời Phạm thiên. Đại Tiên nhân, ông há không thấy đại quyến thuộc của Phạm
thiên ấy, chẳng hạn như bọn chúng tôi đang ngồi đây chăng?”
Ma Ba-tuần chẳng
phải là Phạm thiên, chẳng phải quyến thuộc của Phạm thiên, nhưng lại xưng
mình là Phạm thiên. Bấy giờ Đức Thế Tôn nghĩ rằng: “Ma Ba-tuần chẳng phải
là Phạm thiên, cũng chẳng phải quyến thuộc của Phạm thiên, lại tự xưng là
Phạm thiên. Nếu nói rằng có ma Ba-tuần thì đây chính là ma Ba-tuần”.
Biết rõ như vậy, Đức
Thế Tôn bảo:
“Này ma Ba-tuần,
ngươi chẳng phải Phạm thiên, cũng chẳng phải quyến thuộc của Phạm thiên,
nhưng ngươi tự xưng rằng ‘Ta là Phạm thiên’. Nếu nói rằng có ma Ba-tuần,
thì chính ngươi là ma Ba-tuần”.
Lúc ấy, ma Ba-tuần
liền nghĩ: “Thế Tôn đã biết ta! Thiện Thệ đã biết ta!” Biết như thế nên
rất đổi ưu sầu, vụt biến mất nơi ấy.
Bấy giờ, Phạm thiên
ấy lại ba lần thưa thỉnh Đức Thế Tôn rằng:
“Kính chào Đại Tiên
Nhân, chỗ này là thường hữu, chỗ này là trường tồn, chỗ này là quan yếu,
chỗ này là pháp không hoại diệt, chỗ này là xuất yếu, ngoài xuất yếu này
không còn xuất yếu nào hơn nữa mà có đấng Tối thắng, Tối diệu, Tối tôn?!
Đức Thế Tôn cũng ba
lần bảo Phạm Thiên rằng:
“Này Phạm thiên, cái
không thường, ông bảo là thường; cái không hằng, ông bảo là hằng; cái
không trường tồn, ông bảo là trường tồn; cái không quan yếu, ông bảo là
quan yếu; cái hoại diệt, ông bảo là không hoại diệt; cái không xuất yếu,
ông bảo là xuất yếu mà ngoài sự xuất yếu ấy, không còn xuất yếu nào khác
nữa để có đấng Tối thắng, Tối diệu, Tối thượng. Phạm thiên, ông có cái vô
minh ấy! Phạm thiên, ông có cái vô minh ấy!”
Rồi thì, Phạm thiên
bạch Thế Tôn rằng:
“Đại Tiên nhân, thuở
xưa có Sa-môn, Phạm chí thọ mạng rất lâu dài. Đại Tiên nhân, thọ mạng của
ông ngắn quá, không bằng một khoảnh khắc ngồi yên của Sa-môn, Phạm chí
kia. Vì sao? Vì những gì các vị ấy biết là trọn biết, những gì các vị ấy
thấy là trọn thấy. Nếu thật có sự xuất yếu, ngoài sự xuất yếu ra không còn
xuất yếu nào hơn nữa mà có bậc Tối thắng, Tối diệu, Tối thượng thì các vị
ấy biết ngay rằng có; và ngoài xuất yếu ấy ra, không còn sự xuất yếu nào
hơn nữa mà có bậc Tối thắng, Tối diệu, Tối thượng. Nếu thật không có sự
xuất yếu, lại không có ngoài xuất yếu nào hơn nữa mà có bậc Tối thắng, Tối
diệu, Tối thượng thì các vị ấy biết ngay là không có. Đại Tiên nhân, đối
với chỗ xuất yếu ông nghĩ là không xuất yếu. Trái lại, đối với chỗ không
phải là xuất yếu, ông nghĩ là xuất yếu. Như vậy, ông không đạt được chỗ
xuất yếu và trở thành kẻ đại si. Vì sao? Vì sẽ không bao giờ có cảnh giới
ấy cho ông.
“Đại Tiên nhân, nếu
có Sa-môn, Phạm chí nào ưa thích đất, ca ngợi đất, thì vị ấy tùy theo sự
tự tại của ta, làm theo ý ta muốn, vâng theo mệnh lệnh ta sai. Cũng thế,
đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên; nếu ai
ưa thích Phạm thiên, ca ngợi Phạm thiên thì vị ấy tùy theo sự tự tại của
ta, làm theo ý muốn của ta, vâng theo mệnh lệnh ta sai. Đại Tiên nhân, nếu
ông ưa thích đất, ca ngợi đất, thì ông cũng tùy theo sự tự tại của ta, làm
theo ý ta muốn, vâng theo mệnh lệnh ta sai. Cũng thế, với nước, lửa, gió,
quỷ thần, chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên; nếu ông ưa thích Phạm thiên, ca
ngợi Phạm thiên thì ông cũng tùy theo sự tự tại của ta, làm theo ý ta
muốn, vâng theo mệnh lệnh ta sai”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
nói rằng:
“Phạm thiên, điều
Phạm thiên nói sự thật. Nếu có Sa-môn, Phạm chí nào ưa thích đất, ca ngợi
đất, vị ấy tùy theo sự tự tại của ông, làm theo ý ông muốn, vâng theo mệnh
lệnh ông sai. Cũng vậy, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, chư Thiên, Sanh
chủ, Phạm thiên; nếu ai ưa thích Phạm thiên, ca ngợi Phạm thiên thì vị ấy
tùy theo sự tự tại của ông, làm theo ý ông muốn, vâng theo mệnh lệnh của ông sai. Và này Phạm thiên, nếu Ta ưa thích đất, ca ngợi đất thì
Ta cũng tùy theo sự tự tại của ông, làm theo ý ông muốn và vâng theo mệnh
lệnh của ông sai. Cũng thế, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, chư Thiên,
Sanh chủ, Phạm thiên; nếu Ta ưa thích Phạm thiên, ca ngợi Phạm thiên thì
Ta cũng tùy theo sự tự tại của ông, làm theo ý ông muốn, vâng theo mệnh
lệnh ông sai.
“Nhưng này Phạm
thiên, nếu tám sự kiện này,
Ta tùy theo mỗi sự mà ưa thích, mà ca ngợi, thì những điều ấy cũng vẫn như
thế. Này Phạm thiên, Ta biết rõ ông từ đâu đến và sẽ đi đâu, tùy nơi ông
đang sống, tùy chỗ ông mất, và tùy chốn ông tái sanh. Nếu có Phạm thiên
thì Phạm thiên ấy có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có
đại oai thần”.
Nghe vậy, Phạm thiên
bạch Thế Tôn rằng:
“Đại Tiên nhân, làm
thế nào ông biết được điều ta biết, thấy được điều ta thấy? Làm sao ông
biết rõ ta như mặt trời, tự tại soi sáng khắp nơi, bao trùm cả một ngàn
thế giới? Ông có tự tại không, trong một ngàn thế giới ấy? Ông có biết nơi
này và nơi kia, nơi nào không có ngày đêm không? Này Đại Tiên nhân, ông có
lần nào qua lại các nơi ấy chưa? Hay đã nhiều lần qua lại các nơi ấy rồi?”
Bấy giờ Đức Thế Tôn
bảo:
“Này Phạm thiên, như
mặt trời tự tại, soi sáng khắp nơi, bao trùm cả một ngàn thế giới. Trong
ngàn thế giới ấy, Ta được tự tại và cũng biết này hay nơi kia, không có
ngày đêm. Này Phạm thiên, Ta đã từng qua lại những nơi ấy và qua lại rất
nhiều lần. Này Phạm thiên, có ba loại trời, đó là Quang thiên, Tịnh quang
thiên và Biến tịnh quang thiên.
Nếu những gì mà ba loại trời ấy có biết và có thấy, thì Ta cũng có biết và
có thấy. Phạm thiên, những gì mà ba loại trời đó không có biết, không có
thấy, thì riêng Ta vẫn có biết, có thấy. Này Phạm thiên, nếu những gì mà
ba loại trời ấy và quyến thuộc của họ có biết và có thấy thì Ta cũng có
biết và có thấy. Những gì mà ba loại trời ấy và quyến thuộc họ không biết,
không thấy, thì riêng Ta vẫn có biết, có thấy. Này Phạm thiên, những gì mà
ông có biết, có thấy, Ta cũng có biết, có thấy. Những gì mà ông không có
biết, có thấy, thì riêng Ta vẫn có biết, có thấy. Này Phạm thiên, nếu
những gì mà ông và những quyến thuộc của ông có biết, có thấy, thì Ta cũng
có biết, có thấy. Những gì mà ông và quyến thuộc của ông không có biết, có
thấy, thì riêng Ta vẫn có biết, có thấy. Này Phạm thiên, ông không thể
ngang hàng Ta về tất cả, ông không thể ngang hàng Ta suốt hết. Nhưng đối
với ông, Ta là Tối thắng, Ta là Tối thượng.
Nghe vậy, Phạm thiên
thưa Đức Thế Tôn rằng:
“Này Đại Tiên nhân,
do đâu mà nếu những gì mà ba loại trời ấy có biết và có thấy, thì ông cũng
có biết và có thấy; những gì mà ba loại trời đó không có biết, không có
thấy, thì riêng ông vẫn có biết, có thấy? Nếu những gì mà ba loại trời ấy
và quyến thuộc của họ có biết và có thấy thì ông cũng có biết và có thấy;
những gì mà ba loại trời ấy và quyến thuộc họ không biết, không thấy, thì
riêng ông vẫn có biết, có thấy? Nếu những gì mà ta có biết, có thấy, ông
cũng có biết, có thấy; những gì mà ta không có biết, có thấy, thì riêng
ông vẫn có biết, có thấy? Nếu những gì mà ta và những quyến thuộc của ta
có biết, có thấy, thì ông cũng có biết, có thấy; những gì mà ta và quyến
thuộc của ta không có biết, có thấy, thì riêng ông vẫn có biết, có thấy?
Đại Tiên nhân đó không phải là lời nói khoác chăng? Sau khi hỏi xong,
không biết có tăng thêm sự ngu si chăng? Vì sao? Vì nếu biết vô lượng cảnh
giới nên có vô lượng biết, vô lượng thấy, vô lượng chủng loại phân biệt.
Trái lại, ta thì biết riêng rẽ từng cái. Là đất, ta biết đó là đất. Là
nước, lửa, gió, quỷ thần, chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên, cũng giống như
thế. Là Phạm thiên, ta biết đó là Phạm thiên”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
bảo rằng:
“Này Phạm thiên, nếu
có Sa-môn, Phạm chí nào đối với đất mà có tưởng về đất rằng: ‘Đất là ta,
đất là sở hữu của ta, ta là sở hữu của đất’, thì khi chấp đất là ta tức
không biết rõ đất. Cũng thế, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, chư Thiên,
Sanh chủ, Phạm thiên, Vô phiền thiên, Vô nhiệt và Tịnh;
nếu nghĩ rằng: ‘Tịnh là ta, Tịnh là sở hữu của ta, ta là sở hữu của Tịnh’,
khi chấp nhận Tịnh là ta rồi, vị ấy không thực biết về Tịnh. Phạm thiên,
nếu có Sa-môn, Phạm chí nào đối với đất mà biết là đất, ‘Đất không phải là
ta, đất không phải là sở hữu của ta, ta không phải là sở hữu của đất,’ do
không chấp đất là ta nên vị ấy mới thực biết về đất. Cũng thế, đối với
nước, lửa, gió, quỷ thần, Sanh chủ, chư Thiên, Phạm thiên, Vô phiền, Vô
nhiệt, Tịnh mà nghĩ rằng ‘Tịnh chẳng phải là ta, Tịnh chẳng phải là sở hữu
của ta, ta chẳng phải là sở hữu của Tịnh,’ do không chấp Tịnh là ta nên vị
ấy mới thật sự biết về Tịnh.
Nghe vậy, Phạm thiên
thưa với Đức Thế Tôn rằng:
“Chúng sanh này, ai
cũng ái trước hữu, ưa thích hữu, tập quán hữu. Chỉ có ông đã nhỗ tận gốc
rễ hữu. Vì sao? Vì ông là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác”.
Phạm thiên liền nói
bài kệ:
Nơi hữu thấy sợ
hãi;
Không hữu thấy sợ
gì?
Cho nên đừng ưa
hữu;
Hữu làm sao chẳng
dứt?
“Này Đại Tiên nhân,
tôi nay muốn ẩn hình”.
Đức Thế Tôn bảo:
“Này Phạm thiên, nếu
ông muốn ẩn mình thì cứ tùy tiện”.
Phạm thiên liền ẩn
hình ngay nơi đó. Đức Thế Tôn thấy rõ, liền nói:
“Phạm thiên, ông ở
chỗ này. Ông đến chỗ kia. Ông lại ở giữa”.
Phạm thiên vận dụng
hết như ý túc, muốn tự ẩn hình mà không thể tự ẩn, nên hiện hình trở lại
giữa cõi trời Phạm thiên.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
mới bảo:
“Này Phạm thiên, Ta
cũng muốn ẩn mình”.
Phạm thiên thưa
rằng:
“Đại Tiên nhân, nếu
muốn ẩn mình, xin cứ tùy tiện”.
Lúc ấy, Đức Phật
nghĩ rằng: “Ta hãy như vậy mà hóa hiện như ý túc,
phóng hào quang cực sáng, chiếu rọi cùng khắp cõi trời Phạm thiên, rồi ẩn
hình trong đó, khiến cho Phạm thiên và quyến thuộc của Phạm thiên chỉ nghe
tiếng mà không thấy hình Ta”.
Nghĩ xong, Đức Thế
Tôn hiện như ý túc như vậy, phóng hào quang cực sáng, chiếu rọi khắp cõi
trời Phạm thiên. Phạm thiên và quyến thuộc chỉ nghe tiếng mà không thấy
hình Ngài. Bấy giờ Phạm thiên và quyến thuộc mới nghĩ rằng: “Sa-môn Cù-đàm
thật là kỳ diệu, thật là hy hữu, có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại
phước hựu, có đại oai thần. Vì sao? Vì đã phóng hào quang chiếu sáng,
chiếu rọi khắp cả trời Phạm thiên, rồi tự ẩn hình trong đó, khiến cho
chúng ta chỉ được nghe tiếng mà không thấy hình”.
“Lúc ấy, Đức Thế Tôn
lại nghĩ rằng: “Ta đã giáo hóa Phạm thiên này và quyến thuộc của Phạm
thiên. Nay Ta hãy thu hồi như ý túc”.
“Đức Thế Tôn liền
thu hồi như ý túc, hiện ra giữa cõi trời Phạm thiên. Khi ấy Ma vương cũng
liền xuất hiện trong chúng Phạm thiên. Bấy giờ Ma vương liền bạch Thế Tôn
rằng:
“Đại Tiên nhân, ông
thật khéo thấy, khéo biết, khéo thông suốt, nhưng ông chớ nên giáo huấn,
chớ nên dìu dắt đệ tử, chớ nói pháp cho đệ tử nghe, chớ luyến ái đệ tử.
Chớ vì luyến ái đệ tử mà khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào nơi thấp
kém, sanh trong loại thần kỹ nhạc. Hãy sống vô vi mà hưởng thụ an ổn khoái
lạc trong đời hiện tại. Vì sao? Đại Tiên nhân, vì đó là tự gây phiền nhiệt
vô ích. Đại Tiên nhân, xưa có Sa-môn, Phạm chí giáo huấn đệ tử, dìu dắt đệ
tử, nói pháp cho đệ tử nghe, luyến ái đệ tử. Vì luyến ái đệ tử nên khi
thân hoại mạng chung, vị ấy đã sanh vào những nơi thấp kém, sanh làm thần
kỹ nhạc. Đại Tiên nhân, vì thế tôi bảo ông chớ nên giáo huấn đệ tử và dìu
dắt đệ tử, cũng đừng nói pháp cho đệ tử nghe, chớ luyến ái đệ tử. Vì luyến
ái đệ tử, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào nơi thấp kém, làm thần
kỹ nhạc. Hãy sống vô vi mà hưởng thụ khoái lạc trong đời hiện tại. Vì sao?
Vì đó là tự gây phiền nhọc vô ích mà thôi”.
Khi ấy, Phật bảo
rằng:
“Ma Ba-tuần, ngươi
chẳng phải vì mong cầu nghĩa lợi cho Ta, chẳng phải vì mong cầu sự hữu
ích, chẳng phải vì mưu cầu hoan lạc, cũng chẳng phải mưu cầu sự an ổn cho
Ta mà nói với Ta rằng: ‘Đừng giáo huấn, dìu dắt đệ tử, đừng nói pháp cho
đệ tử nghe, đừng luyến ái đệ tử. Vì sao? Vì luyến ái đệ tử thì sau khi
thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào nơi thấp kém, sanh làm thần kỹ nhạc. Hãy
sống mà hưởng thụ khoái lạc ngay trong đời hiện tại. Vì sao vậy? Đại Tiên
nhân, vì đó là sự gây phiền nhọc vô ích mà thôi’. Ma Ba-tuần, Ta biết
ngươi đang nghĩ rằng ‘Sa-môn Cù-đàm này nói pháp cho đệ tử nghe, sau khi
nghe xong, các đệ tử ấy sẽ ra khỏi cảnh giới của ta’. Này ma Ba-tuần, vì
thế cho nên ngươi nói với Ta rằng: ‘Đừng giáo huấn, dìu dắt đệ tử, đừng
nói pháp cho đệ tử nghe, cũng đừng luyến ái đệ tử, thì sau khi thân hoại
mạng chung sẽ sanh vào cảnh giới thấp kém, sanh làm thần kỹ nhạc. Hãy sống
vô vi mà hưởng thụ khoái lạc an ổn ngay trong đời hiện tại. Vì sao vậy?
–Này Đại Tiên nhân, vì đó là sự gây phiền nhiệt vô ích mà thôi’.
“Ma Ba-tuần, nếu quả
có Sa-môn, Phạm chí nào đã giáo huấn đệ tử, dìu dắt đệ tử, nói pháp cho đệ
tử nghe và luyến ái đệ tử; vì luyến ái đệ tử nên thân hoại mạng chung đã
sanh vào nơi thấp kém, làm thần kỹ nhạc thì Sa-môn, Phạm chí ấy chẳng phải
là Sa-môn mà tự xưng là Sa-môn, chẳng phải là Phạm chí mà tự xưng là Phạm
chí, chẳng phải A-la-hán mà tự xưng là A-la-hán, chẳng phải Đẳng chánh
giác mà tự xưng Đẳng chánh giác.
“Này ma Ba-tuần, Ta
là Sa-môn thực nên mới xưng là Sa-môn, thực là Phạm chí nên mới xưng là
Phạm chí, thực là A-la-hán nên mới xưng là A-la-hán, thực là Đẳng chánh
giác nên mới xưng là Đẳng chánh giác. Này ma Ba-tuần, nếu Ta có nói pháp
hay không nói pháp cho đệ tử nghe thì ngươi cũng nên đi đi. Nay Ta tự biết
nên nói pháp cho đệ tử nghe hay không nên nói pháp cho đệ tử nghe.
“Đó là sự thỉnh cầu
Phạm thiên, sự chống đối của ma Ba-tuần, sự tùy thuận thuyết pháp của Đức
Thế Tôn, cho nên kinh này gọi là “Phạm thiên thỉnh Phật”.
Phật thuyết như vậy.
Phạm thiên và quyến thuộc của Phạm thiên sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ
phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 7 |
72
|
73
|
74
|
75
76
|
77
|
78
|
79
|
80
|
81
|
82
|
83
|
84
|
85
|
86
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003