SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ
6
PHẨM VƯƠNG TƯƠNG ƯNG
65. KINH Ô ĐIỂU DỤ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời, Phật du
hóa tại thành Vương xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa.
Bấy giờ Thế Tôn nói
với các Tỳ-kheo:
“Thuở xưa, khi
Chuyển luân vương muốn thử châu báu, liền cho tập trung bốn loại quân là
quân voi, quân ngựa, quân xe và quân bộ. Sau khi tập trung xong, vào lúc
đêm tối, cho dựng cây tràng phan cao và đặt hạt châu trên đó. Ra đến ngoài
viên quán, ánh sáng của minh châu soi sáng cả bốn loại quân. Ánh sáng ấy
chiếu xa nửa do-diên.
“Bấy giờ có Phạm chí
nghĩ rằng: ‘Ta nên đến xem Chuyển luân vương và bốn loại quân, nhìn ngắm
hạt châu lưu ly’. Phạm chí lại nghĩ: ‘Thôi, hãy bỏ qua việc muốn thấy
Chuyển luân vương và bốn loại quân, nhìn ngắm hạt châu lưu ly, ta nên đến
khoảng rừng kia’.
“Nghĩ xong, Phạm chí
liền đến khu rừng. Sau khi đến nơi, vào trong rừng, Phạm chí đến ngồi dưới
một gốc cây. Ngồi chưa bao lâu, có một con rái cá
đi đến. Phạm chí trông thấy, hỏi:
“Xin chào Rái cá!
Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?”
Đáp:
“Thưa Phạm chí, hồ
ấy trước kia tràn đầy mạch nước trong, có nhiều ngó sen, hoa và cá, rùa.
Trước đây tôi ở đó; nhưng nay nó khô rang. Phạm chí nên biết, tôi muốn bỏ
đi, vào sông lớn kia. Tôi nay muốn đi; chỉ sợ loài người.”
Con rái cá kia sau
khi chuyện trò với Phạm chí xong, liền bỏ đi. Phạm chí vẫn ngồi như cũ.
Lại có chim cứu-mộ
đến. Phạm chí trông thấy, liền nói:
“Xin chào, Cứu-mộ!
Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?”
Đáp:
“Thưa Phạm chí, hồ
ấy trước kia tràn đầy mạch nước trong, có nhiều ngó sen, hoa và cá, rùa.
Trước đây tôi ở đó; nhưng nay nó khô rang. Phạm chí nên biết, tôi muốn bỏ
đi, đến trú ngụ ở chỗ có nhiều xác trâu chết kia, hoặc ở chỗ có lừa chết,
nhiều xác người chết. Hôm nay tôi muốn đi, nhưng chỉ sợ loài người.”
Chim cứu-mộ ấy nói
chuyện với Phạm chí như vậy rồi bỏ đi. Phạm chí vẫn ngồi như cũ.
Lại có kên kên
đến. Phạm chí trông thấy, liền hỏi:
“Xin chào Kên kên!
Ngươi từ đâu lại và muốn đi đâu?”
Đáp:
“Thưa Phạm chí, tôi
từ mộ lớn này đến mộ lớn khác, giết hại xong rồi đến đây. Nay tôi muốn ăn
thịt voi chết, ngựa chết, trâu chết, người chết. Tôi nay muốn đi; nhưng
chỉ sợ loài người.”
Kên kên nói chuyện
với Phạm chí như vậy rồi bỏ đi. Phạm chí vẫn ngồi như cũ.
Lại có chim ăn bã
lại đến. Phạm chí trông thấy liền hỏi:
“Xin chào Ăn bã.
Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?”
Đáp:
“Thưa Phạm chí, ông
có thấy Kên kên vừa đi đến đây không? Tôi ăn cái mà nó nhả ra. Nay tôi
muốn đi nhưng chỉ sợ loài người.
Chim ăn bã ấy nói
chuyện với Phạm chí như vậy rồi bỏ đi. Phạm chí vẫn ngồi như cũ.
Lại có con sói
đến. Phạm chí trông thấy rồi lại hỏi:
“Xin chào Sói! Ngươi
từ đâu lại và muốn đi đâu?”
Đáp:
“Thưa Phạm chí, tôi
từ suối sâu này đến suối sâu khác, từ bụi rậm này đến bụi rậm khác, từ chỗ
hẻo lánh này đến chỗ hẻo lánh khác. Nay tôi muốn ăn thịt voi chết, thịt
ngựa chết, thịt trâu chết. Bây giờ tôi muốn đi nhưng chỉ sợ loài người.
Sói nói chuyện với
Phạm chí như vậy rồi bỏ đi. Phạm chí vẫn ngồi như cũ.
Lại có con quạ
đến, trông thấy, Phạm chí liền hỏi:
“Xin chào Quạ. Ngươi
từ đâu đến và muốn đi đâu?”
Đáp:
“Này Phạm chí, ông
trán cứng, si cuồng; sao lại hỏi tôi từ đâu đến và muốn đi đâu?”
Con quạ mắng vào mặt
Phạm chí rồi bỏ đi. Phạm chí vẫn ngồi như cũ.
Lại có con đười ươi
đến, Phạm chí trông thấy liền hỏi:
“Xin chào Đười ươi!
Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?”
Đáp:
“Thưa Phạm chí, tôi
từ vườn này đến vườn khác, từ đền miếu
này đến đền miếu khác, từ rừng này đến rừng khác; uống nước suối trong, ăn
trái cây tốt, rồi đến đây. Nay tôi muốn đi, không sợ loài người.
Đười ươi nói chuyện
cùng Phạm chí như vậy rồi bỏ đi.
Phật bảo các
Tỳ-kheo:
“Ta nói các thí dụ
ấy là muốn các ngươi hiểu rõ nghĩa. Các ngươi nên biết, nói các thứ dụ ấy
như thế, có nghĩa của nó.
“Bây giờ, con thú
rái cá nói chuyện với Phạm chí như vậy rồi bỏ đi, Ta nói thí dụ này có
nghĩa như thế nào? – Giả sử có Tỳ-kheo nào nương vào thôn ấp mà sống.
Vào buổi sáng sớm, Tỳ-kheo mang y ôm bát vào thôn khất thực mà không thủ
hộ thân, không thủ hộ các căn, không an trụ chánh niệm, nhưng vị ấy lại
thuyết pháp; những pháp hoặc do Phật thuyết, hoặc do Thanh văn thuyết. Nhờ
đó vị ấy được lợi, như được áo chăn, đồ ăn, thức uống, giường nệm, thuốc
thang, đầy đủ các nhu cầu cho sự sống. Sau khi được lợi, vị ấy càng đắm
trước xúc chạm mềm mại,
không thấy tai họa, không thể xả bỏ, mặc tình sử dụng. Tỳ-kheo ấy thực
hành ác giới, thành tựu ác pháp, đứng sát bờ mé, trở nên tệ mạt, hủ bại,
không phải phạm hạnh mà tự xưng là phạm hạnh, không phải Sa-môn mà tự xưng
là Sa-môn. Cũng như Phạm chí thấy rái cá rồi hỏi: ‘Xin chào Rái cá! Ngươi
từ đâu lại và muốn đi đâu?’ Đáp: ‘Thưa Phạm chí, hồ ấy trước kia tràn đầy
mạch nước trong, có nhiều ngó sen, nhiều hoa và cá, rùa. Trước tôi ở đó
nhưng nay khô rang. Phạm chí nên biết, tôi muốn bỏ đi vào sông lớn kia.
Giờ tôi muốn đi, chỉ sợ loài người’. Ta nói, Tỳ-kheo ấy cũng lại như thế,
rơi vào trong pháp ác, bất thiện, ô uế, tạo gốc rễ của sự hữu trong tương
lai, tạo nhân khổ báo, phiền nhiệt của sanh, già, bệnh, chết. Cho nên,
Tỳ-kheo chớ sống như con rái cá, chớ nương vào phi pháp để bảo tồn sự
sống. Hãy tịnh hóa thân hành, tịnh hóa khẩu hành và tịnh hóa ý hành, an
trú nơi vô sự, khoác y phấn tảo, thường hành khất thực, thứ lớp khất thực,
thiểu dục tri túc, ưa sống viễn ly mà tu tập tinh cần, an trụ nơi chánh
niệm, chánh trí, chánh định, chánh tuệ, thường nên viễn ly. Nên học như
vậy.
“Lúc chim cứu-mộ đến
nói chuyện với Phạm chí như vậy rồi bỏ đi. Ta nói thí dụ này có nghĩa như
thế nào? Giả sử có Tỳ-kheo nào nương vào thôn ấp mà sống. Vào buổi sáng
sớm, Tỳ-kheo mang y ôm bát vào thôn khất thực mà không thủ hộ thân, không
thủ hộ các căn, không an trú chánh niệm, nhưng vị ấy lại vào nhà người mà
thuyết pháp; những pháp hoặc do Phật thuyết, hoặc do Thanh văn thuyết. Nhờ
đó vị ấy được lợi, như được áo chăn, đồ ăn, thức uống, giường nệm, thuốc
thang, đầy đủ các nhu cầu cho sự sống. Sau khi được lợi, vị ấy càng đắm
trước xúc chạm mềm mại, không thấy tai họa, không thể xả bỏ, mặc tình xử
dụng. Tỳ-kheo ấy thực hành ác giới, thành tựu ác pháp, đứng sát bờ mé, trở
nên tệ mạt, hủ bại, không phải phạm hạnh mà tự xưng là phạm hạnh, không
phải Sa-môn mà tự xưng là Sa-môn. Cũng như Phạm chí thấy cứu-mộ rồi hỏi:
‘Xin chào Cứu-mộ! Ngươi từ đâu lại và muốn đi đâu?’ Đáp: ‘Thưa Phạm chí,
hồ ấy trước kia tràn đầy mạch nước trong, có nhiều ngó sen, hoa và cá,
rùa. Trước đây tôi ở đó; nhưng nay nó khô rang. Phạm chí nên biết, tôi
muốn bỏ đi, đến trú ngụ ở chỗ có nhiều xác trâu chết kia, hoặc ở chỗ có
lừa chết, nhiều xác người chết. Hôm nay tôi muốn đi, nhưng chỉ sợ loài
người’. Ta nói, Tỳ-kheo ấy cũng lại như thế, rơi vào trong pháp ác, bất
thiện, ô uế, tạo gốc rễ của sự hữu trong tương lai, tạo nhân khổ báo,
phiền nhiệt của sanh, già, bệnh, chết. Cho nên, Tỳ-kheo chớ sống như con
cứu-mộ, chớ nương vào phi pháp để bảo tồn sự sống. Hãy tịnh hóa thân hành,
tịnh hóa khẩu hành và tịnh hóa ý hành, an trú nơi vô sự, khoác y phấn tảo,
thường hành khất thực, thứ lớp khất thực, thiểu dục tri túc, ưa sống viễn
ly mà tu tập tinh cần, an trụ nơi chánh niệm, chánh trí, chánh định, chánh
tuệ, thường nên viễn ly. Nên học như vậy.
“Bầy kên kên nói
chuyện với Phạm chí rồi bỏ đi. Ta nói thí dụ có nghĩa như thế nào? Giả sử
có Tỳ-kheo nào nương vào thôn ấp mà sống. Vào buổi sáng sớm, Tỳ-kheo mang
y ôm bát vào thôn khất thực mà không thủ hộ thân, không thủ hộ các căn,
không an trú chánh niệm, nhưng vị ấy lại vào nhà người mà thuyết pháp;
những pháp hoặc do Phật thuyết, hoặc do Thanh văn thuyết. Nhờ đó vị ấy
được lợi, như được áo chăn, đồ ăn, thức uống, giường nệm, thuốc thang, đầy
đủ các nhu cầu cho sự sống. Sau khi được lợi, vị ấy càng đắm trước xúc
chạm mềm mại, không thấy tai họa, không thể xả bỏ, mặc tình xử dụng.
Tỳ-kheo ấy thực hành ác giới, thành tựu ác pháp, đứng sát bờ mé, trở nên
tệ mạt, hủ bại, không phải phạm hạnh mà tự xưng là phạm hạnh, không phải
Sa-môn mà tự xưng là Sa-môn. Giống như Phạm chí thấy kên kên rồi hỏi: ‘Xin
chào Kên kên, ngươi từ đâu lại và muốn đi đâu?’ Đáp: “Thưa Phạm chí, tôi
từ mộ lớn này đến mộ lớn khác, sát hại rồi đến đây. Nay tôi muốn ăn thịt
voi chết, thịt ngựa chết, thịt trâu chết, thịt người chết. Bây giờ tôi
muốn đi nhưng chỉ sợ loài người’. Ta nói thí dụ ấy cũng lại như vậy. Cho
nên Tỳ-kheo chớ sống như kên kên, chớ nương vào phi pháp để bảo tồn sự
sống. Hãy tịnh hóa thân hành, tịnh hóa khẩu hành và ý hành, an trụ nơi vô
sự, mang phấn tảo y, thường hành khất thực, thứ lớp khất thực, thiểu dục
tri túc, ưa sống viễn ly mà tu tập tinh cần, trụ lập chánh niệm, chánh
trí, chánh định, chánh tuệ, thường nên viễn ly. Nên học như thế.
“Bầy chim ăn bã kia
nói chuyện với Phạm chí rồi bỏ đi. Ta nói thí dụ ấy có nghĩa như thế nào?
Giả sử có thầy Tỳ-kheo nào nương vào thôn ấp để sống. Vào lúc sáng sớm,
Tỳ-kheo ấy mang y cầm bát vào thôn xóm khất thực mà không thủ hộ thân,
không thủ hộ ý, không giữ gìn các căn, không an trú chánh niệm. Vị ấy vào
phòng Tỳ-kheo-ni giáo hóa, thuyết pháp; những pháp hoặc do Phật thuyết,
hoặc do Thanh văn thuyết. Tỳ-kheo-ni kia vào bao nhiêu nhà khác nói tốt
nói xấu, thọ nhận phẩm vật của tín thí rồi mang về cho vị Tỳ-kheo ấy. Nhân
đó vị Tỳ-kheo ấy được lợi, như được áo chăn, đồ ăn thức uống, giường nệm,
thuốc thang, đầy đủ các nhu cầu cho sự sống. Sau khi được lợi, vị ấy đắm
trước sự xúc chạm mềm mại, không thấy tai họa, không thể xả bỏ, mặc tình
xử dụng. Vị Tỳ-kheo ấy thực hành ác giới, thành tựu ác pháp, đứng sát bờ
mé, trở nên tệ mạt hủ bại, không phải phạm hạnh mà tự xưng là phạm hạnh,
không phải Sa-môn mà tự xưng là Sa-môn. Giống như Phạm chí thấy chim ăn bã
rồi hỏi: ‘Xin chào Ăn bã! Ngươi từ đâu lại và muốn đi đâu?’ Đáp: ‘Thưa
Phạm chí, ông thấy con kên kên vừa đi đó không? Tôi ăn cái mà nó nhả ra.
Bây giờ tôi muốn đi nhưng chỉ sợ loài người’. Ta nói Tỳ-kheo ấy cũng lại
như vậy. Cho nên Tỳ-kheo chớ sống như con chim ăn bã, chớ nương vào phi
pháp để bảo tồn sự sống. Hãy tịnh hóa thân hành và tịnh hóa khẩu hành, ý
hành, an trú nơi vô sự, mang y phấn tảo, thường hành khất thực, thứ lớp
khất thực, thiểu dục tri túc, ưa sống viễn ly mà tu tập tinh cần, trú lập
chánh niệm, chánh trí, chánh định, chánh tuệ, thường phải viễn ly. Nên học
như thế.
“Bầy con sói nói
chuyện với Phạm chí rồi bỏ đi. Ta nói ví dụ này có nghĩa như thế nào? Giả
sử có một Tỳ-kheo sống tại một thôn nghèo. Nếu Tỳ-kheo biết trong thôn ấp
có nhiều bậc trí tuệ tinh tấn phạm hạnh thì liền tránh đi. Nếu biết trong
thôn ấp và thành quách không có bậc trí tuệ tinh tấn phạm hạnh nào thì đến
ở, suốt chín tháng hoặc mười tháng. Các Tỳ-kheo khác thấy liền hỏi: ‘Hiền
giả du hành xứ nào?’ Tỳ-kheo ấy đáp: ‘Tôi sống tại thôn nghèo kia’. Các
Tỳ-kheo nghe xong liền nghĩ: Hiền giả này làm việc khó làm. Lý do vì sao?
Vì Hiền giả này có thể sống tại thôn nghèo ấy’. Các Tỳ-kheo ấy liền cùng
cung kính, đảnh lễ, cúng dường. Nhân đó vị Tỳ-kheo ấy được lợi ích, như
được áo chăn, đồ ăn thức uống, giường nệm, thuốc thang, đầy đủ các nhu cầu
cho sự sống. Sau khi được lợi, vị ấy lại đắm trước thêm, không thấy tai
họa, không thể xả bỏ, mặc tình xử dụng. Tỳ-kheo ấy thực hành ác giới,
thành tựu ác pháp, đứng sát bờ mé, trở thành tệ mạt, hủ bại, không phải
phạm hạnh mà tự xưng là phạm hạnh, không phải Sa-môn mà tự xưng là Sa-môn.
Giống như Phạm chí thấy con sói rồi hỏi: ‘Xin chào Sói! Ngươi từ đâu lại
và đi về đâu?’ Đáp: ‘Thưa Phạm chí, tôi từ suối sâu này đến suối sâu khác,
từ bụi rậm này đến bụi rậm khác, từ chốn hẻo lánh này đến chốn hẻo lánh
khác rồi đến đây. Nay tôi muốn ăn thịt voi chết, thịt ngựa chết, thịt trâu
chết, thịt người chết. Giờ tôi muốn đi nhưng chỉ sợ loài người’. Ta nói
Tỳ-kheo ấy lại cũng như vậy. Cho nên Tỳ-kheo chớ sống như con sói, chớ nên
nương theo phi pháp để bảo tồn mạng sống. Hãy tịnh hóa thân hành, tịnh hóa
khẩu hành và ý hành, an trú nơi vô sự, mang y phấn tảo, thường hành khất
thực, thứ lớp khất thực, thường hành thiểu dục tri túc, ưa sống viễn ly mà
tu tập tinh cần, trụ lập chánh niệm chánh trí, chánh định, chánh tuệ,
thường phải viễn ly. Nên tu học như vậy.
“Lúc chim quạ mắng
vào mặt Phạm chí rồi bỏ đi; Ta nói ví dụ ấy có nghĩa thế nào? Giả sử có
Tỳ-kheo nào nương nơi vô sự xứ nghèo nàn mà an cư tọa hạ. Nếu Tỳ-kheo ấy
biết trong thôn ấp và thành quách có nhiều bậc trí tuệ tinh tấn phạm hạnh
thì liền tránh đi. Nếu biết trong thôn ấp và thành quách không có bậc trí
tuệ, tinh tấn phạm hạnh nào thì đến ở hai, ba tháng. Các Tỳ-kheo khác
thấy, liền hỏi: ‘Hiền giả tọa hạ nơi nào?’ Đáp rằng: ‘Chư Hiền, hiện giờ
tôi nương nơi vô sự xứ nghèo nàn kia mà an cư tọa hạ. Tôi không giống như
bọn ngu si kia, làm sẳn giường chõng, rồi sống trong đó với năm sự đầy đủ,
buổi sáng rồi buổi chiều, buổi chiều rồi buổi sáng, miệng chạy theo vị, vị
trôi theo miệng, cầu rồi lại cầu, xin rồi lại xin’. Lúc các Tỳ-kheo nghe
xong, liền nghĩ: “Hiền giả này làm những việc khó làm. Lý do vì sao? Hiền
giả này có thể nương nơi vô sự xứ nghèo nàn kia mà an cư tọa hạ’. Các
Tỳ-kheo ấy liền cùng cung kính, lễ bái, cúng dường. Nhân đó vị Tỳ-kheo ấy
được lợi, như được áo chăn, đồ ăn thức uống, giường nệm thuốc thang, đầy
đủ các nhu cầu cần cho sự sống. Sau khi được lợi, vị Tỳ-kheo ấy lại đắm
trước sự xúc chạm mềm mại, không thấy tai họa, không thể xả bỏ, mặc tình
sử dụng. Tỳ-kheo ấy thực hành ác giới, thành tựu ác pháp, đứng sát bờ mé,
trở thành tệ mạt hủ bại, không phải phạm hạnh mà tự xưng là phạm hạnh,
không phải Sa-môn mà tự xưng là Sa-môn. Giống như Phạm chí thấy chim quạ
rồi hỏi: ‘Xin chào Quạ! Ngươi từ đâu đến và muốn đi về đâu?’ Đáp: ‘Này
Phạm chí, ông là kẻ trán cứng, cuồng si, làm sao hỏi tôi rằng: ‘Ngươi từ
đâu lại và muốn đi về đâu?’.’ Ta nói Tỳ-kheo ấy lại cũng như vậy. Cho nên
Tỳ-kheo chớ sống như con quạ, chớ nương theo phi pháp để bảo tồn sự sống.
Hãy tịnh hóa thân hành, tịnh hóa khẩu hành và ý hành, an trú nơi vô sự,
mang y phấn tảo, thường hành khất thực, thứ lớp khất thực, thiểu dục tri
túc, ưa sống viễn ly mà tu tập tinh cần, trú lập chánh niệm, chánh trí,
chánh định, chánh tuệ, thường viễn ly. Nên học như thế.
“Con đười ươi kia
nói chuyện với Phạm chí rồi bỏ đi, Ta nói ví dụ ấy có nghĩa thế nào? Giả
sử có Tỳ-kheo nương vào thôn ấp mà sống. Vào buổi sáng sớm, Tỳ-kheo ấy
mang y cầm bát vào thôn khất thực, khéo thủ hộ thân, gìn giữ các căn, vững
vàng chánh niệm. Từ thôn ấp khất thực rồi, ăn xong. Sau khi thu xếp y bát,
rửa tay chân xong vắt Ni-sư-đàn lên vai, đi đến nơi vô sự, hoặc đến dưới
gốc cây, hoặc vào nhà trống, trải Ni-sư-đàn mà ngồi kiết già, chánh thân,
chánh nguyện, chuyên niệm hướng nội, đoạn trừ tham lam, muốn cho mình được
tâm không não hại; thấy của cải và vật dụng sinh tồn của người khác không
móng khởi tâm tham lam mong sẽ được về mình. Đối với tâm tham lam vị ấy đã
tịnh trừ. Cũng vậy, đối với sân nhuế, thùy miên, trạo hối, đoạn nghi, độ
hoặc, ở trong thiện pháp không còn do dự. Đối với tâm nghi hoặc, vị ấy đã
tịnh trừ. Vị ấy đã tịnh trừ năm triền cái này, chúng làm cho tâm ô uế, trí
yếu kém; ly dục, ly pháp ác bất thiện, cho đến, chứng đắc quả thiền thứ
tư, thành tựu và an trụ. Vị ấy chứng đắc định tâm như vậy, thanh tịnh
không uế, không phiền, nhu nhuyến, bất động, hướng đến chứng ngộ lậu tận
trí thông, rồi vị ấy liền biết như thật rằng: ‘Đây là khổ, đây là khổ tập,
đây là khổ diệt và đây là khổ diệt đạo’. Biết như thật rằng: ‘Đây là lậu,
đây là lậu tập, đây là lậu diệt và đây là lậu diệt đạo’. Sau khi đã biết
như vậy, đã thấy như vậy, tâm giải thoát dục lậu, tâm giải thoát hữu lậu,
tâm giải thoát vô minh lậu. Sau khi giải thoát, biết như thật rằng: ‘Sự
sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái
sanh nữa’. Giống như Phạm chí thấy đười ươi rồi hỏi: ‘Xin chào Đười ươi!
Ngươi từ đâu lại và đi về đâu?’ Đáp: ‘Thưa Phạm chí, tôi từ vườn này đến
vườn khác, từ đền miếu này đến đền miếu khác, từ rừng này đến rừng khác,
uống nước suối trong, ăn trái cây tốt. Nay tôi muốn đi, chẳng sợ loài
người’. Ta nói Tỳ-kheo kia lại cũng như vậy. Cho nên Tỳ-kheo chớ sống như
loài rái cá, chớ sống như chim cứu-mộ, chớ sống như kên kên, chớ sống như
chim ăn bã, chớ sống như con sói, chớ sống như quạ, mà nên sống như đười
ươi. Lý do vì sao? Bởi vì Bậc Vô trước chân nhân trong thế gian giống như
đười ươi.
Phật thuyết như vậy.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 6 |
58
|
59
|
60
61
|
62
|
63
|
64
|
65
|
66
|
67
|
68
|
69
|
70
|
71
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003