SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 7
PHẨM TRƯỜNG THỌ
VƯƠNG
76. KINH ÚC-GIÀ-CHI-LA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại Úc-già-chi-la,
ở bên bờ hồ Hằng thủy. Bấy giờ, một Tỳ-kheo vào lúc xế, từ chỗ tĩnh tọa
đứng dậy, đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua
một bên, bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, mong
Thế Tôn khéo léo thuyết pháp ngắn gọn cho con. Được nghe pháp Đức Thế Tôn
dạy, con sẽ sống cô độc tại nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tu hành tinh
cần. Nhân sống cô độc tại nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tu hành tinh
cần để đạt đến cứu cánh mà một thiện nam tử đã cạo bỏ râu tóc, mặc áo
ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo là
để đạt được vô thượng phạm hạnh, ngay trong đời này tự tri tự giác, tự
thân tác chứng, thành tựu an trú, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã
dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa”.
Đức Thế Tôn bảo:
“Tỳ-kheo hãy tu học
như vậy, để khiến được an trú bên trong, bất động, vô lượng, khéo tu tập.
Lại quán nội thân như thân, thực hành hết sức tinh cần, vững chánh niệm
chánh trí, khéo tự chế ngự tâm, khiến lìa bỏn sẻn tham lam, ý không sầu
não. Lại quán ngoại thân như thân, thực hành hết sức tinh cần, vững chánh
niệm chánh trí, khéo tự chế ngự tâm, khiến xa lìa bỏn sẻn tham lam, ý
không sầu não. Lại quán nội ngoại thân như thân, thực hành hết sức tinh
cần, vững chánh niệm chánh trí, khéo tự chế ngự tâm, khiến cho xa lìa bỏn
sẻn tham lam, ý không sầu não. Này Tỳ-kheo, với định như vậy, khi tới, khi
lui, hãy khéo tu tập; lúc đứng, lúc ngồi, lúc nằm, lúc ngủ, lúc thức, lúc
tỉnh dậy, cũng đều tu tập như vậy.
“Lại nữa, cũng nên
tu tập định có giác có quán, định không giác ít quán, tu tập định không
giác không quán; cũng nên tu tập về định câu hữu với hỷ, định câu hữu với
lạc, định câu hữu với định, định câu hữu với xả.
“Này Tỳ-kheo, nếu tu
tập các định này, tu một cách khéo léo thì này Tỳ-kheo, phải tu thêm quán
nội thọ như thọ, thực hành hết sức tinh cần, giữ vững chánh niệm chánh
trí, khéo tự chế ngự tâm, khiến xa lìa bỏn sẻn tham lam, ý không sầu não.
Lại quán ngoại thọ như thọ, thực hành hết sức tinh cần, giữ vững chánh
niệm chánh trí, khéo tự chế ngự tâm, khiến lìa bỏn sẻn tham lam, ý không
sầu não. Lại quán nội ngoại thọ như thọ, thực hành hết sức tinh cần, giữ
vững chánh niệm chánh trí, khéo tự chế ngự tâm, khiến xa lìa bỏn sẻn tham
lam, ý không sầu não. Này Tỳ-kheo, với định như thế, lúc đi, lúc đến, hãy
khéo tu tập. Lúc đứng, lúc ngồi, lúc nằm, lúc ngủ, lúc thức, lúc tỉnh dậy,
cũng đều tu tập như thế.
“Lại nữa, cũng nên
tu tập định câu hữu với hỷ, định câu hữu với lạc, định câu hữu với định,
định câu hữu với xả. Này Tỳ-kheo, nếu tu tập các định này, tu tập một cách
khéo léo thì nên tu thêm quán nội tâm như tâm, thực hành hết sức tinh cần,
giữ vững chánh niệm chánh trí, khéo chế ngự tâm, khiến xa lìa bỏn sẻn tham
lam, ý không sầu não. Lại nên quán ngoại tâm như tâm, thực hành hết sức
tinh cần, giữ vững chánh niệm chánh trí, khéo chế ngự tâm, khiến xa lìa
bỏn sẻn tham lam, ý không sầu não. Lại nên quán nội ngoại tâm như tâm,
thực hành hết sức tinh cần, giữ vững chánh niệm chánh trí, khéo chế ngự
tâm, khiến xa lìa bỏn sẻn tham lam, ý không sầu não. Này Tỳ-kheo, với định
như thế, lúc đi, lúc đến hãy khéo tu tập. Lúc đứng, lúc ngồi, lúc nằm, lúc
ngủ, lúc thức, lúc tỉnh dậy, cũng đều tu tập như vậy.
“Lại nữa, cũng nên
tu tập định có giác có quán, định không giác ít quán, định không giác
không quán. Cũng nên tu tập định câu hữu với hỷ, định câu hữu với lạc,
định câu hữu với xả.
“Này Tỳ-kheo, nếu tu
tập các định này, tu một cách khéo léo thì nên tu thêm quán nội pháp như
pháp, thực hành hết sức tinh cần, giữ vững chánh niệm chánh trí, khéo chế
ngự tâm, khiến xa lìa bỏn sẻn tham lam, ý không sầu não. Lại quán ngoại
pháp như pháp, thực hành hết sức tinh cần, giữ vững chánh niệm chánh trí,
khéo chế ngự tâm, khiến xa lìa bỏn sẻn tham lam, ý không sầu não. Lại quán
nội ngoại pháp như pháp, thực hành hết sức tinh cần, giữ vững chánh niệm
chánh trí, khéo chế ngự tâm, khiến xa lìa bỏn sẻn tham lam, ý không sầu
não. Này Tỳ-kheo, với định như thế, lúc đi lúc đến, hãy khéo tu tập. Lúc
đứng, lúc ngồi, lúc nằm, lúc ngủ, lúc thức, lúc tỉnh dậy, cũng đều tu tập
như vậy.
“Lại nữa, nên tu tập
định có giác có quán, định không giác ít quán, định không giác không quán,
cũng nên tu tập định câu hữu với hỷ, định câu hữu với lạc, định câu hữu
với định, định câu hữu với xả. Này Tỳ-kheo, nếu tu tập các định này, tu
tập một cách khéo léo thì này Tỳ-kheo, tâm hãy cùng với từ tương ưng, biến
mãn một phương, thành tựu và an trú. Cũng như vậy, hai, ba bốn phương,
phương trên, phương dưới, châu biến cùng khắp, tâm cùng với từ tương ưng,
không kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng rãi bao la, vô lượng,
khéo tu tập, biến mãn cùng khắp thế gian, thành tựu và an trú. Này
Tỳ-kheo, nếu ngươi tu tập các định này, tu một cách khéo léo thì nên an
trụ phương Đông, chắc chắn được an lạc, không có các tai hoạn đau khổ. Nếu
an trụ phương Nam, phương Tây và phương Bắc, chắc chắn an lạc, không có
các tai hoạn đau khổ.
“Này Tỳ-kheo, nếu ngươi tu tập các định này một cách khéo léo, đối với các
thiện mà ngươi đã an trú, Ta không còn nói đến, huống là sự suy thoái. Các
pháp thiện cứ ngày đêm tăng trưởng, chứ không suy thoái.
“Này Tỳ-kheo, nếu
ngươi tu tập các định này, tu một cách khéo léo thì trong hai quả, chắc
chắn sẽ đắc một, hoặc ngay trong đời này đắc cứu cánh trí. Hoặc nếu còn
hữu dư thì chứng đắc A-na-hàm”.
Bấy giờ vị Tỳ-kheo
ấy nghe những lời Đức Phật dạy, khéo léo thọ trì, liền từ chỗ ngồi đứng
dậy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Phật, đi quanh ba vòng rồi lui ra. Vị ấy
thọ trì pháp của Phật, sống cô độc tại nơi xa vắng, tâm không phóng dật,
tu hành tinh cần. Nhân sống tại nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tu hành
tinh cần, đạt đến cứu cánh mà một thiện nam tử đã cạo bỏ râu tóc, mặc áo
ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo là
duy chỉ cầu đắc vô thượng phạm hạnh, ngay trong đời hiện tại tự tri, tự
giác, tự thân chứng đắc, thành tựu an trú, biết một cách như thật rằng ‘Sự
sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, việc cần làm đã làm xong, không còn tái
sanh nữa’. Tôn giả đã biết pháp, đắc A-la-hán.
Phật thuyết như vậy.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 7 |
72
|
73
|
74
|
75
76
|
77
|
78
|
79
|
80
|
81
|
82
|
83
|
84
|
85
|
86
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003