SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ
6
PHẨM VƯƠNG TƯƠNG ƯNG
68. KINH ĐẠI THIỆN KIẾN VƯƠNG[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời, Phật du
hóa tại thành Câu-thi,
trú trong rừng Sa-la của Hòa-bạt-đơn
lực sĩ.
Bấy giờ, vào lúc tối
hậu, sắp nhập Niết-bàn, Đức Thế Tôn bảo:
“Này A-nan, hãy đến
giữa hai cây Sa-la song thọ
trải chỗ nằm cho Như Lai, đầu quay về hướng Bắc. Như Lai vào giữa đêm nay
sẽ nhập Niết-bàn.”
Tôn giả A-nan vâng
lời Đức Như Lai, liền đến giữa hai cây song thọ trải chỗ nằm cho Như Lai,
đầu quay về hướng Bắc. Sau khi trải chỗ nằm xong, trở lại chỗ Đức Phật,
cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài rồi đứng sang một bên, bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, con
đã trải chỗ nằm cho Như Lai, đầu quay về hướng Bắc. Cúi mong Thế Tôn tự
biết thời.”
Bấy giờ Thế Tôn cùng
Tôn giả A-nan đến giữa hai cây song thọ, xếp tư y uất-đa-la-tăng trải lên
chỗ nằm, gấp y tăng-già-lê làm gối. Ngài nằm nghiêng về hông bên phải, hai
chân chồng lên nhau. Đây là lúc tối hậu, Phật sắp Niết-bàn.
Lúc ấy Tôn giả A-nan
đang cầm quạt hầu Phật. Tôn giả chắp tay hướng về Đức Phật thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, còn
có những thành lớn khác. Một là Chiêm-bà, hai là Xá-vệ, ba là Bệ-xá-ly,
bốn là Vương xá, năm là Ba-la-nại, sáu là Ca-tỳ-la-vệ.
Sao Thế Tôn không nhập Niết-bàn ở các nơi ấy, mà quyết định tại thành bằng
đất nhỏ hẹp này, một thành nhỏ hẹp nhất trong các thành?”
Bấy giờ, Đức Thế Tôn
bảo:
“Này A-nan, ngươi
chớ nói rằng đây là thành đất nhỏ hẹp, là thành nhỏ nhất trong các thành.
Vì sao? Vì thuở quá khứ, thành Câu-thi-na này tên là Câu-thi vương thành,
giàu có cùng tột, dân chúng đông đúc.
“A-nan, Câu-thi
vương thành dài mười hai do-diên, rộng bảy do-diên.
“A-nan, ở đây dựng
tháp canh cao bằng một người, hoặc hai, ba, bốn..., cho đến bảy người.
“A-nan, ở chung
quanh bên ngoài Câu-thi vương thành, có bảy lớp hào. Hào ấy được xây bằng
gạch bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Đáy hào cũng trải cát bằng
bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.
“Này A-nan, Câu-thi
vương thành có bảy lớp tường thành bao bọc bên ngoài. Những lớp tường
thành ấy cũng được xây bằng gạch bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy
tinh.
“Này A-nan, Câu-thi
vương thành có bảy lớp hàng cây Đa-la
bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh bao bọc xung quanh. Cây
Đa-la bằng vàng thì hoa, lá và trái bằng bạc. Cây Đa-la bằng bạc thì hoa,
lá và trái bằng vàng. Cây Đa-la bằng lưu ly thì hoa, lá và trái bằng thủy
tinh. Cây Đa-la bằng thủy tinh thì hoa, lá và trái bằng lưu ly.
“Này A-nan, ở giữa
những cây Đa-la có đào nhiều hồ sen; hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen đỏ
và hồ hoa sen trắng.
“Này A-nan, bờ hồ
hoa ấy được đắp bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Ở đáy hồ
thì rải cát bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Trong thành hồ
ấy có thềm cấp bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly, thủy tinh. Thềm cấp bằng
vàng thì bậc chân
bằng bạc, thềm cấp bằng bạc thì có bậc chân bằng vàng. Thềm cấp bằng lưu
ly thì có bậc chân bằng thủy tinh. Thềm cấp bằng thủy tinh thì có bậc chân
bằng lưu ly.
“Này A-nan, xung
quanh hồ ấy có câu lan
bằng bốn báu, lưỡi câu là vàng bạc, lưu ly, thủy tinh. Lan can bằng vàng
thì lưỡi câu bằng bạc. Lan can bằng bạc thì lưỡi câu bằng vàng. Lan can
bằng lưu ly thì lưỡi câu bằng thủy tinh. Lan can bằng thủy tinh thì lưỡi
câu bằng lưu ly.
“Này A-nan, hồ ấy
được trùm bởi màn lưới có chuông treo ở giữa. Chuông ấy làm bằng bốn báu
là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Chuông bằng vàng thì quả lắc bằng bạc.
Chuông bằng bạc thì quả lắc bằng vàng. Chuông bằng lưu ly thì quả lắc bằng
thủy tinh. Chuông bằng thủy tinh thì quả lắc bằng lưu ly.
“Này A-nan, trong hồ
ấy trồng nhiều loại hoa dưới nước như hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen
đỏ, hoa sen trắng; thường có nước, có hoa, không có người trông giữ ngăn
cấm vì thuộc về tất cả mọi người.
“Này A-nan, ở bờ hồ
ấy có trồng nhiều loại hoa như hoa Tu-ma-na, hoa Bà-sư, hoa Chiêm-bặc, hoa
Kiện-đề, hoa Ma-đầu-kiện-đề, hoa A-đề-mâu-đa, hoa Ba-la đầu.
“Này A-nan, bên các
bờ hồ sen ấy, có nhiều người nữ thân thể nõn nà, sạch sẽ, trong sáng, sắc
đẹp hơn người, chẳng kém thiên nữ, tư dung đoan chánh, ai nhìn cũng thấy
vui thích, được trang sức đầy đủ các loại ngọc báu; những người nữ ấy bố
thí tùy theo nhu cầu của mọi người như đồ ăn thức uống, áo, chăn, xe cộ,
nhà cửa, giường nệm, đệm lông ngũ sắc, tôi tớ, đèn dầu... đem cung cấp đầy
đủ.
“Này A-nan, lá cây
Đa-la ấy lúc gió thổi thì phát ra âm thanh cực kỳ vi diệu, cũng như năm
loại kỹ nhạc được nhạc sư tài ba tấu lên thì có âm thanh hết sức hài hòa,
tuyệt diệu. Này A-nan, lá cây ấy lúc gió thổi cũng lại như vậy.
“Này A-nan, trong
thành Câu-thi ấy giả sử có người tồi tệ thấp hèn hạ, muốn được thưởng thức
năm loại kỹ nhạc, nếu cùng đến giữa những cây Đa-la thì đều được thưởng
thức thỏa thích.
“Này A-nan, Câu-thi
vương thành thường có mười hai loại tiếng không bao giờ gián đoạn, là
tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng đi bộ, tiếng tù và, tiếng trống,
tiếng trống bạc lạc,
tiếng trống kỷ,
tiếng ca, tiếng vũ, tiếng ăn, tiếng bố thí.
“Này A-nan, trong
thành Câu-thi có vua tên là Đại Thiện Kiến,
là vị Chuyển luân vương thông minh trí tuệ, có bốn loại quân chỉnh trị
thiên hạ, tự do tự tại; là vị Pháp vương như pháp, thành tựu bảy báu, được
bốn đức như ý của con người.
“Này A-nan, bấy giờ
các Phạm chí, cư sĩ trong Câu-thi vương thành mang các loại châu báu,
kiềm-bà-la báu,
chở đến chỗ vua Đại Thiện Kiến, thưa rằng:
“– Tâu Thiên vương,
các loại châu báu, kiềm-bà-la báu này, mong Thiên vương vì lòng từ mẫn mà
nạp thọ.
“Đại Thiện Kiến
vương nói với các Phạm chí:
“– Này các khanh,
các khanh hiến dâng nhưng ta thấy chưa cần thiết, vì ta đã có đủ.
“Này A-nan, lại có
tám vạn bốn ngàn vị Tiểu quốc vương, đến thưa vua Đại Thiện Kiến rằng:
“– Tâu Thiên vương,
chúng tôi muốn xây chánh điện cho Thiên vương.
“Đại Thiện Kiến
vương nói với các Tiểu quốc vương:
“– Các khanh muốn
xây chánh điện cho ta, nhưng ta thấy chưa cần thiết, vì chánh điện ta đã
có.
“Tám vạn bốn ngàn vị
Tiểu quốc vương đều chắp tay hướng về Đại Thiện Kiến vương, lặp lại ba lần
rằng:
“– Tâu Thiên vương,
chúng tôi muốn xây chánh điện cho Thiên vương. Chúng tôi muốn xây chánh
điện cho Thiên vương.
“Bấy giờ, Đại Thiện
Kiến vương im lặng nhận lời của tám vạn bốn ngàn vua các tiểu quốc. Khi
biết vua đã im lặng nhận lời, các Tiểu quốc vương liền bái biệt, đi quanh
ba vòng rồi lui ra. Vua nước nào trở về nước ấy, dùng tám vạn bốn ngàn cỗ
xe chất đầy những vàng và các loại tiền, bằng vàng tinh luyện hay chưa
tinh luyện.
Lại lấy các trụ đều bằng ngọc lớn chở đến thành Câu-thi, cách thành không
xa xây đại chánh điện.
“Này A-nan, đại
chánh điện ấy dài một do-diên, rộng một do-diên. Đại chánh điện ấy được
xây bằng gạch làm bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.
“Này A-nan, thềm cấp
của đại chánh điện ấy làm bằng bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy
tinh. Thềm cấp bằng vàng thì trụ bằng bạc. Tam cấp bằng bạc thì trụ bằng
vàng. Thềm cấp bằng lưu ly thì trụ bằng thủy tinh. Thềm cấp bằng thủy tinh
thì trụ bằng lưu ly.
“Này A-nan, trong
đại chánh điện có tám vạn bốn ngàn cột trụ làm bằng bốn báu là: Vàng, bạc,
lưu ly và thủy tinh. Cột bằng vàng thì đá tảng bằng bạc. Cột bằng bạc thì
đá tảng bằng vàng. Cột bằng lưu ly thì đá tảng bằng thủy tinh. Cột bằng
thủy tinh thì đá tảng bằng lưu ly.
“Này A-nan, bên trong chánh điện lại xây tám vạn bốn ngàn lầu làm bằng bốn
báu là: Vàng, bạc, lưu ly, thủy tinh. Lầu bằng vàng thì mái lợp bằng bạc.
Lầu bằng bạc thì mái lợp bằng vàng. Lầu bằng lưu ly thì mái lợp bằng thủy
tinh. Lầu bằng thủy tinh thì mái lợp bằng lưu ly.
“Này A-nan, trong
đại chánh điện có thiết trí tám vạn bốn ngàn ngự tòa, cũng làm bằng bốn
báu: vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Lầu bằng vàng thì thiết trí ngự tòa
bằng bạc, trải lên trên các thứ nệm chiếu, đệm lông năm sắc, phủ lên trên
bằng những thứ gấm, the, lụa, sa trun, có chăn đệm lót hai đầu để gối,
trải thảm quý bằng da sơn dương. Cũng vậy, lầu bằng bạc thì thiết trí ngự
tòa bằng vàng. Lầu bằng lưu ly thì thiết trí ngự tòa bằng thủy tinh. Lầu
bằng thủy tinh thì thiết trí ngự tòa bằng lưu ly, trải lên bằng các thứ
nệm chiếu, đệm lông năm sắc, phủ lên bằng các thứ gấm, the, lụa, sa trun,
có chăn đệm lót hai đầu để gối và trải thảm quý bằng da sơn dương.
“Này A-nan, đại
chánh điện ấy xung quanh có câu lan bằng bốn báu, vàng, bạc, lưu ly và
thủy tinh. Lan can bằng vàng thì lưỡi câu bằng bạc. Lan can bằng bạc thì
lưỡi câu bằng vàng. Lan can bằng lưu ly thì lưỡi câu bằng thủy tinh. Lan
can bằng thủy tinh thì lưỡi câu bằng lưu ly.
“Này A-nan, đại
chánh điện ấy được che bằng màn lưới, trong đó treo các thứ chuông lắc.
Chuông ấy làm bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Chuông bằng
vàng thì quả lắc bằng bạc. Chuông làm bằng bạc thì quả lắc bằng vàng.
Chuông bằng lưu ly thì quả lắc bằng thủy tinh. Chuông bằng thủy tinh thì
quả lắc bằng lưu ly.
“Này A-nan, đại
chánh điện ấy sau khi được kiến trúc đầy đủ, bốn vạn tám ngàn vua các tiểu
quốc đi ra cách đại chánh điện không xa, xây ao sen lớn.
“Này A-nan, ao sen
lớn ấy dài một do-diên; rộng một do-diên.
“Này A-nan, ao sen
lớn ấy được đắp gạch bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Đáy
ao được rải cát bốn thứ báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.
“Này Na-nan, ao sen
lớn ấy có thềm cấp bằng bốn thứ báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.
Tầng cấp bằng vàng thì thềm bằng bạc. Tầng cấp bằng bạc thì thềm bằng
vàng. Tầng cấp bằng lưu ly thì thềm bằng thủy tinh. Tầng cấp bằng thủy
tinh thì thềm bằng lưu ly.
“Này A-nan, chung
quanh ao sen lớn có câu lan bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy
tinh. Lan can bằng vàng thì lưỡi câu bằng bạc. Lan can bằng bạc thì lưỡi
câu bằng vàng. Lan can bằng lưu ly thì lưỡi câu bằng thủy tinh. Lan can
bằng thủy tinh thì lưỡi câu bằng lưu ly.
“Này A-nan, ao sen
lớn ấy được che bởi màn lưới, trong đó treo các thứ chuông lắc. Chuông ấy
làm bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Chuông bằng vàng thì
quả lắc bằng bạc. Chuông bằng bạc thì quả lắc bằng vàng. Chuông bằng lưu
ly thì quả lắc bằng thủy tinh. Chuông bằng thủy tinh thì quả lắc bằng lưu
ly.
“Này A-nan, trong ao
sen lớn ấy có nhiều loại thủy hoa như hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen
trắng, hoa sen đỏ, thường có nước ở hoa, có người gìn giữ, không thuộc về
tất cả mọi người.
“Này A-nan, trong ao
sen lớn ấy có nhiều loại lục hoa, như hoa Tu-ma-na, hoa Bà-sư, hoa
Chiêm-bặc, hoa Tu-kiền-đề, hoa Ma-đầu-kiẹân-đề, hoa A-đề-mâu-đa, hoa
Ba-la-lại.
“Này A-nan, sau khi
kiến trúc đại điện và hồ hoa lớn đầy đủ như thế, tám vạn bốn ngàn vua các
tiểu quốc đi ra cách điện không xa, thiết lập vườn Đa-la.
“Này A-nan, vườn
Đa-la ấy dài một do-diên, rộng một do-diên. Trong vườn Đa-la trồng tám vạn
bốn ngàn cây Đa-la, đều dùng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.
Cây Đa-la bằng vàng thì lá, hoa, quả bằng bạc. Cây Đa-la bằng bạc thì lá,
hoa, quả bằng vàng. Cây Đa-la bằng lưu ly thì lá, hoa, quả bằng thủy tinh.
Cây Đa-la bằng thủy tinh thì lá, hoa, quả bằng lưu ly.
“Này A-nan, chung
quanh vườn Đa-la ấy có lan can lưỡi câu bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly
và thủy tinh. Lan can bằng vàng thì lưỡi câu bằng bạc. Lan can bằng bạc
thì lưỡi câu bằng vàng. Lan can bằng lưu ly thì lưỡi câu bằng thủy tinh.
Lan can bằng thủy tinh thì lưỡi câu bằng lưu ly.
“Này A-nan, vườn
Đa-la ấy được che bằng lưới báu, có chuông treo lơ lửng ở khoảng giữa.
Chuông ấy làm bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Chuông bằng
vàng thì quả lắc bằng bạc. Chuông bằng bạc thì quả lắc bằng vàng. Chuông
bằng lưu ly thì quả lắc bằng thủy tinh. Chuông bằng thủy tinh thì quả lắc
bằng lưu ly.
“Này A-nan, sau khi
kiến trúc đại điện, ao hoa và vườn Đa-la đầy đủ như thế, tám vạn bốn ngàn
Tiểu quốc vương cùng đến chỗ vua Đại Thiện Kiến thưa rằng:
“– Tâu Thiên vương,
xin biết cho rằng, đại điện, ao hoa và vườn cây Đa-la, tất cả đã kiến trúc
đầy đủ. Mong Thiên vương sử dụng tùy thích.
“Này A-nan, bấy giờ
vua Đại Thiện Kiến nghĩ rằng: ‘Ta không nên lên đại điện này trước. Nếu có
bậc Thượng tôn Sa-môn, Phạm chí ở thành Câu-thi vương này, ta nên mời tất
cả tụ tập ngồi ở đại điện này, soạn các thức ăn ngon lành, mỹ diệu, đầy đủ
thức nhai và nuốt, tự tay bưng hầu khiến các ngài ăn no. Ăn xong, dọn bát
và dùng nước rửa, rồi mời các ngài trở về’.
“Này A-nan, sau khi
vua Đại Thiện Kiến nghĩ như vậy, liền mời tất cả các bậc Thượng tôn
Sa-môn, Phạm chí đang trú tại thành Câu-thi vương ấy tụ tập trên đại chánh
điện. Tất cả tụ tập và an tọa xong, vua thân hành lấy nước rửa rồi đem các
thức ăn ngon lành, mỹ diệu, đầy đủ các thức nhai và nuốt, tự tay bưng hầu
khiến các ngài ăn no. Sau khi ăn, dọn bát, đem nước rửa và nhận lời cầu
chúc, rồi vua mời các ngài trở về.
“Này A-nan, vua Đại
Thiện Kiến lại nghĩ: ‘Nay ta không nên vào đại chánh điện để hưởng dục
lạc. Ta nên đem độc nhất một người hầu lên ở tại đại chánh điện’.
“Này A-nan, sau đó
vua Đại Thiện Kiến đem người hầu lên đại chánh điện, đi vào lầu bằng vàng,
ngồi ở ngự tòa bằng bạc, được trải lên bằng những thứ nệm chăn, đệm lông
năm sắc, được phủ lên bằng những thứ gấm, the, lụa, sa trun, có chăn đệm
lót hai đầu để gối và trải thảm quý bằng da sơn dương. Ngồi xong, nhà vua
ly dục, ly các pháp ác bất thiện; có giác, có quán, hỷ và lạc do ly dục
sanh, tiến vào Sơ thiền, thành tựu và an trú.
“Từ lầu bằng vàng đi
ra, lại đi vào lầu bằng bạc, ngồi vào ngự sàng bằng vàng được trải các thứ
nệm chăn, đệm lông năm sắc, được phủ lên bằng những thứ gấm, the, lụa, sa
trun, có chăn đệm lót hai đầu để gối và trải thảm quý bằng da sơn dương.
Ngồi xong, nhà vua ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, hỷ và
lạc do ly dục sanh, tiến vào Sơ thiền, thành tựu và an trú.
“Từ lầu bằng bạc đi
ra, lại đi vào lầu bằng lưu ly, ngồi vào ngự sàng bằng tủy tinh được trải
các thứ nệm chăn, đệm lông năm sắc, được phủ lên bằng những thứ gấm, the,
lụa, sa trun, có chăn đệm lót hai đầu để gối và trải thảm quý bằng da sơn
dương. Ngồi xong, nhà vua ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán,
hỷ và lạc do ly dục sanh, tiến vào Sơ thiền, thành tựu và an trú.
“Từ lầu bằng lưu ly
đi ra, lại vào lầu bằng thủy tinh, ngồi vào ngự sàng bằng lưu ly được trải
các thứ nệm chăn, đệm lông năm sắc, được phủ lên bằng những thứ gấm, the,
lụa, sa trun, có chăn đệm lót hai đầu để gối và trải thảm quý bằng da sơn
dương. Ngồi xong, nhà vua ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán,
hỷ và lạc do ly dục sanh, tiến vào Sơ thiền, thành tựu và an trú.
“Này A-nan, bấy giờ
tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu quá lâu không thấy vua Đại Thiện Kiến,
ai cũng nhớ mong, khao khát muốn thấy. Lúc đó, tám vạn bốn ngàn phu nhân
cùng nhau đi đến nữ báu thưa thỉnh rằng:
“– Thiên hậu, nên
biết rằng, từ lâu không được hầu cận Thiên vương. Thiên hậu, chúng tôi nay
muốn cùng nhân dân đến yết kiến Thiên vương.
“Nữ báu nghe xong,
liền bảo Tướng quân:
“– Ngươi nay nên
biết rằng, chúng tôi từ lâu không được hầu cận Thiên vương, nay muốn đến
yết kiến Thiên vương.
“Tướng quân nghe
vậy, liền đưa tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu đến đại chánh điện. Tám
vạn bốn ngàn thớt voi, tám vạn bốn ngàn con ngựa, tám vạn bốn ngàn cỗ xe,
tám vạn bốn ngàn lính bộ, tám vạn bốn ngàn tiểu vương cũng cùng hộ tống,
đi đến đại chánh điện. Lúc cả đoàn đang đi, âm thanh ấy vang dội chấn động
mạnh mẽ. Vua Đại Thiện Kiến nghe được âm thanh vang dội chấn động mạnh mẽ
ấy. Nghe xong, nhà vua liền hỏi người đứng hầu bên cạnh:
“– Đó là tiếng gì mà
vang dội chấn động mạnh mẽ thế?
“Người hầu thưa:
“– Tâu Thiên vương,
đó là do tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu, hôm nay tất cả cùng đến đại
chánh điện; tám vạn bốn ngàn thớt voi, tám vạn bốn ngàn con ngựa, tám vạn
bốn ngàn cỗ xe, tám vạn bốn ngàn lính bộ, tám vạn bốn ngàn Tiểu vương lại
cùng nhau đến chánh điện, cho nên âm thanh ấy vang dội, chấn động mạnh mẽ.
“Nghe xong, vua Đại
Thiện Kiến bảo người hầu cận:
“– Ngươi mau xuống
khỏi đại điện, đến chỗ đất trống, trải nhanh giường bằng vàng rồi trở lại
cho ta hay.
“Người hầu cận vâng
lời, liền từ điện đi xuống, đến chỗ đất trống, trải giường bằng vàng một
cách nhanh chóng, liền trở lại thưa rằng:
“– Con đã trải
giường bằng vàng ở chỗ đất trống cho Thiên vương, xin tùy ý Thiên vương.
“Này A-nan, vua Đại
Thiện Kiến cùng với người hầu từ điện đi xuống, ngự trên giường bằng vàng
và ngồi kiết già.
“Này A-nan, bấy giờ
tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu cùng nhau đến trước vua Đại Thiện
Kiến.
“Này A-nan, từ xa,
vua Đại Thiện Kiến trông thấy tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu, liền
đóng kín các căn. Tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu thấy vua đóng kín
các căn, liền nghĩ: ‘Thiên vương nay chắc không dùng đến chúng ta nữa. Vì
sao? Vì Thiên vương vừa thấy chúng ta, liền đóng kín các căn’.
“Này A-nan, khi đó
nữ báu đi đến trước vua Đại Thiện Kiến. Đến rồi thưa rằng:
“– Tâu Thiên vương,
xin biết cho, tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu này hoàn toàn thuộc về
Thiên vương. Mong Thiên vương thương tưởng đến chúng tôi cho đến lúc mạng
chung và tám vạn bốn ngàn thớt voi, tám vạn bốn ngàn con ngựa, tám vạn bốn
ngàn cỗ xe, tám vạn bốn ngàn lính bộ, tám vạn bốn ngàn tiểu vương cũng
hoàn toàn thuộc về Thiên vương, mong Thiên vương tưởng đến tất cả cho đến
lúc mạng chung.
“Bấy giờ vua Đại
Thiện Kiến nghe những lời ấy xong, bảo nữ báu rằng:
“– Này hiền muội,
các người luôn luôn xúi dục ta làm ác, mà không khuyến khích ta làm lành.
Này hiền muội, từ nay về sau nên khuyến khích ta làm lành, chớ xúi dục ta
làm ác.
“Này A-nan, tám vạn
bốn ngàn phu nhân và nữ báu ấy liền ngồi qua một bên, nước mắt tràn ra,
khóc lóc bi thảm, thưa rằng:
“– Chúng tôi chẳng
phải là em của Thiên vương, mà nay Thiên vương gọi chúng tôi là hiền muội.
“Này A-nan, tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu ấy, mỗi người dùng áo lau
nước mắt, lại đến trước vua Đại Thiện Kiến thưa rằng:
“– Tâu Thiên vương,
chúng tôi làm thế nào để khuyến khích Thiên vương làm lành, không làm ác?
“Vua Đại Thiện Kiến
đáp:
“– Các hiền muội,
hãy nói với ta như thế này: ‘Tâu Thiên vương, ngài biết không, mạng người
ngắn ngũi, rồi sẽ đi qua đời sau, nên phải tu phạm hạnh. Do đó sự sanh
không thể chấm dứt. Thiên vương nên biết, pháp ấy chắc chắn đến, không thể
ái niệm, không thể hoan hỷ, hoại diệt tất cả, người đời gọi là ‘sự chết’.
Cho nên, tâu Thiên vương, đối với tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu, nếu
có ái niệm, có dục thì mong Thiên vương đoạn trừ, xả ly tất cả, cho đến
lúc mạng chung vẫn chớ niệm tưởng. Đối với tám vạn bốn ngàn thớt voi, tám
vạn bốn ngàn con ngựa, tám vạn bốn ngàn cỗ xe, tám vạn bốn ngàn lính bộ,
tám vạn bốn ngàn tiểu vương, tâu Thiên vương, nếu có ái niệm, có dục thì
mong Thiên vương đoạn trừ, xả ly tất cả, cho đến lúc mạng chung vẫn chớ
niệm tưởng’. Này các hiền muội, các hiền muội hãy khuyến khích ta làm
lành, chớ xúi dục ta làm ác, đúng như thế.
“Này A-nan, tám vạn
bốn ngàn phu nhân và nữ báu ấy thưa rằng:
“– Tâu Thiên vương,
chúng tôi từ nay về sau sẽ khuyến khích Thiên vương làm lành, chớ không
xúi dục Thiên vương làm ác, như thế này: ‘Tâu Thiên vương, mạng người ngắn
ngũi, rồi sẽ đi qua đời sau. Pháp ấy chắc chắn đến, cũng không thể ái
niệm, cũng không thể hoan hỷ, hoại diệt tất cả, người đời gọi là ‘sự
chết’, cho nên, tâu Thiên vương, đối với tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ
báu, nếu có niệm có dục thì mong Thiên vương hãy đoạn trừ, xả ly tất cả,
cho đến lúc mạng chung cũng không niệm tưởng’.
“Này A-nan, vua Đại
Thiện Kiến thuyết pháp cho tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu, khuyến
phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ. Sau khi dùng vô lượng phương tiện
thuyết pháp cho những người ấy, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ
xong, nhà vua bảo họ trở về.
“Này A-nan, biết vua
đã ra lệnh, tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu mỗi người đều đến bái biệt
nhà vua rồi trở về.
“Này A-nan, tám vạn
bốn ngàn phu nhân và nữ báu ấy trở về chưa bao lâu, vua Đại Thiện Kiến
cùng người hầu cận trở lên đại điện, vào lầu bằng vàng, ngồi trên ngự sàng
bằng bạc, được trải bằng các thứ nệm, chăn, đệm lông năm sắc, được phủ lên
bằng các thứ gấm, lụa, the, sa trun, có
chăn đệm lót hai đầu để gối và trải thảm quý bằng da sơn dương. Ngồi xong,
quán như thế này: ‘Ta đến đây là cuối cùng. Niệm dục, niệm nhuế, niệm hại,
đấu tranh, ghét nhau, dua siễm, dối trá, lừa gạt, nói láo, vô lượng các
pháp ác bất thiện đến đây là cuối cùng. Tâm cùng với từ tương ưng, biến
mãn một phương, thành tựu và an trú. Cũng như thế, hai, ba, bốn phương
trên và dưới phổ biến cùng khắp, không kết không oán, không nhuế, không
tranh, bao la rộng lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn cùng khắp thế
gian, thành tựu và an trú’.
“Từ lầu bằng vàng đi
ra, nhà vua lại vào lầu bằng bạc, ngồi trên ngự sàng bằng vàng, được trải
lên bằng các chăn nệm, đệm lông năm sắc, được trải lên bằng các thứ gấm,
the, lụa, sa trun, có chăn đệm lót hai đầu để gối và trải thảm quý bằng da
sơn dương. Ngồi xong, quán tưởng rằng: ‘Ta đến đây là cuối cùng. Niệm dục,
niệm nhuế, niệm hại, đấu tranh, ghét nhau, dua siễm, dối trá, lừa gạt, nói
láo,... vô lượng các pháp ác bất thiện, đến đây là cuối cùng, tâm cùng với
bi tương ưng, biến mãn một phương, thành tựu và an trú. Cũng như thế, hai,
ba, bốn phương, tứ duy, phương trên và phương dưới, phổ biến cùng khắp,
không kết không oán, không nhuế, không tranh, rộng rãi bao la vô lượng,
khéo tu tập, biến mãn cùng khắp thế gian, thành tựu an trú’.
“Từ lầu bằng bạc đi
ra, nhà vua lại vào lầu bằng lưu ly, ngồi trên ngự tòa bằng thủy tinh,
đượïc trải bằng các thứ chăn nệm, đệm lông năm sắc, được phủ lên bằng các
thứ gấm, the, lụa, sa trun, có chăn nệm lót hai đầu để gối và trải thảm
quý bằng da sơn dương. Ngồi xong, quán thế này: ‘Ta đến đây là cuối cùng.
Niệm dục, niệm nhuế, niệm hại, đấu tranh, ghéùt nhau, dua siễm, dối trá,
lừa gạt, nói láo, vô lượng các pháp ác bất thiện, đến đây là cuối cùng,
tâm cùng với hỷ tương ưng, biến mãn một phương, thành tựu và an trú. Cũng
như thế, hai, ba, bốn phương, tứ duy, phương trên và phương dưới, phổ biến
cùng khắp, không kết không oán, không nhuế, không tranh, rộng rãi bao la
vô lượng, khéo tu tập, biến mãn cùng khắp thế gian, thành tựu và an trú’.
“Từ lầu bằng lưu ly
đi ra, nhà vua vào lầu bằng thủy tinh, ngồi trên ngự tòa bằng lưu ly, được
trải lên bằng các thứ chăn nệm, đệm lông năm sắc, được phủ lên bằng các
thứ gấm, the, lụa, sa trun, có chăn nệm lót hai đầu để gối và trải thảm
quý bằng da sơn dương. Ngồi xong, quán thế này: “Ta đến đây là cuối cùng.
Niệm dục, niệm nhuế, niệm hại, đấu tranh, ghét nhau, dua siễm, dối trá,
lừa gạt, nói láo,... vô lượng các pháp ác bất thiện, đến đây là cuối cùng,
tâm cùng với xả tương ưng, biến mãn một phương, thành tựu và an trú. Cũng
như thế, hai, ba, bốn phương, tứ duy, phương trên và phương dưới, phổ biến
cùng khắp, không kết không oán, không nhuế, không tranh, rộng rãi bao la
vô lượng, khéo tu tập, biến mãn cùng khắp thế gian, thành tựu và an trú.”
“Này A-nan, Vua Đại
Thiện Kiến vào giờ phút cuối cùng, chết với một cảm giác đau phơn phớt.
“Cũng giống như cư
sĩ hoặc con của cư sĩ, ăn món ăn mỹ diệu, cảm thấy một chút khó chịu.
“Này A-nan, vua Đại
Thiện Kiến vào giờ phút cuối cùng chết với một cảm giác đau phơn phớt cũng
lại như vậy.
“Này A-nan, bấy giờ
vua Đại Thiện Kiến tu bốn Phạm thất,
sau khi xả niệm dục, nhờ đó khi mạng chung, sanh vào cõi Phạm thiên.
“Này A-nan, vua Đại
Thiện Kiến thuở xưa ấy ông cho là ai khác chăng? Chớ nghĩ như vậy, nên
biết rằng vị ấy chính là Ta vậy.
“Này A-nan, lúc bấy
giờ Ta làm lợi ích cho mình, cũng làm lợi ích cho kẻ khác, làm lợi ích cho
mọi người. Ta thương xót thế gian, mong cầu thiện lợi và hữu ích, mong cầu
an ổn và khoái lạc cho trời và người. Bấy giờ Ta thuyết pháp không đến chỗ
rốt ráo, không rốt ráo bạch tịnh, không rốt ráo phạm hạnh. Vì không rốt
ráo phạm hạnh nên khi ấy không lìa khỏi sự sanh, tuổi già, bệnh tật, sự
chết, khóc lóc, áo não, cũng chưa thoát khỏi mọi khổ đau.
“Này A-nan, nay Ta
xuất hiện ở đời là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành
Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư,
Phật, Chúng Hựu. Nay Ta đã làm lợi ích cho mình, cũng làm lợi ích cho kẻ
khác, làm lợi ích cho mọi người. Ta thương xót thế gian, mong cầu sự thiện
lợi và hữu ích, cầu sự an ổn và khoái lạc cho trời và người. Nay Ta thuyết
pháp đến chỗ rốt ráo, rốt ráo bạch tịnh, rốt ráo phạm hạnh. Rốt ráo phạm
hạnh nên nay Ta lìa khỏi sự sanh, tuổi già, tật bệnh, sự chết, khóc lóc,
áo não. Ta nay đã thoát khỏi mọi sự đau khổ.
“Này A-nan, từ thành
Câu-thi-la, từ rừng Sa-la của Hòa-bạt-đơn Lực sĩ, từ sông Ni-liên-nhiên,
từ sông Bà-cầu,
từ Thiên Quang tự, từ chỗ trải chỗ nằm cho Ta hôm nay, trong khoảng thời
gian giữa đó, Ta đã bảy lần xả thân. Trong bảy lần ấy, sáu lần làm Chuyển
luân vương, nay là lần thứ bảy thành Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh
Giác. Này A-nan, Ta không thấy ở đâu trong thế gian này, Trời hay Ma,
Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ trời đến người mà Ta sẽ xả thân thêm lần nữa,
vì điều đó không có thể có.
“Này A-nan, nay đây
là sự sanh cuối cùng của Ta, là sự hữu cuối cùng, là thân cuối cùng, là
bẩm hình cuối cùng. Ta nói đây là chỗ tận cùng của khổ.
Đức Phật thuyết như
vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết xong, hoan hỷ
phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 6 |
58
|
59
|
60
61
|
62
|
63
|
64
|
65
|
66
|
67
|
68
|
69
|
70
|
71
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003