SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 7
PHẨM TRƯỜNG THỌ
VƯƠNG
74. KINH BÁT NIỆM[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một thời Đức Phật du
hóa tại nước Bà-kì-sấu,
ở rừng Bố trong núi Ngạc, trong vườn Lộc dã.
Bấy giờ Tôn giả
A-na-luật-đà ở tại Chi-đề-sấu, trong rừng Thủy chử.
Tôn giả A-na-luật-đà ở chỗ yên tĩnh, tĩnh tọa tư duy, tâm nghĩ rằng: “Đạo
chứng đắc từ vô dục, chứ chẳng phải từ hữu dục. Đạo chứng đắc từ tri túc,
chứ không phải là không nhàm chán. Đạo chứng đắc từ viễn ly, chứ không
phải từ sự ưa tụ hội, không phải từ sự sống tụ hội, không phải từ sự hội
hợp tụ hội. Đạo chứng đắc từ sự tinh cần, chứ không phải từ sự biếng nhác.
Đạo chứng đắc từ chánh niệm, chứ không phải từ tà niệm. Đạo chứng đắc từ
định ý, chứ không phải từ loạn ý. Đạo chứng đắc từ trí tuệ, chứ không phải
từ ngu si”.
Lúc ấy, Đức Thế Tôn
bằng tha tâm trí biết Tôn giả A-na-luật-đà đang niệm gì, đang tư gì, đang
hành gì. Sau khi đã biết, Đức Thế Tôn nhập định có hình thái như thế.
Với định có hình thái như thế, trong khoảnh khắc như người lực sĩ co duỗi
cánh tay, cũng thế, Đức Thế Tôn từ Bà-kì-sấu, từ rừng Bố trong núi Ngạc,
trong vườn Lộc dã, bỗng biến mất, liền xuất hiện trước mặt Tôn giả
A-na-luật-đà tại Chi-đề-sấu. Bấy giờ, Đức Thế Tôn xuất định, tán thán Tôn
giả A-na-luật-đà rằng:
“Lành thay! Lành
thay! A-na-luật-đà, ngươi ở chỗ yên tĩnh, ngồi tĩnh tọa tư duy, tâm đã
nghĩ thế này: ‘Đạo chứng đắc từ vô dục, chứ chẳng phải từ hữu dục. Đạo
chứng đắc từ tri túc, chứ không phải là không nhàm chán. Đạo chứng đắc từ
viễn ly, chứ không phải từ sự ưa tụ hội, không phải từ sự sống tụ hội,
không phải từ sự hội hợp tụ hội. Đạo chứng đắc từ sự tinh cần, chứ không
phải từ sự biếng nhác. Đạo chứng đắc từ chánh niệm, chứ không phải từ tà
niệm. Đạo chứng đắc từ định ý, chứ không phải từ loạn ý. Đạo chứng đắc từ
trí tuệ, chứ không phải từ ngu si’.
“Này A-na-luật-đà,
ngươi hãy nghe Như Lai, lãnh thọ thêm suy niệm thứ tám của bậc Đại nhân.
Sau khi lãnh thọ liền tư duy rằng: ‘Đạo chứng đắc từ chỗ không hý luận,
ưa sự không hý luận, hành sự không hý luận, chứ không phải từ chỗ hý luận,
không phải từ chỗ ưa hý luận, không phải từ chỗ hành hý luận’.
“Này A-na-luật-đà,
nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, chắc chắn ngươi có thể
ly dục, ly ác, ly bất thiện pháp, cho đến chứng đắc Tứ thiền, thành tựu an
trụ.
“Này A-na-luật-đà,
nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân này, lại chứng đắc bốn
tăng thượng tâm này, sống an lạc ngay trong hiện tại, dễ được chứ không
khó, thì cũng như vua và đại thần có hòm đẹp đựng đầy các loại y phục đẹp,
buổi sáng muốn mặc liền lấy mặc; buổi trưa, buổi chiều, muốn mặc liền lấy
mặc, tùy ý tự tại, này A-na-luật-đà, ngươi cũng vậy, được y phấn tảo, làm
y phục bậc nhất, tâm ngươi vô dục, sống với trụ chỉ hành này.
“Này A-na-luật-đà,
nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, lại chứng đắc bốn tăng
thượng tâm này nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại, dễ được không
khó, thì cũng như vua và vương thần có cai bếp làm các thức ăn ngon lành
mỹ diệu, này A-na-luật-đà, ngươi cũng vậy, thường sống bằng món ăn khất
thực làm món ăn độc nhất, tâm ngươi vô dục, sống với trụ chỉ hành này.
“Này A-na-luật-đà,
nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, lại cũng chứng đắc bốn
tăng thượng tâm này nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này, dễ được
chứ không khó, thì cũng như vua và vương thần có nhà cửa đẹp, hoặc có lầu
các, cung điện, này A-na-luật-đà, ngươi cũng như thế, ngồi dưới gốc cây,
lấy sự tịch tĩnh làm ngôi nhà bậc nhất, tâm ngươi vô dục, sống với trụ chỉ
hành này.
“Này A-na-luật-đà,
nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, lại cũng chứng đắc bốn
tăng thượng tâm này nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này, dễ được
chứ không khó, thì cũng như vua và vương thần có giường đẹp, trải lên bằng
chăn nệm, đệm bông, phủ lên bằng gấm, the, lụa, sa trun, có chăn đệm ở hai
đầu để gối, trải thảm quý bằng da sơn dương;
này A-na-luật-đà, ngươi cũng như vậy, chỗ ngồi trải bằng cỏ, bằng lá cây,
là chỗ ngồi bậc nhất. Tâm ngươi vô dục, sống với trụ chỉ hành này.
“Này A-na-luật-đà,
nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, lại cũng chứng đắc bốn
tăng thượng tâm này nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này, dễ được
chứ không khó, thì cũng như thế, nếu ngươi an trú phương Đông, chắc chắn
được an lạc, không có các tai hoạn đau khổ. Nếu an trú phương Tây, phương
Nam, phương Bắc, chắc chắn được an lạc, không có các tai hoạn đau khổ.
“Này A-na-luật-đà,
nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, lại cũng chứng đắc bốn
tăng thượng tâm này nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này, dễ được
chứ không khó, đối với các pháp thiện, ngươi đã an trú, Ta không nói đến,
huống nữa là nói đến sự suy thoái. Các thiện pháp cứ ngày đêm tăng trưởng
chứ không suy thoái.
“Này A-na-luật-đà,
nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, lại cũng chứng đắc bốn
tăng thượng tâm này nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này, dễ được
chứ không khó, thì đối với hai quả, chắc chắn ngươi đắc được một, hoặc
trong đời này đắc cứu cánh trí, hoặc nếu còn hữu dư thì đắc A-na-hàm.
“Này A-na-luật-đà,
ngươi hãy thành tựu tám suy niệm này của bậc Đại nhân, và cũng nên chứng
đắc bốn tăng thượng tâm này nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này,
dễ được chứ không khó; sau đó mới an cư mùa mưa tại Chi-đề-sấu, trong rừng
Thủy chử vậy”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
thuyết pháp cho Tôn giả A-na-luật-đà, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu
hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện, thuyết pháp, khuyến phát khát
ngưỡng, thành tựu hoan hỷ, Đức Thế Tôn liền như vậy mà nhập định, trong
khoảnh khắc, như người lực sĩ co duỗi cánh tay, cũng vậy, Đức Thế Tôn từ
Chi-đề-sấu, trong rừng Thủy chử, bỗng nhiên biến mất, không thấy, rồi hiện
ra ở Bà-kì-sấu, núi Ngạc rừng Bố, trong vườn Lộc dã.
Lúc ấy Tôn giả A-nan
cầm quạt đứng hầu Đức Phật, Đức Phật liền xuất định, quay lại bảo A-nan
rằng:
“Này A-nan, nếu có
Tỳ-kheo nào đến núi Ngạïc rừng Bố, trong vườn Lộc dã thì bảo tất cả tụ tập
tại giảng đường. Sau khi tụ tập tại giảng đường xong, trở lại cho Ta hay”.
Tôn giả A-nan vâng
lời Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài, liền đi tuyên bố rằng: “Đức
Thế Tôn dạy: nếu có Tỳ-kheo nào đến núi Ngạïc rừng Bố, trong vườn Lộc dã
thì tất cả hãy tụ tập tại giảng đường”.
Sau khi các Tỳ-kheo
tụ tập tại giảng đường, Tôn giả A-nan trở lại chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh
lễ dưới chân rồi đứng qua một bên, bạch rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn,
các Tỳ-kheo đến núi Ngạïc rừng Bố, trong vườn Lộc dã, tất cả đã tụ tập tại
giảng đường. Mong Đức Thế Tôn biết cho, nay đã đến thời”.
Lúc ấy, Đức Thế Tôn
đến giảng đường, trải chỗ ngồi trước chúng Tỳ-kheo và nói:
“Này chư Tỳ-kheo, Ta
nói cho các ngươi nghe về tám suy niệm của bậc Đại nhân. Các ngươi hãy
lắng nghe và khéo suy tư, ghi nhớ.
Bấy giờ các Tỳ-kheo
vâng lời lắng nghe. Đức Thế Tôn nói rằng:
“Đây là tám pháp suy
niệm của bậc Đại nhân:
Đạo từ vô dục chứ
không phải từ hữu dục mà chứng đắc.
Đạo từ tri túc chứ không phải từ không nhàm tởm mà chứng đắc.
Đạo từ viễn ly chứ
không phải từ chỗ ưa tụ hội, không phải từ sự sống chỗ tụ hội, không phải
từ sự sống hội hợp tụ hội mà chứng đắc.
Đạo từ tinh cần chứ
không phải từ biếng nhác mà chứng đắc.
Đạo từ chánh niệm,
chứ không phải từ tà niệm mà chứng đắc.
Đạo từ chỗ định ý
chứ không phải từ loạn ý mà chứng đắc.
Đạo từ trí tuệ chứ
không phải từ ngu si mà chứng đắc.
Đạo từ chỗ không hý
luận, ưa sự không hý luận, hành sự không hý luận; chứ không phải từ hý
luận, không phải từ sự ưa hý luận, không phải từ sự hành hý luận, mà chứng
đắc.
“Thế nào là đạo từ
vô dục mà chứng đắc, chứ không phải từ hữu dục? Tỳ-kheo đạt được vô dục,
tự biết đạt được vô dục, không tỏ cho kẻ khác biết mình vô dục; đạt được
tri túc, đạt được viễn ly, đạt được tinh cần, đạt được chánh niệm, đạt
được định ý, đạt được trí tuệ, đạt được không hý luận, tự biết đạt được
không hý luận, không muốn tỏ cho người khác biết mình vô dục. Như vậy gọi
là đạo từ vô dục chứ không phải từ hữu dục mà chứng đắc.
“Thế nào là đạo từ
tri túc chứ không phải từ không nhàm tởm mà chứng đắc? Tỳ-kheo hành tri
túc, áo dùng để che thân, ăn đủ nuôi thân. Đó là đạo từ tri túc chứ không
phải từ không nhàm tởm mà chứng đắc.
“Thế nào là đạo từ
viễn ly chứ không phải từ ưa tụ hội, sống chỗ tụ hội, hội họâp nơi tụ hội
mà chứng đắc? Tỳ-kheo thực hành hạnh viễn ly, thực hành hai hạnh viễn ly
là thân và tâm đều viễn ly. Đó là đạo từ viễn ly chứ không phải từ sự ưa
tụ hội, sống ở chỗ tụ hội, hội họâp nơi tụ hội mà chứng đắc.
“Thế nào là đạo từ
tinh tấn chứ không phải từ biếng nhác mà chứng đắc? Tỳ-kheo thường hành
tinh tấn, đoạn ác bất thiện, tu các thiện pháp, thường tự khởi ý, chuyên
nhất kiên cố, vì các gốc rễ thiện mà không hề từ bỏ khó nhọc. Đó gọi là
đạo từ tinh tấn, chứ không phải từ biếng nhác mà chứng đắc.
“Thế nào là đạo từ
chánh niệm chứ không phải từ tà niệm mà chứng đắc? Tỳ-kheo quán nội thân
như thân, quán nội thọ, nội tâm, nội pháp như pháp. Đó gọi là đạo từ chánh
niệm chứ không phải từ tà niệm mà chứng đắc.
“Thế nào là đạo từ
định ý chứ không phải từ loạn ý mà chứng đắc? Tỳ-kheo ly dục, ly pháp ác
bất thiện, cho đến chứng đắc đệ Tứ thiền, thành tựu và an trụ. Đó gọi là
đạo từ định ý chứ không phải từ loạn ý mà chứng đắc.
“Thế nào là đạo từ trí tuệ chứ không phải từ ngu si mà chứng đắc? Tỳ-kheo
tu hạnh trí tuệ, quán pháp hưng suy, chứng đắc trí như thật, thánh tuệ
minh đạt, phân biệt rõ ràng để dứt sạch khổ một cách chính đáng. Đó gọi là
đạo từ trí tuệ chứ không phải từ ngu si mà chứng đắc.
“Thế nào là đạo từ
không hý luận, ưa không hý luận, hành không hý luận; chứ không phải từ hý
luận, không phải từ ưa hý luận, không phải từ hành hý luận mà chứng đắc?
Tỳ-kheo tâm ý thường diệt hý luận, an lạc, trú trong Vô dư Niết-bàn, tâm
thường lạc trú, hoan hỷ, ý giải. Đó gọi là đạo từ không hý luận, ưa không
hý luận, hành không hý luận; chứ không phải từ hý luận, không phải từ ưa
hý luận, không phải từ hành hý luận mà chứng đắc.
“Này các Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo A-na-luật-đà đã tành tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân này, sau đó
mới an cư mùa mưa tại Chi-đề-sấu, trong rừng Thủy chử. Ta đem những điều
này nói ra, vị ấy sống cô độc tại nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tu
hành tinh cần. Vị ấy khi sống cô độc tại nơi xa vắng, tâm không phóng dật,
tu hành tinh cần, đã đạt đến cứu cánh mà một thiện nam tử vì cứu cánh ấy
đã cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia
đình, xuất gia học đạo, duy chỉ cầu đắc vô thượng phạm hạnh ngay trong đời
này, tự tri, tự giác, tự thân chứng đắc, thành tựu và an trú, biết một
cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm
xong, không còn tái sanh nữa’.”
Ngay lúc ấy, Tôn giả
A-na-luật-đà chứng đắc A-la-hán, tâm chánh giải thoát, xứng đáng bậc
Trưởng lão Thượng tôn, rồi nói bài tụng:
Vô thượng thế gian
sư
Xa biết con tư niệm,
Chánh thân tâm nhập
định
Nương không, chợt
đến đây.
Biết con tâm niệm
này,
Thuyết pháp vượt lên
nữa.
Chư Phật không hý
luận;
Hý luận đã xa lìa.
Đã biết pháp Như
Lai,
Ưa trú trong chánh
pháp.
Rồi tam muội chứng
ngay,
Pháp Phật đã thành
đạt.
Con chẳng ưa sự
chết,
Cũng không nguyện
nơi sanh;
Tùy thời, tùy sở
thích,
Niệm, chánh trí vững
vàng.
Tỳ-da-ly, trú lâm,
Nơi đó mạng con dứt;
Ở ngay dưới khóm
trúc,
Nhập Vô dư Niết-bàn.
Phật thuyết như vậy.
Tôn giả A-na-luật-đà và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ
phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 7 |
72
|
73
|
74
|
75
76
|
77
|
78
|
79
|
80
|
81
|
82
|
83
|
84
|
85
|
86
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003