SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 7
PHẨM TRƯỜNG THỌ
VƯƠNG
75. KINH TỊNH BẤT ĐỘNG ĐẠO[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại Câu-lâu-sấu, ở Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của Câu-lâu.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Dục là vô thường,
hư ngụy, giả dối.
Đã là pháp giả dối thì huyễn hóa, khi cuống, ngu si.
Dầu là dục của đời nay hay là dục của đời sau,
tất cả đều là cảnh giới của ma, là miếng mồi của ma. Nhân những thứ ấy mới
sanh ra vô lượng pháp ác bất thiện, tham lam,
sân nhuế và đấu tranh,
làm chướng ngại cho sự tu học của Thánh đệ tử.
“Đa văn Thánh đệ tử
nên quán như vầy, ‘Thế Tôn nói rằng dục là vô thường, hư ngụy, giả dối,
huyễn hóa, khi cuống, ngu si. Dù là dục của đời này hay dục của đời sau,
dù là sắc của đời này hay sắc của đời sau, tất cả đều là cảnh giới của ma,
là miếng mồi của ma. Nhân những thứ ấy, tâm mới sanh ra vô lượng pháp ác
bất thiện, tham lam, sân nhuế và đấu tranh, làm chướng ngại sự tu học của
Thánh đệ tử’.
“Rồi vị ấy có thể suy nghĩ như vầy: ‘Ta có thể chứng đắc đại tâm, thành
tựu và an trú, nhiếp phục thế gian, nhiếp trì tâm ấy. Nếu ta chứng đắc đại
tâm, thành tựu và an trú, nhiếp phục thế gian, nhiếp trì tâm ấy thì tâm
như thế không sanh ra vô lượng pháp ác bất thiện, tham lam, sân nhuế và
đấu tranh, làm chướng ngại sự tu học của Thánh đệ tử’.
“Vị ấy bằng sự hành
này, bằng sự học này, như vậy mà tu tập để phát triển rộng lớn, liền ở nơi
xứ mà tâm được minh tịnh. Sau khi tâm đã minh tịnh ở nơi xứ, Tỳ-kheo ấy,
hoặc nhờ đó mà nhập vào bất động,
hoặc do tuệ mà giải thoát.
Về sau, khi thân hoại mạng chung, nhân tâm ý đã có sẵn ấy,
chắc chắn đạt đến bất động. Đó gọi là thuyết Tịnh bất động đạo
thứ nhất.
“Lại nữa, Đa văn
Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Những gì là sắc, tất cả những sắc ấy là
bốn đại và bốn đại tạo thành. Bốn đại ấy là pháp vô thường, khổ và diệt’.
Vị ấy bằêng sự hành này, bằng sự học này, như vậy mà tu tập để phát triển
rộng lớn, liền ở nơi xứ mà tâm được minh tịnh. Sau khi tâm đã minh tịnh ở
nơi xứ, Tỳ-kheo ấy, hoặc nhờ đó mà nhập vào bất động, hoặc do tuệ mà giải
thoát. Về sau, khi thân hoại mạng chung, nhân tâm ý đã có sẵn ấy, chắc
chắn đạt đến bất động. Đó gọi là thuyết Tịnh bất động đạo thứ hai.
“Lại nữa, Đa văn
Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Dù là dục của đời này hay dục của đời
sau, dù là sắc đời này hay sắc đời sau, dù là dục tưởng của đời này hay
dục tưởng của đời sau, dù là sắc tưởng của đời này hay sắc tưởng của đời
sau, tất cả tưởng ấy đều là pháp vô thường, khổ và diệt’. Vị ấy bằêng sự
hành này, bằng sự học này, như vậy mà tu tập để phát triển rộng lớn, liền
ở nơi xứ mà tâm được minh tịnh. Sau khi tâm đã minh tịnh ở nơi xứ, Tỳ-kheo
ấy, hoặc nhờ đó mà nhập vào bất động, hoặc do tuệ mà giải thoát. Về sau,
khi thân hoại mạng chung, nhân tâm ý đã có sẵn ấy, chắc chắn đạt đến bất
động. Đó gọi là thuyết Tịnh bất động đạo thứ ba.
“Lại nữa, Đa văn
Thánh đệ tử nên quán thế này: ‘Dù là dục tưởng của đời này hay dục tưởng
của đời sau, dù là sắc tưởng của đời này hay sắc tưởng của đời sau, và bất
động tưởng, tất cả tưởng đều là pháp vô thường, khổ và diệt’. Vị ấy bấy
giờ đắc Vô sở hữu xứ tưởng. Vị ấy bằêng sự hành này, bằng sự học này, như
vậy mà tu tập để phát triển rộng lớn, liền ở nơi xứ mà tâm được minh tịnh.
Sau khi tâm đã minh tịnh ở nơi xứ, Tỳ-kheo ấy, hoặc nhờ đó mà nhập vào bất
động, hoặc do tuệ mà giải thoát. Về sau, khi thân hoại mạng chung, nhân
tâm ý đã có sẵn ấy, chắc chắn đạt đến bất động. Đó là gọi là thuyết Tịnh
vô sở hữu xứ đạo thứ nhất.
“Lại nữa, Đa văn
Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Thế gian này là không, quỷ thần không,
sở hữu của quỷ thần không, cái hữu thường không, cái hữu hằng không, cái
trường tồn không, cái không biến dịch không’. Vị ấy hành như vậy, học như
vậy, tu tập và phát triển như vậy thì ở nơi xứ mà tâm được minh tịnh. Sau
khi ở nơi xứ mà tâm được minh tịnh, Tỳ-kheo ấy hoặc nhờ đó mà tâm nhập Vô
sở hữu xứ, hoặc do tuệ mà giải thoát. Về sau, khi thân hoại mạng chung,
nhân tâm ý đã có sẵn ấy, chắc chắn đạt đến Vô sở hữu xứ. Đó là trường hợp
thứ hai được gọi là Tịnh vô sở hữu xứ đạo.
“Lại nữa, Đa văn
Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Ta không phải được tạo ra vì cái khác,
cũng không phải được tạo ra vi chính mình’.
Vị ấy hành như vậy, học như vậy, tu tập và phát triển như vậy, thì ở nơi
xứ mà tâm được minh tịnh. Sau khi ở nơi xứ mà tâm được minh tịnh, Tỳ-kheo
ấy hoặc nhờ đó mà nhập Vô sở hữu xứ, hoặc do tuệ mà giải thoát. Về sau,
khi thân hoại mạng chung, nhân tâm ý đã có sẵn ấy, chắc chắn đạt đến vô sở
hữu xứ. Đó là trường hợp thứ ba được gọi là Tịnh vô sở hữu xứ đạo.
“Lại nữa, Đa văn
Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Dù là dục của đời này hay dục của đời
sau, dù là sắc của đời này hay sắc của đời sau, dù là dục tưởng của đời
này hay dục tưởng của đời sau, dù là sắc tưởng của đời này hay sắc tưởng
của đời sau và bất động tưởng, vô sở hữu xứ tưởng, tất cả tưởng ấy đều là
pháp vô thường, khổ và diệt’. Bấy giờ vị ấy đắc Vô tưởng. Vị ấy hành như
vậy, học như vậy, tu tập và phát triển như vậy, thì ở nơi xứ mà tâm được
minh tịnh. Sau khi ở nơi xứ mà tâm được minh tịnh, Tỳ-kheo ấy hoặc nhờ đó
mà nhập vô tưởng, hoặc do tuệ mà giải thoát. Về sau, khi thân hoại mạng
chung, nhân tâm ý đã có sẵn ấy, chắc chắn đạt đến vô tưởng xứ. Đó là nói
về định vô tưởng đạo”.
Bấy giờ, Tôn giả
A-nan đang cầm quạt đứng hầu Đức Phật. Tôn giả hướng về Phật mà bạch rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn,
nếu có Tỳ-kheo nào thực hành như vầy, ‘Không có ta, không có sở hữu của
ta; ta sẽ không tồn tại, sở hữu của ta sẽ không tồn tại; những gì có trước
kia, bèn được xả sạch’. Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo ấy thực hành như thế, có
chứng đắc cứu cánh Niết-bàn chăng?”
Đức Phật nói rằng:
“Này A-nan, sự kiện
ấy không nhất định. Hoặc có người chứng đắc, hoặc có người không chứng
đắc”.
Tôn giả A-nan lại
thưa:
“Bạch Thế Tôn,
Tỳ-kheo ấy hành như thế nào mà không chứng đắc Niết-bàn?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này A-nan, Tỳ-kheo
nào hành như vầy, ‘Không có ta, không có sở hữu của ta; ta sẽ không tồn
tại, sở hữu của ta sẽ không tồn tại; những gì có trước kia, bèn được xả
sạch’. Nhưng này A-nan, nếu Tỳ-kheo ấy vui thích với sự xả bỏ ấy, đắm
trước nơi sự xả bỏ ấy, trú vào sự xả bỏ ấy, Tỳ-kheo như thế chắc chắn
không chứng đắc Niết-bàn”.
Tôn giả A-nan bạch
rằng:
“Bạch Thế Tôn,
Tỳ-kheo nào nếu có chỗ chấp thủ sẽ không đắc Niết-bàn chăng?”
Đức Thế Tôn
đáp:
“Này A-nan, nếu
Tỳ-kheo nào có chỗ chấp thủ thì chắc chắn không đắc Niết-bàn”.
Tôn giả A-nan bạch
rằng:
“Bạch Thế Tôn,
Tỳ-kheo ấy bị chấp thủ bởi những gì?”
Đức Thế Tôn
đáp:
-Này A-nan, còn hữu
dư ở trong hành
đó là hữu tưởng vô tưởng xứ, bậc nhất trong các hữu mà Tỳ-kheo ấy chấp
thủ”.
Tôn giả A-nan bạch
rằng:
“Bạch Thế Tôn,
Tỳ-kheo ấy còn chấp thủ vào hành nào khác nữa chăng?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Đúng như thế,
Tỳ-kheo ấy còn chấp thủ vào hành khác nữa”.
Tôn giả A-nan bạch
rằng:
“Bạch Thế Tôn,
Tỳ-kheo phải hành như thế nào thì chắc chắn đắc Niết-bàn?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này A-nan, Tỳ-kheo
nào hành như vầy, ‘Không có ta, không có sở hữu của ta; ta sẽ không tồn
tại, sở hữu của ta sẽ không tồn tại; những gì có trước kia, bèn được xả
sạch’. Và này A-nan, nếu Tỳ-kheo ấy không vui thích với sự xả bỏ ấy, không
đắm trước sự xả bỏ ấy, không trú vào sự xả bỏ ấy, thì này A-nan, Tỳ-kheo
thực hành như thế, chắc chắn chứng đắc Niết-bàn”.
Tôn gả A-nan hỏi
rằng:
“Bạch Thế Tôn, nếu
Tỳ-kheo nào không chấp thủ vào đâu cả thì chắc chắn chứng đắc Niết-bàn
chăng?”
Đức Thế Tôn
đáp:
“Này A-nan, nếu
Tỳ-kheo nào không chấp thủ vào đâu cả thì chắc chắn chứng đắc Niết-bàn”.
Bấy giờ Tôn giả
A-nan chắp tay hướng về Phật, bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, Thế
Tôn đã thuyết về Tịnh bất động đạo, đã thuyết về Tịnh vô sở hữu xứ đạo, đã
thuyết về Tịnh vô tưởng xứ đạo, đã thuyết về Vô dư Niết-bàn. Bạch Thế Tôn,
thế nào là sự giải thoát của bậc Thánh?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này A-nan, Đa văn
Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Dù là dục của đời này hay dục của đời
sau, dù là sắc của đời này hay là sắc của đời sau, dù là dục tưởng của đời
này hay là dục tưởng của đời sau, dù là sắc tưởng của đời này hay là sắc
tưởng của đời sau và bất động tưởng, vô sở hữu tưởng, vô tưởng tưởng, tất
cả các tưởng ấy đều là pháp vô thường, khổ và diệt, đó là hữu thân.
Nếu là hữu thân thì đó là sanh, đó là già, đó là bệnh, đó là chết.
“Này A-nan, nếu có
pháp này thì diệt trừ tất cả, không để lưu dư, không để có trở lại. Như
vậy thì không sanh, không già, không bệnh, không chết.
“Bậc Thánh quán như vậy. Nếu có thì chắc chắn đó là pháp giải thoát. Nếu
có Vô dư Niết-bàn thì gọi là cam lộ.
Vị nào quán như vậy, chắc chắn tâm giải thoát dục lậu, tâm giải thoát hữu
lậu và vô minh lậu. Đã giải thoát liền biết đã giải thoát, biết như thật
rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không
còn tái sanh nữa’.
“Này A-nan, Ta nay
đã nói cho ngươi nghe về Tịnh bất động đạo, về Tịnh vô sở hữu xứ đạo, về
Tịnh vô tưởng đạo, về Vô dư Niết-bàn, về sự giải thoát của bậc Thánh. Như
bậc Tôn sư với tâm đại bi, đoái tưởng, thương xót, mong cầu phước lợi và
thiện ích, cầu an ổn và khoái lạc cho đệ tử, những điều ấy Ta nay đã làm
xong. Các ngươi hãy tự mình làm. Hãy đi đến nơi rừng vắng, đến dưới gốc
cây, chỗ yên tĩnh, trống vắng, ngồi tĩnh tọa mà tư duy, chớ có phóng dật,
đừng để về sau phải hối hận. Đó là lời khuyến giáo của Ta, đó là huấn thị
của Ta”.
Phật thuyết như vậy.
Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 7 |
72
|
73
|
74
|
75
76
|
77
|
78
|
79
|
80
|
81
|
82
|
83
|
84
|
85
|
86
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003