SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ
6
PHẨM VƯƠNG TƯƠNG ƯNG
63. KINH BỆ-BÀ-LĂNG-KỲ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Phật du hóa
tại nước Câu-tát-la.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
và đại chúng Tỳ-kheo cùng đi trên đường; giữa đường, Ngài mỉm cười rạng
rỡ. Tôn giả A-nan thấy Thế Tôn mỉm cười, liền chắp tay hướng về Thế Tôn và
bạch:
“Bạch Thế Tôn, do
nhân duyên gì Thế Tôn mỉm cười? Các Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh
Giác, nếu không có nhân duyên gì, thì không bao giờ cười suông. Con mong
nghe được ý nghĩa ấy.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn
bảo:
“Này A-nan, chính
trong xứ sở này, Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, ngồi
tại nơi đây mà nói pháp cho các đệ tử.”
Lúc đó Tôn giả
A-nan, ngay tại chỗ ấy, liền nhanh chóng trải chỗ ngồi, chắp tay hướng về
Thế Tôn và bạch:
“Bạch Thế Tôn, cúi
mong Thế Tôn cũøng ngồi nơi đây mà nói pháp cho các đệ tử. Như vậy, chỗ
này là sở hành của hai Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn
ngồi xuống trên chỗ mà Tôn giả A-nan đã trải. Sau khi ngồi xuống Ngài bảo:
“A-nan, ở trong xứ
sở này, Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, có giảng đường.
Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, sau khi ngồi ở trong
đó, bèn giảng pháp cho các đệ tử nghe. Này A-nan, trong xứ sở này, xưa kia
có thôn ấp, tên là Bệ-bà-lăng-kỳ,
giàu có cùng cực, dân chúng đông đúc. Này A-nan, trong thôn ấp
Bệ-bà-lăng-kỳ, có Phạm chí đại trưởng giả tên là Vô Nhuế, giàu có tột
đỉnh, của cải vô lượng, sản nghiệp chăn nuôi, không thể tính toán, phong
hộ, thực ấp đầy đủ mọi thứ.
“Này A-nan, Phạm chí
đại trưởng giả Vô Nhuế có người con tên là Ưu đa-la Ma-nạp,
được cha mẹ nuông chìu, thọ sanh thanh tịnh, cho đến bảy đời cha mẹ, chủng
tộc không tuyệt, đời đời không ác, học rộng, nghe nhiều, đọc hết bốn điển
kinh,
thấu triệt nhân duyên, chánh văn, hí là năm, cùng với cú pháp và thuyết
văn.
“Này A-nan, đồng tử
Ưu-đa-la có người bạn lành làm thợ đồ gốm tên là Nan-đề-bà-la
thường được đồng tử Ưu-đa-la yêu thương, tưởng nhớ, ưa gặp gỡ không chán.
Này A-nan, thợ đồ gốm Nan-đề-bà-la quy y Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo,
không nghi ngờ Ba ngôi tôn quý,
không nghi hoặc Khổ, Tập, Diệt, Đạo; có tín, có giới, học rộng, ưa bố thí,
thành tựu trí tuệ; xa lìa sát sanh, đoạn trừ sự sát sanh, xả bỏ đao gậy,
biết hổ, biết thẹn, có tâm từ bi, làm lợi ích tất cả cho đến loài côn
trùng; đối với tâm niệm sát sanh, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la xa lìa lấy của không cho, đoạn trừ việc không cho mà lấy, cái
gì cho mới lấy, vui lòng nhận những gì được cho; thường thích bố thí, hoan
hỷ không bỏn sẻn, không mong báo đáp; đối với tâm niệm không cho mà lấy,
vị ấy đã tịnh trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la xa lìa phi phạm hạnh, đoạn trừ phi phạm hạnh, siêng tu phạm
hạnh, tinh tấn tu diệu hạnh, thanh tịnh, không ô uế, lìa dục, đoạn dâm;
đối với tâm niệm phi phạm hạnh, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này A-nan, thợ đồ
gốm Nan-đề-bà-la xa lìa nói dối, đoạn trừ nói dối, nói chân thật, ưa chân
thật, an trú nơi sự chân thật không chút di động, hoàn toàn đáng tin cậy,
không lừa dối thế gian; đối với tâm niệm nói dối, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la xa lìa nói hai lưỡi, đoạn trừ nói hai lưỡi, tu hạnh không nói
hai lưỡi, không phá hoại ai, không nghe chuyện người này rồi mách lại
người kia, xúi dục phá hoại người này, không nghe chuyện người kia, rồi
mách lại người này, xúi dục phá hoại người kia, ai chia lìa thì làm cho
hòa hợp, ai hòa hợp thì làm cho hoan hỷ, không lập bè đảng, không ưa bè
đảng, không khen ngợi bè đảng; đối với tâm niệm nói hai lưỡi, vị ấy đã
tịnh trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la xa lìa lời nói thô ác, đoạn trừ lời nói thô ác. Nếu có những
lời thô bạo, hung ác, trái tai, khiến mọi người không hoan hỷ, mọi người
không thương mến, khiến người khác khổ não, không được định tĩnh, vị ấy
đoạn trừ lời nói như vậy. Nếu có những lời hòa nhã, nhu thuận, lọt tai,
vừa lòng, khiến được hoan hỷ, được mến thương, khiến người khác an lạc, âm
thanh rõ ràng, không làm người sợ, khiến người khác định tĩnh, vị ấy nói
những lời như vậy; đối với tâm niệm ưa nói thô ác, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la xa lìa lời nói thêu dệt, đoạn trừ lời nói thêu dệt, nói đúng
lúc, nói chân thật, nói về pháp, nói về nghĩa, nói về chỉ tức, nói về việc
ưa chỉ tức, nói việc thuận thời, thích hợp, khéo dạy, khéo quở trách; đối
với tâm niệm ưa nói thêu dệt, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la xa lìa việc kinh doanh buôn bán, đoạn trừ việc kinh doanh
buôn bán, xả bỏ đong lường và đấu hộc, xả bỏ việc nhận hàng hóa, không cột
trói người, không trông mong sự đo lường tà vạy, không vì chút lợi nhỏ mà
lấn lướt, lừa dối người; đối với tâm niệm kinh doanh buôn bán, vị ấy đã
tịnh trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la xa lìa nhận đàn bà góa, đồng nữ, đoạn trừ việc nhận đàn bà
góa, đồng nữ; đối với tâm niệm nhận đàn bà góa, đồng nữ, vị ấy đã tịnh
trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận nô tỳ, đoạn trừ việc nhận nô tỳ; đối với tâm
niệm nhận nô tỳ, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận voi, ngựa, trâu, dê, đoạn trừ việc nhận voi,
ngựa, trâu, dê; đối với tâm niệm nhận voi, ngựa, trâu, dê vị ấy đã tịnh
trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận gà, heo, đoạn trừ việc nhận gà, heo; đối với
tâm niệm nhận gà, heo, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận ruộng đất, quán xá, đoạn trừ việc nhận ruộng
đất, quán xá; đối với tâm niệm nhận ruộng đất, quán xá, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận nếp, lúa, đậu sống, đoạn trừ việc nhận nếp,
lúa, đậu sống; đối với tâm niệm nhận nếp, lúa, đậu sống, vị ấy đã tịnh
trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la xa lìa việc uống rượu, đoạn trừ việc uống rượu; đối với tâm
niệm uống rượu, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la xa lìa việc dùng giường sang, cao rộng, đoạn trừ việc dùng
giường sang, cao rộng; đối với tâm niệm dùng giường sang, cao rộng, vị ấy
đã tịnh trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la xa lìa việc đeo vòng hoa, đeo chuỗi ngọc, thoa hương, đánh
phấn, đoạn trừ việc đeo vòng hoa, chuỗi ngọc, thoa hương, đánh phấn; đối
với tâm niệm đeo vòng hoa, chuỗi ngọc, thoa hương, đánh phấn, vị ấy đã
tịnh trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la xa lìa việc ca múa, xướng hát hoặc đến nghe, xem, đoạn trừ
việc ca múa, xướng hát hoặc đến nghe, xem; đối với tâm niệm ca múa, xướng
hát và đến xem, nghe, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận vàng, bạc, châu báu, đoạn trừ việc nhận
vàng, bạc, châu báu; đối với tâm niệm nhận vàng, bạc, châu báu, vị ấy đã
tịnh trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la lìa việc ăn quá ngọ, đoạn trừ việc ăn quá ngọ, thường ăn một
bữa, không ăn ban đêm, học hạnh ăn đúng thời; đối với tâm niệm ăn quá ngọ,
vị ấy đã tịnh trừ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la trọn đời tay không cầm cuốc, không tự tay đào đất, cũng không
bảo người khác đào; nếu đất ở đê chận nước lở ra, hoặc đất do chuột đào
lên thì lấy làm đồ gốm đưa lên và nói với người mua rằng: ‘Các ngài, nếu
có đậu oản,
gạo giẻ, lúa mạch, đậu ma lớn nhỏ, đậu bệ và hạt cải, sau khi trút xuống
rồi, ngài cứ mang gốm này mà đi, tùy theo ý muốn’.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la trọn đời hầu hạ cha mẹ, cha mẹ mù lòa chỉ trông cậy vào vị
ấy; cho nên vị ấy phải hầu hạ.
“Này A-nan, thợ gốm
Nan-đề-bà-la vào một sáng sớm, đi đến trước Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Ngài, rồi ngồi qua một
bên. Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thuyết pháp cho
vị ấy, khuyến khích phát khởi lòng ngưỡng mộ, thành tựu tâm hoan hỷ. Sau
khi bằng vô lượng phương tiện thuyết pháp cho vị ấy, khuyến khích phát
khởi lòng ngưỡng mộ, thành tựu tâm hoan hỷ xong, Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc
Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác ngồi im lặng.
“Này A-nan, sau khi
được Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thuyết pháp,
khuyến khích phát khởi lòng ngưỡng mộ, thành tựu tâm hoan hỷ rồi, thợ gốm
Nan-đề-bà-la từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Ngài, đi quanh ba
vòng, rồi lui ra.
“Bấy giờ đồng tử
Ưu-đa-la cưỡi xe ngựa trắng, cùng với năm trăm đồng tử nữa, vào lúc vừa
sáng, từ thôn ấp Bệ-bà-lăng-kỳ ra đi, đến một chỗ vô sự,
muốn giáo hóa các đệ tử từ nhiều nước đến, dạy chúng đọc sách Phạm chí.
Bấy giờ đồng tử Ưu-đa-la từ xa trông thấy thợ gốm Nan-đề-bà-la đi đến;
thấy rồi liền hỏi:
“– Nan-đề-bà-la, anh
từ đâu đến?”
“Nan-đề-bà-la đáp:
“– Hôm nay tôi từ
chỗ Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, sau khi cúng dường
lễ bái Ngài xong thì đến đây. Này Ưu-đa-la, bạn có thể cùng với tôi đến
chỗ Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác để cúng dường,
lễ bái Ngài?
“Khi ấy, đồng tử
Ưu-đa-la đáp:
“– Này anh
Nan-đề-bà-la, tôi không muốn thấy Sa-môn trọc đầu. Sa-môn trọc đầu không
thể đắc đạo, vì đạo khó chứng đắc.
“Rồi thì, thợ gốm
Nan-đề-bà-la túm lấy chỏm tóc của đồng tử Ưu-đa-la kéo xuống xe. Lúc đó
đồng tử Ưu-đa-la nghĩ: ‘Anh thợ gốm Nan-đề-bà-la này không bỡn cợt, không
khùng, không si, nay kéo tóc mình chắc có điều gì?’ Nghĩ xong liền bảo:
“– Này anh
Nan-đề-bà-la, tôi đi theo anh, tôi đi theo anh!
“Bấy giờ
Nan-đề-bà-la hoan hỷ nói rằng:
“– Lành thay, chúng
ta đi.
“Thợ gốm
Nan-đề-bà-la và đồng tử Ưu-đa-la cùng nhau đến chỗ Đức Ca-diếp Như Lai,
Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác. Đến nơi, hai người đảnh lễ rồi ngồi qua
một bên. Thợ gốm Nan-đề-bà-la bạch Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác rằng:
“– Bạch Thế Tôn, đồng tử Ưu-đa-la này là bạn của con. Bạn này thường ưa
đến thăm, thường thích đến thăm con, không hề nhàm chán, nhưng không có
lòng tin và cung kính đối với Thế Tôn. Mong Thế Tôn khéo léo thuyết pháp
cho bạn con, hoan hỷ, khởi lòng tin và cung kính.”
“Bấy giờ Đức Ca-diếp
Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thuyết pháp cho thợ gốm
Nan-đề-bà-la và đồng tử Ưu-đa-la, khuyến khích, phát khởi lòng ngưỡng mộ,
thành tựu tâm hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện thuyết pháp cho
hai vị ấy, khuyến khích phát khởi lòng ngưỡng mộ, thành tựu tâm hoan hỷ
xong, Đức Thế Tôn ngồi im lặng. Bấy giờ, sau khi được Đức Ca-diếp Như Lai,
Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thuyết pháp, khuyến khích phát khởi lòng
ngưỡng mộ, thành tựu tâm hoan hỷ, hai vị liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh
lễ dưới chân Ngài, đi quanh ba vòng, rồi lui ra.
“Lúc trở về, đi chưa
bao xa, đồng tử Ưu-đa-la lại hỏi:
“– Này anh
Nan-đề-bà-la, anh đã được nghe pháp vi diệu như thế từ Đức Như Lai, Bậc Vô
Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, tại sao anh còn ở nhà, không thể lìa bỏ để học
Thánh đạo?
“Bấy giờ thợ gốm
Nan-đề-bà-la đáp:
“– Này Ưu-đa-la,
chính bạn đã biết tôi phải trọn đời hầu hạ, nuôi nấng cha mẹ; vì cha mẹ
tôi mù lòa, chỉ trông cậy ở mình tôi. Tôi vì hầu hạ phụng dưỡng cha mẹ
vậy.
“Bấy giờ đồng tử
Ưu-đa-la hỏi:
“– Này Nan-đề-bà-la,
tôi có thể theo Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác xuất
gia học đạo, thọ giới cụ túc, làm Tỳ-kheo, tu hành phạm hạnh được chăng?
“Lúc đó, thợ gốm Nan-đề-bà-la và đồng tử Ưu-đa-la từ nơi ấy quay trở lại
chỗ Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đến nơi, đảnh
lễ Ngài, rồi ngồi qua một bên. Thợ gốm Nan-đề-bà-la bạch Đức Ca-diếp Như
Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác rằng:
“– Bạch Thế Tôn,
đồng tử Ưu-đa-la này trở về chưa bao xa, lại hỏi con rằng: ‘Này anh
Nan-đề-bà-la, từ Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác,
anh được nghe pháp vi diệu như thế; tại sao anh còn ở nhà, không thể lìa
bỏ để học Thánh đạo?’ Bạch Thế Tôn, con đã trả lời rằng: ‘Chính bạn đã rõ,
tôi phải trọn đời hầu hạ, phụng dưỡng cha mẹ. Cha mẹ tôi mù lòa, chỉ trông
cậy vào một mình tôi. Như vậy, tôi phải hầu hạ, phụng dưỡng cha mẹ’.
Ưu-đa-la lại hỏi: ‘Này anh Nan-đề-bà-la, tôi có thể theo Đức Ca-diếp Như
Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, xuất gia học đạo, thọ cụ túc giới,
làm Tỳ-kheo, tu hành phạm hạnh được không?’ Bạch Thế Tôn, mong Ngài độ cho
bạn con xuất gia, học đạo, truyền trao giới cụ túc cho bạn con được làm
Tỳ-kheo.
“Đức Ca-diếp Như
Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác im lặng nhận lời của Nan-đề-bà-la.
Sau khi biết Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác im lặng
nhận lời, thợ gốm Nan-đề-bà-la từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân
Ngài, đi quanh ba vòng rồi lui ra.
“Sau khi Nan-đề-bà-la đi chưa bao lâu, Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác độ cho đồng tử Ưu-đa-la xuất gia, học đạo, truyền
trao giới cụ túc. Sau khi cho Ưu-đa-la xuất gia, cho thọ cụ túc xong, Ngài
ở thôn ấp Bệ-bà-lăng-kỳ vài ngày, rồi mang y, cầm bát cùng với đại chúng
Tỳ-kheo du
hành, muốn đến ấp Ba-la-nại, nước Ca-tư.
Đến Ba-la-nại, Ngài trú trong vườn Lộc dã tại Tiên nhân trú xứ.
“Bấy giờ, vua
Giáp-bệ
nghe Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đang du hành trong
nước Ca-tư, cùng với đại chúng Tỳ-kheo, đến Ba-la-nại, trú trong vườn Lộc
dã tại Tiên nhân xư.ù Nghe rồi, vua bảo người đánh xe:
“– Ngươi hãy sửa
soạn xe, hôm nay ta muốn đi đến chỗ Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác.
“Người đánh xe kia
vâng lời vua bảo liền sửa soạn xa giá, sửa soạn xong, tâu với vua rằng:
“– Con đã sửa soạn
xe đẹp, xin tùy ý Thiên vương.
“Vua Giáp-bệ, ngồi
xe đẹp, từ Ba-la-nại ra đi, đến vườn Lộc dã, chỗ trú xứ Tiên nhơn. Từ xa,
vua Giáp-bệ thấy, giữa rừng cây, Đức Ca-diếp Như Lai, Bậc Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác trang nghiêm đẹp đẽ như vầng trăng giữa vòm sao, chói lọi
sáng ngời như núi vàng, tướùng tốt vẹn toàn, oai nghi lồng lộng, các căn
vắng lặng, không bị ngăn che, hoàn toàn tự chế ngự, lắng tâm tĩnh mặc. Sau
khi thấy, vua xuống xe, đi đến chỗ Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác, đảnh lễ, rồi ngồi qua một bên. Sau khi nhà vua ngồi xuống, Đức
Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thuyết pháp, khuyến khích
phát khởi lòng ngưỡng mộ, thành tựu tâm hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng
phương tiện thuyết pháp cho nhà vua, khuyến khích phát khởi lòng ngưỡng
mộ, thành tựu hoan hỷ rồi, Ngài ngồi im lặng. Sau khi được Đức Ca-diếp Như
Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, khuyến khích phát khởi lòng ngưỡng
mộ, thành tựu hoan hỷ rồi, nhà vua liền đứng dậy, kéo lệch vai áo đang
mặc, chắp tay hướng về Phật và bạch:
“– Mong Thế Tôn cùng
với đại chúng Tỳ-kheo ngày mai nhận lời mời của con!
“Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, im lặng nhận lời mời
của vua Giáp-bệ. Sau khi biết Đức Như Lai đã im lặng nhận lời, nhà vua cúi
đầu đảnh lễ, đi quanh ba vòng rồi lui ra, trở về nhà.
“Đêm ấy, vua hạ lệnh
sắp sửa đủ các món ăn, thức uống ngon lành, sạch sẽ, mỹ diệu, với đủ các
thức ăn loại cứng, loại mềm. Việc bày biện đã xong ngay đêm ấy. Lúc tảng
sáng, vua trải giường ngồi, rồi sai người đến bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế
Tôn, nay giờ đã đến, thức ăn đã sẵn sàng, mong Thế Tôn đến đúng thời’.
“Bấy giờ, vào lúc
sáng sớm, Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác mang y, cầm
bát và có chúng Tỳ-kheo theo sau, đi đến nhà của vua Giáp-bệ, ngồi vào chỗ
ngồi phía trên chúng Tỳ-kheo. Vua Giáp-bệ thấy Phật và chúng Tỳ-kheo ngồi
xong, tự tay múc nước rửa, tự tay bưng hầu các thức ăn, thức uống, đầy đủ
các món ngon, sạch, mỹ diệu, khiến các Ngài ăn no. Ăn rồi dọn bát, lấy
nước rửa xong, nhà vua lấy ghế nhỏ ngồi riêng một bên để nghe pháp. Vua
Giáp-bệ ngồi xong, Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác
thuyết pháp cho vua, khuyến khích phát
khởi lòng ngưỡng mộ, thành tựu tâm hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương
tiện thuyết pháp cho vua, khuyến khích phát khởi lòng ngưỡng mộ, thành tựu
tâm hoan hỷ xong rồi, Ngài ngồi im lặng. Sau khi được Đức Như Lai, Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác thuyết pháp, khuyến khích phát khởi lòng ngưỡng mộ,
thành tựu tâm hoan hỷ rồi, vua Giáp-bệ từ chỗ ngồi đứng dậy, kéo lệch vai
áo đang mặc, chắp tay hướng về Đức Như Lai và bạch:
“– Mong Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo nhận lời của con mà an cư mùa mưa tại
Ba-la-nại này. Con xin xây cất năm trăm gian phòng, năm trăm giường nệm và
cúng thí các vật dụng,
cung cấp nếp trắng và đủ các món thực phẩm của vua, để cúng dường Ngài và
chúng Tỳ-kheo.
“Đức Ca-diếp Như
Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác bảo nhà vua:
“– Thôi, thôi, Đại
vương, chỉ cần có tâm hoan hỷ là đủ.
“Ba lần như thế, vua
Giáp-bệ chắp tay hướng về Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh
Giác thưa:
“– Mong Thế Tôn và
chúng Tỳ-kheo nhận lời mời của con mà an cư mùa mưa tại Ba-la-nại này. Con
xin xây cất năm trăm gian phòng, năm trăm giường nệm, và cúng thí các vật
dụng, cung cấp nếp trắng và các món ăn thực phẩm của vua để cúng dường
Phật và chúng Tỳ-kheo.
“Đức Ca-diếp Như
Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác cũng ba lần bảo:
“– Thôi, thôi, Đại
vương, chỉ cần có tâm hoan hỷ là đủ.
“Bấy giờ vua Giáp-bệ
không nhẫn được, không vừa ý, tâm rất ưu sầu, nghĩ rằng: ‘Đức Ca-diếp Như
Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác không nhận lời mời của ta mà an cư
mùa mưa tại Ba-la-nại này cùng với chúng Tỳ-kheo’. Nghĩ xong, nhà vua bạch
Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác:
“– Bạch Thế Tôn, có
kẻ bạch y tại gia nào phụng sự Thế Tôn giống con chăng?
“Đức Ca-diếp Như
Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đáp:
“– Có, và ở tại thôn
Bệ-bà-lăng-kỳ giàu có, hoan lạc tột cùng, nhân dân đông đúc, thuộc lãnh
thổ của Đại vương. Này Đại vương, ở trong thôn Bệ-bà-lăng-kỳ ấy có thợ gốm
Nan-đề-bà-la; này Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la quy y Phật, Pháp và
chúng Tỳ-kheo, không hoài nghi Ba ngôi báu, không nghi hoặc Khổ, Tập,
Diệt, Đạo, có tín, trì giới, học rộng, ưa bố thí, thành tựu trí tuệ, xa
lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, xả bỏ dao gậy, biết hổ thẹn, có tâm từ
bi, làm lợi ích cho đến cả tất cả loài côn trùng. Đối với tâm niệm sát
sanh vị ấy đã tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la xa lìa lấy của không cho, đoạn trừ việc không cho mà lấy,
cái gì cho mới lấy, vui lòng nhận những gì được cho; thường thích bố thí,
hoan hỷ không bỏn xẻn,
không mong báo đáp; đối với tâm niệm không cho mà lấy, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la xa lìa phi phạm hạnh, đoạn trừ phi phạm hạnh, siêng tu
phạm hạnh, tinh tấn tu diệu hạnh, thanh tịnh, không ô uế, lìa dục, đoạn
dâm; đối với tâm niệm phi phạm hạnh, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
đồ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa nói dối, đoạn trừ nói dối, nói chân thật, ưa
chân thật, an trú nơi sự chân thật không chút di động, hoàn toàn đáng tin
cậy, không lừa dối thế gian; đối với tâm niệm nói dối, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la xa lìa nói hai lưỡi, đoạn trừ nói hai lưỡi, tu hạnh không
nói hai lưỡi, không phá hoại ai, không nghe chuyện người này rồi mách lại
người kia, xúi dục phá hoại người này, không nghe chuyện người kia, rồi
mách lại người này, xúi dục phá hoại người kia, ai chia lìa thì làm cho
hòa hợp, ai hòa hợp thì làm cho hoan hỷ, không lập bè đảng, không ưa bè
đảng, không khen ngợi bè đảng; đối với tâm niệm nói hai lưỡi, vị ấy đã
tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la xa lìa lời nói thô ác, đoạn trừ lời nói thô ác. Nếu có
những lời thô bạo, hung ác, trái tai, khiến mọi người không hoan hỷ, mọi
người không thương mến, khiến người khác khổ não, không được định tĩnh, vị
ấy đoạn trừ lời nói như vậy. Nếu có những lời hòa nhã, nhu thuận, lọt tai,
vừa lòng, khiến được hoan hỷ, được mến thương, khiến người khác an lạc, âm
thanh rõ ràng, không làm người sợ, khiến người khác định tĩnh, vị ấy nói
những lời như vậy; đối với tâm niệm ưa nói thô ác, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la xa lìa lời nói thêu dệt, đoạn trừ lời nói thêu dệt, nói
đúng lúc, nói chân thật, nói về pháp, nói về nghĩa, nói về chỉ tức, nói về
việc ưa chỉ tức, nói việc thuận thời, thích hợp, khéo dạy, khéo quở trách;
đối với tâm niệm ưa nói thêu dệt, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc kinh doanh buôn bán, đoạn trừ việc kinh doanh
buôn bán, xả bỏ đong lường và đấu hộc, xả bỏ việc nhận hàng hóa, không cột
trói người, không trông mong sự đo lường tà vạy, không vì chút lợi nhỏ mà
lấn lướt, lừa dối người; đối với tâm niệm kinh doanh buôn bán, vị ấy đã
tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la xa lìa nhận đàn bà góa, đồng nữ, đoạn trừ việc nhận đàn
bà góa, đồng nữ; đối với tâm niệm nhận đàn bà góa, đồng nữ, vị ấy đã tịnh
trừ.
“Này Đại vương, thợ gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận nô tỳ, đoạn trừ
việc nhận nô tỳ; đối với tâm niệm nhận nô tỳ, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận voi, ngựa, trâu, dê, đoạn trừ việc nhận
voi, ngựa, trâu, dê; đối với tâm niệm nhận voi, ngựa, trâu, dê vị ấy đã
tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận gà, heo, đoạn trừ việc nhận gà, heo; đối
với tâm niệm nhận gà, heo, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận ruộng đất, quán xá, đoạn trừ việc nhận
ruộng đất, quán xá; đối với tâm niệm nhận ruộng đất, quán xá, vị ấy đã
tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận nếp, lúa, đậu sống, đoạn trừ việc nhận
nếp, lúa, đậu sống; đối với tâm niệm nhận nếp, lúa, đậu sống, vị ấy đã
tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc uống rượu, đoạn trừ việc uống rượu; đối với
tâm niệm uống rượu, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc dùng giường sang, cao rộng, đoạn trừ việc
dùng giường sang, cao rộng; đối với tâm niệm dùng giường sang, cao rộng,
vị ấy đã tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc đeo vòng hoa, đeo chuỗi ngọc, thoa hương,
đánh phấn, đoạn trừ việc đeo vòng hoa, chuỗi ngọc, thoa hương, đánh phấn;
đối với tâm niệm đeo vòng hoa, chuỗi ngọc, thoa hương, đánh phấn, vị ấy đã
tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc ca múa, xướng hát hoặc đến nghe, xem, đoạn
trừ việc ca múa, xướng hát hoặc đến nghe, xem; đối với tâm niệm ca múa,
xướng hát và đến xem, nghe, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la xa lìa việc nhận vàng, bạc, châu báu, đoạn trừ việc nhận
vàng, bạc, châu báu; đối với tâm niệm nhận vàng, bạc, châu báu, vị ấy đã
tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la lìa việc ăn quá ngọ, đoạn trừ việc ăn quá ngọ, thường ăn
một bữa, không ăn ban đêm, học hạnh ăn đúng thời; đối với tâm niệm ăn quá
ngọ, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la trọn đời tay không cầm cuốc, không tự tay đào đất, cũng
không bảo người khác đào; nếu đất ở đê chận nước lở ra, hoặc đất do chuột
đào lên thì lấy làm đồ gốm đưa lên và nói với người mua rằng: ‘Các ngài,
nếu có đậu oản, gạo giẻ, lúa mạch, đậu ma lớn nhỏ, đậu bệ và hạt cải, sau
khi trút xuống rồi, ngài cứ mang gốm này mà đi, tùy theo ý muốn’.
“Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la trọn đời hầu hạ cha mẹ, cha mẹ mù lòa chỉ trông cậy vào
vị ấy; cho nên vị ấy phải hầu hạ.
“Này Đại vương, Ta
nhớ lúc xưa có lần du hành tại thôn ấp Bệ-bà-lăng-kỳ. Này Đại vương, bấy
giờ vào lúc sáng sớm, Ta mang y, cầm bát vào thôn ấp Bệ-bà-lăng-kỳ khất
thực; khất thực theo thứ tự, Ta đến nhà thợ gốm Nan-đề-bà-la. Lúc đó, vì
bận chút việc, nên Nan-đề-bà-la đi vắng. Đại vương, Ta hỏi cha mẹ
Nan-đề-bà-la rằng:
“‘– Này Trưởng lão,
thợ gốm bây giờ ở đâu?’
“Cha mẹ người ấy
đáp:
“‘– Bạch Thế Tôn,
đứa hầu vì bận chút việc nên tạm thời đi khỏi, không ở nhà. Bạch Thiện
Thệ, đứa hầu ấy vì bận chút việc nên tạm thời đi khỏi nhà, không có ở nhà.
Bạch Thế Tôn, trong rá có cơm gạo tẻ, trong chảo có canh đậu. Mong Thế Tôn
thương xót chúng con, lấy dùng theo ý Ngài’.
“Này Đại vương, Ta
liền thọ nhận pháp Uất-đơn-viết,
lấy cơm canh ở trong rá rồi đi. Thợ gốm Nan-đề-bà-la, sau khi trở về nhà,
thấy cơm trong rá còn ít, canh trong chảo giảm bớt, hỏi cha mẹ rằng:
“‘– Ai lấy bớt cơm
canh?’
“Cha mẹ đáp:
“‘Này con, hôm nay
Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đến đây khất thực. Ngài
lấy cơm và canh trong rá, trong chảo rồi đi’.
“Thợ gốm Nan-đề-bà-la nghe xong liền nghĩ rằng: ‘Ta có lợi ích lớn lao, có
công đức lớn lao. Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đối
với nhà ta, Ngài tùy ý tự tại’. Nhờ đó vị ấy hoan hỷ, ngồi kiết già lắng
tâm tịnh mặc suốt bảy ngày, mười lăm ngày sau vẫn còn hoan lạc. Cha mẹ
trong gia đình ấy suốt bảy ngày cũng được hoan hỷ.
“Lại nữa, này Đại
vương, Ta nhớ xưa có lần du hành tại thôn ấp Bệ-bà-lăng-kỳ, bấy giờ vào
lúc sáng sớm, ta mang y, cầm bát vào thôn Bệ-bà-lăng-kỳ khất thực. Khất
thực theo thứ tự, ta đến nhà thợ gốm Nan-đề-bà-la. Bấy giờ Nan-đề-bà-la vì
bận chút việc nên đi vắng. Này Đại vương, ta hỏi cha mẹ Nan-đề-bà-la rằng:
“‘– Này Trưởng lão,
thợ gốm bấy giờ ở đâu?’
Hai người ấy đáp:
“‘– Bạch Đức Thế
Tôn, đứa hầu ấy vì bận chút việc nên tạm thời đi khỏi, không ở nhà. Bạch
Đức Thiện Thệ, đứa hầu ấy, vì bận chút việc, đi khỏi một lát, không có ở
đây. Bạch Đức Thế Tôn, trong chảo lớn có cơm nếp, trong chảo nhỏ có canh;
mong Đức Thế Tôn thương xót chúng con, lấy dùng theo ý của Ngài’.
“Này Đại vương, Ta
liền thọ nhận pháp Uất-đơn-viết, lấy cơm canh trong chảo lớn và chảo nhỏ
rồi đi. Sau khi trở về nhà, thợ gốm Nan-đề-bà-la thấy cơm trong chảo lớn
còn ít, canh trong chảo nhỏ giảm bớt, hỏi cha mẹ rằng:
“‘– Ai lấy cơm trong
chảo lớn, lấy canh trong chảo nhỏ?’
“Cha mẹ đáp:
“‘– Này con, hôm nay
Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đến đây khất thực. Ngài
lấy cơm trong chảo lớn và chảo nhỏ rồi đi.’
“Nghe xong, thợ gốm Nan-đề-bà-la nghĩ rằng: ‘Ta có lợi ích lớn lao, có
công đức lớn lao. Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đối
với nhà ta, đã tùy ý tự tại’. Nhờ đó, vị ấy hoan hỷ, ngồi kiết già lắng
tâm tịnh mặc suốt bảy ngày, mười lăm ngày sau vẫn còn hoan lạc; cha mẹ
trong gia đình ấy suốt bảy ngày cũng được hoan lạc.
“Lại nữa, này Đại
vương, Ta nhớ xưa kia có lần an cư mùa mưa tại thôn Bệ-bà-lăng-kỳ. Bấy giờ
Ta mới làm nhà chưa kịp lợp. Nhà làm gốm cũ của thợ gốm Nan-đề-bà-la vừa
mới lợp. Này Đại vương, Ta bảo các Tỳ-kheo đang đứng hầu rằng: ‘Các ông
hãy đến dở nhà cũ làm đồ gốm của thợ gốm Nan-đề-bà-la đem về lợp nhà Ta’.
Tỳ-kheo hầu hạ vâng lời Ta dạy, liền đến nhà của Nan-đề-bà-la và dở nhà cũ
làm đồ gốm, bó lại rồi mang về lợp nhà của Ta. Cha mẹ thợ gốm Nan-đề-bà-la
nghe dở nhà cũ làm đồ gốm liền hỏi:
“‘– Ai dở nhà cũ làm
đồ gốm của Nan-đề-bà-la đó?’
“Các Tỳ-kheo đáp:
“‘– Trưởng lão,
chúng tôi là các Tỳ-kheo hầu Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh
Giác, đến dở nhà cũ làm đồ gốm của Nan-đề-bà-la bó lại, mang về lợp nhà
của Ngài’.
“Cha mẹ của thợ gốm
bảo:
“‘– Chư Hiền, chư
Hiền hãy đem đi theo ý muốn, không có ai ngăn cản đâu’.
“Sau khi trở về, thợ
gốm Nan-đề-bà-la thấy nhà cũ làm đồ gốm bị dở, liền hỏi cha mẹ:
“‘– Ai dở nhà cũ làm
đồ gốm của mình vậy?’
“Cha mẹ đáp:
“‘– Này con, hôm
nay các Tỳ-kheo hầu Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đến
dở nhà cũ làm đồ gốm, bó lại, đem về lợp nhà của Ngài’.
“Nghe xong,
Nan-đề-bà-la nghĩ: ‘Ta có lợi ích lớn, có công đức lớn lao. Đức Ca-diếp
Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đối với trong nhà ta, đã tùy ý tự
tại’.
“Vì việc ấy, vị ấy
hoan hỷ, ngồi kiết già lắng tâm tĩnh mặc suốt bảy ngày; mười lăm ngày sau
vẫn còn hoan lạc. Cha mẹ trong gia đình ấy suốt bảy ngày cũng được hoan
lạc.
“Này Đại vương, nhà
cũ làm đồ gốm của thợ gốm Nan-đề-bà-la suốt bốn tháng mùa mưa hoàn toàn
không bị dột. Vì sao như vậy? Vì nhờ oai thần của Phật. Này Đại vương, thợ
gốm Nan-đề-bà-la không có điều gì không nhẫn được, không có điều gì không
thích thú, nên tâm không ưu sầu, đã nghĩ rằng: ‘Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác đối với gia đình ta đã được tùy ý tự tại’.
“Này Đại vương, Đại
vương có điều không nhẫn được, có điều không thích thú, nên tâm quá ưu
sầu, đã nghĩ rằng: ‘Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác và
chúng Tỳ-kheo không nhận lời mời của ta mà an cư mùa mưa tại Ba-la-nại
này’.
“Bấy giờ Đức Ca-diếp
Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thuyết pháp cho vua Giáp-bệ, khuyến
khích phát lòng ngưỡng mộ, thành tựu tâm hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng
phương tiện thuyết pháp cho vua, khuyến khích phát khởi lòng ngưỡng mộ,
thành tựu tâm hoan hỷ xong, Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
“Khi Đức Ca-diếp Như
Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác ra đi chưa bao lâu, vua Giáp-bệ hạ lệnh
cho người hầu cận: ‘Các ngươi dùng năm trăm cỗ xe chất đầy gạo, nếp và đủ
các món thực phẩm của vua, chở đến nhà thợ gốm Nan-đề-bà-la và nói với
Nan-đề-bà-la rằng: ‘Này Nan-đề-bà-la, năm trăm cỗ xe này chất đầy gạo
trắng, và đủ các món thực phẩm mà vua thường dùng, do vua Giáp-bệ bảo chở
đến tặng cho ông. Mong ông thương xót; hôm nay xin ông nhận cho’. Lúc đó,
người hầu cận vâng lời vua, dùng năm trăm cỗ xe chất đầy gạo trắng, và đủ
các món thực phẩm của vua, chở đến nhà thợ gốm Nan-đề-bà-la. Đến nơi, vị
ấy nói:
“– Thưa thợ gốm
Nan-đề-bà-la, năm trăm cỗ xe này chất đầy gạo trắng, và đủ các món thực
phẩm của nhà vua dùng, do vua Giáp-bệ bảo chở đến biếu tặng ông. Mong ông
thương xót; hôm nay, xin ông nhận cho.
“Bấy giờ thợ gốm
Nan-đề-bà-la từ chối, không nhận và nói với các người hầu vua rằng:
“– Chư Hiền, vua
Giáp-bệ phải lo đại sự cho nước nhà nên chi phí nhiều. Tôi biết như vậy,
nên không thọ nhận.”
Đến đây, Đức Phật
bảo A-nan:
“Này A-nan, ý ông
nghĩ thế nào? Đồng tử Ưu-đa-la lúc bấy giờ, ông cho là người nào chăng?
Chớ nghĩ vậy. Nên biết rằng chính là Ta vậy. Này A-nan, Ta lúc bấy giờ đã
làm lợi ích cho chính mình, cũng làm lợi ích cho người khác, làm lợi ích
cho mọi người, thương xót thế gian. Vì loài trời và loài người mà Ta đã
cầu nghĩa, cầu sự lợi ích, an ổn khoái lạc. Lúc bấy giờ ta thuyết pháp
không được rốt ráo, không rốt ráo bạch tịnh, không rốt ráo phạm hạnh.
Không rốt ráo phạm hạnh, nên bấy giờ ta không xa lìa được sanh, già, bệnh,
chết, ưu sầu, khóc lóc, cũng không thoát được mọi khổ đau. Này A-nan, nay
Ta xuất hiện ở đời, là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh
Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân
Sư, hiệu là Phật, Chúng Hựu. Hôm nay ta đã làm lợi ích cho chính mình,
cũng làm lợi ích cho người khác, lợi ích cho nhiều người, thương xót thế
gian. Vì trời và người mà Ta tìm cầu nghĩa, tìm cầu sự an ổn khoái lạc.
Nay Ta thuyết pháp được rốt ráo, rốt ráo bạch tịnh, rốt ráo phạm hạnh. Do
rốt ráo phạm hạnh, Ta đã lìa khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu sầu, khóc lóc.
Nay ta đã thoát được mọi khổ đau.”
Phật thuyết như vậy.
Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng
hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 6 |
58
|
59
|
60
61
|
62
|
63
|
64
|
65
|
66
|
67
|
68
|
69
|
70
|
71
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003