SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ
6
PHẨM VƯƠNG TƯƠNG ƯNG
62. KINH TẦN-BỆ-SA-LA VƯƠNG NGHINH PHẬT[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Phật du hóa
tại nước Ma-kiệt-đà, cùng với chúng Đại Tỳ-kheo gồm một nghìn vị, đều là
những Bậc Vô Trước, Chí Chơn,
trước vốn là những đạo sĩ bện tóc.
Ngài đi đến ấp Ma-kiệt-đà ở thành Vương xá.
Bấy giờ vua xứ
Ma-kiệt-đà là Tần-bệ-sa-la
nghe Đức Thế Tôn du hóa tại nước Ma-kiệt-đà cùng với chúng đại Tỳ-kheo,
gồm một nghìn vị, đều là những Bậc Vô Trước, Chí Chơn, trước vốn là những
đạo sĩ bện tóc, đến ấp Ma-kiệt-đà ở thành Vương xá này. Sau khi nghe vậy,
vua Tần-bệ-sa-la nước Ma-kiệt-đà liền cho sắp đặt bốn loại quân, là quân
voi, quân ngựa, quân xe, và bộ quân. Sau khi sắp đặt bốn loại quân xong,
nhà vua với đông đủ vô số thuộc hạ, kéo dài trên một do-diên, cùng đi đến
chỗ Phật.
Bấy giờ từ xa, Đức
Phật thấy vua Tần-bệ-sa-la nước Ma-kiệt-đà đi đến, bèn theo đường tắt đến
dưới gốc cây chúa Thiện trụ Ni-câu-loại,
trải Ni-sư-đàn ngồi kiết già cùng với chúng Tỳ-kheo.
Từ xa, vua
Tần-bệ-sa-la nước Ma-kiệt-đà thấy Thế Tôn ở giữa cây rừng, trang nghiêm
đẹp đẽ như vầng trăng ở giữa vòm sao, chói lọi, sáng ngời như núi vàng,
tướng tốt vẹn toàn, oai thần lồng lộng, các căn vắng lặng, không bị ngăn
che, thành tựu tự chế ngự, tâm tư yên tĩnh. Sau khi thấy Phật, vua cùng
tùy tùng xuống xe.
Nếu các vua Sát-lợi
được rưới nước lên đỉnh đầu để làm bậc Nhân chủ, chỉnh trị cõi đất, có năm
loại nghi trượng, một là kiếm, hai là lọng, ba là mũ thiên quan, bốn là
phất trần cán ngọc, năm là giầy thêu. Nhưng đến đây nhà vua cởi bỏ tất cả,
cùng với bốn loại quân. Vua đi bộ đến trước Phật, đảnh lễ rồi tự xưng danh
tánh ba lần rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn,
tôi là Tẩy-ni Tần-bệ-sa-la,
vua nước Ma-kiệt-đà.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn
bảo:
“Này Đại vương, đúng
vậy, đúng vậy. Đại vương là Tẩy-ni Tần-bệ-sa-la, vua nước Ma-kiệt-đà.”
Sau khi vua Tẩy-ni
Tần-bệ-sa-la nước Ma-kiệt-đà ba lần tự xưng danh tánh rồi, đảnh lễ Phật và
ngồi qua một bên. Có người chào hỏi Phật rồi ngồi qua một bên. Có người
chắp tay hướng về Phật rồi ngồi qua một bên. Có người ở xa thấy Phật rồi
lặng lẽ ngồi xuống.
Bấy giờ Tôn giả
Uất-tỳ-la Ca-diếp
cùng ngồi trong chúng. Tôn giả là vị mà những người nước Ma-kiệt-đà đều
chú ý đến và cho rằng, đó là bậc Đại tôn sư, bậc Chân nhân vô trước. Bấy
giờ những người xứ Ma-kiệt-đà đều nghĩ rằng: “Sa-môn Cù-đàm theo Uất-tỳ-la
Ca-diếp học phạm hạnh chăng? Hay là Uất-tỳ-la Ca-diếp theo Sa-môn Cù-đàm
học phạm hạnh?”
Bấy giờ Đức Thế Tôn
biết ý nghĩ trong tâm người xứ Ma-kiệt-đà, liền hướng về Tôn giả Uất-tỳ-la
Ca-diếp mà nói bài tụng:
Ca-diếp, thấy những
gì,
Bỏ lửa mà đến đây?
Ca-diếp, nói Ta
biết,
Lý do không thờ lửa?
Ăn uống đủ các vị,
Do dục nên thờ lửa;
Trong đời thấy như
vậy,
Cho nên không ưa
thờ.
Ý Ca-diếp không ưa,
Ăn uống đủ các vị,
Sao không ưa Trời,
Người?
Ca-diếp, nói Ta rõ.
Thấy tịch tĩnh, diệt
tận,
Vô vi, không dục
hữu;
Không thấy Trời cao
quý,
Cho nên không thờ
lửa.
Thế Tôn là tối
thắng;
Thế Tôn không tà tư;
Thấy các pháp rõ
ràng,
Con nhận pháp tối
thắng.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
bảo:
“Này Ca-diếp, ông
hãy hiển hiện như ý túc cho chúng hội này được vui lòng và tin tưởng.”
Lúc đó Tôn giả
Uất-tỳ-la Ca-diếp, bằng như ý túc như thế, biến mất khỏi chỗ đang ngồi, từ
phương Đông xuất hiện, bay lên hư không, hiện bốn oai nghi: đi, đứng, nằm,
ngồi. Tôn giả lại nhập hỏa định. Sau khi Tôn giả Uất-tỳ-la Ca-diếp nhập
hỏa định, trong thân liền phát ra vô số tia lửa đủ màu: xanh, vàng, đỏ,
trắng, màu hòa hợp, màu thủy tinh. Phần thân dưới phóng ra lửa thì phần
thân trên phóng ra nước; phần thân trên phóng ra lửa thì phần thân dưới
phun ra nước. Cũng vậy, từ các phương Nam, Tây, Bắc bay lên hư không, hiện
ra bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi. Tôn giả lại nhập hỏa định. Sau khi
Tôn giả Uất-tỳ-la Ca-diếp nhập hỏa định, trong thân liền phát ra vô số tia
lửa đủ màu: xanh, vàng, đỏ, trắng, màu hòa hợp, màu thủy tinh. Phần thân
dưới phóng ra lửa thì phần thân trên phóng ra nước; phần thân trên phóng
ra lửa thì phần thân dưới phun ra nước. Sau khi hiển hiện như ý túc, Tôn
giả Uất-tỳ-la Ca-diếp đảnh lễ dưới chân Phật và bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, Phật
là Thầy của con; con là đệ tử của Phật. Phật có đủ nhất thiết trí; con
không có nhất thiết trí.”
Đức Thế Tôn bảo:
“Đúng vậy, Ca-diếp,
đúng vậy, Ca-diếp. Ta có nhất thiết trí, ông không có nhất thiết trí.”
Bấy giờ Tôn giả Uất-tỳ-la Ca-diếp vì chính mình mà nói bài tụng:
Ngày xưa, lúc chưa
rõ,
Thờ lửa, cầu giải
thoát,
Tuy già vẫn đui mù,
Tà, không thấy chân
tế.
Nay con thấy Thượng
Tích,
Rồng Vô Thượng đã
dạy:
Vô vi, thoát hết
khổ,
Thấy rồi, sanh tử
dứt.
Những người xứ
Ma-kiệt-đà, sau khi thấy như vậy, liền nghĩ: “Không phải Sa-môn Cù-đàm
theo Uất-tỳ-la Ca-diếp học phạm hạnh mà chính Uất-tỳ-la Ca-diếp theo
Sa-môn Cù-đàm để học phạm hạnh.” Đức Thế Tôn biết ý nghĩ trong tâm của
người xứ Ma-kiệt-đà, liền thuyết pháp cho Tẩy-ni Tần-bệ-sa-la, vua nước
Ma-kiệt-đà nghe, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ. Sau khi ngài
đã dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp cho vua nghe, khuyến phát khát
ngưỡng, thành tựu hoan hỷ. Ngài theo đúng pháp của chư Phật, trước tiên
thuyết pháp đoan chánh, khiến người nghe vui mừng, ấy là thuyết về bố thí,
thuyết về trì giới, thuyết về pháp sanh thiên, chỉ trích dục là tai họa,
sanh tử là ô uế, khen ngợi vô dục là diệu đạo phẩm, bạch tịnh.
Đức Thế Tôn đã nói
cho vị đại vương ấy nghe những pháp như vậy. Ngài biết nhà vua có tâm hoan
hỷ, tâm cụ túc, tâm nhu nhuyến, tâm kham nhẫn, tâm tăng thượng, tâm chuyên
nhất, tâm vô nghi, tâm vô tận, có khả năng, có sức lực thọ nhận Chánh
pháp. Tức là, như các pháp yếu mà chư Phật đã giảng thuyết, Đức Thế Tôn
nói cho nhà vua nghe về Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Ngài dạy:
“Này Đại vương, sắc
là pháp sanh diệt. Đại vương nên biết, sắc là pháp sanh diệt. Này Đại
vương, giác, tưởng, hành, thức là pháp sanh diệt. Đại vương nên biết, thức
là pháp sanh diệt.
“Này Đại vương,
giống như mưa lớn thì bọt trên mặt nước hoặc sanh hoặc diệt. Này Đại
vương, sắc sanh diệt cũng như vậy. Đại vương nên biết sắc là pháp sanh
diệt. Này Đại vương, giác, tưởng, hành, thức là pháp sanh diệt. Đại vương
nên biết, thức là pháp sanh diệt.
“Này Đại vương, nếu
một thiện nam tử biết sắc sanh diệt thì biết rằng sắc không sanh lại ở
tương lai. Này Đại vương, nếu một thiện nam tử nào biết giác, tưởng, hành,
thức sanh diệt thì liền biết rằng thức không sanh lại ở tương lai. Này Đại
vương, nếu một thiện nam tử biết sắc đúng như thật thì không trước sắc,
không kế sắc, không nhiễm sắc, không trụ nơi sắc, không hoan lạc rằng ‘sắc
là ta’. Này Đại vương, nếu một thiện nam tử biết giác, tưởng, hành, thức
đúng như thật thì không trước thức, không kế thức, không nhiễm thức, không
trụ nơi thức, không hoan lạc rằng ‘thức là ta’. Này Đại vương, nếu một
thiện nam tử không trước sắc, không kế sắc, không nhiễm sắc, không an trụ
nơi sắc, không hoan lạc cho rằng ‘sắc là ta’, thì người ấy không thọ nhận
sắc tương lai. Này Đại vương, nếu một thiện nam tử nào không trước giác,
tưởng, hành, thức, không kế thức, không nhiễm thức, không trụ thức, không
hoan lạc rằng ‘thức là ta’, thì người ấy không thọ nhận thức tương lai.
Này Đại vương, thiện nam tử ấy vô lượng, không thể kể xiết, vô hạn, chứng
đắc tịch tịnh, nếu xả bỏ thân ngũ ấm này thì không còn thọ ấm thân khác
nữa.”
Bấy giờ, những người
xứ Ma-kiệt-đà nghĩ rằng: “Nếu như sắc là vô thường; giác, tưởng, hành,
thức là vô thường, thì ai làm, ai thọ nhận khổ, lạc?”
Đức Thế Tôn biết ý
nghĩ của những người xứ Ma-kiệt-đà, liền bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Hàng phàm phu ngu
si không học, thấy ngã là ngã mà đắm trước nơi ngã, nhưng thực ra không có
ngã, không có ngã sở. Ngã vốn không, ngã sở vốn không; pháp sanh thì sanh,
pháp diệt thì diệt; thảy đều do nhân duyên hội tụ mà sanh khổ. Nếu không
có nhân duyên thì các khổ liền diệt. Chúng sanh do duyên tụ hội liên tục
mà sanh các pháp. Như Lai sau khi thấy chúng sanh liên tục sanh ra nên nói
‘có sanh có tử’. Ta dùng thiên nhãn thanh tịnh hơn hẳn người thường, thấy
đúng như thật về chúng sanh này, lúc tử lúc sanh, hoặc đẹp hoặc xấu, hoặc
diệu hoặc bất diệu, qua lại thiện xứ, hoặc bất thiện xứ, đều tùy theo
nghiệp mà chúng sanh ấy đã tạo, và thấy đúng như thật.
“Nếu chúng sanh nào
thành tựu ác hạnh nơi thân, ác hạnh nơi khẩu, ý, phỉ báng Thánh nhân, tà
kiến và thành tựu nghiệp tà kiến, thì do nhân duyên kia, khi thân này hoại
diệt, mạng chung, chúng sanh ấy chắc chắn đi đến chỗ ác, sanh vào địa
ngục. Nếu chúng sanh nào thành tựu thiện hạnh nơi thân, thiện hạnh nơi
khẩu, ý, không phỉ báng Thánh nhân, có chánh kiến, thành tựu nghiệp chánh
kiến; thì do nhân duyên đó, khi thân này hoại diệt, mạng chung, chúng sanh
ấy chắc chắn đi lên chỗ thiện, cho đến cõi trời. Ta biết chúng sanh kia
như vậy nhưng không nói rằng: Đó là ngã, có thể cảm giác, có thể nói năng,
làm và sai làm, đứng dậy và khiến đứng dậy, ở nơi này hay nơi kia thọ nhận
nghiệp báo thiện ác. Ở đây, hoặc có suy nghĩ như vầy: Điều đó không hợp
lý, điều đó không đứng vững, việc làm ấy đúng như pháp; nhân cái này mà
cái kia sanh, nếu không nhân cái này thì cái kia không sanh; cái này có
thì cái kia có, cái này diệt thì cái kia diệt. Tức là duyên vô minh có
hành cho đến duyên sanh mà có già, chết. Nếu vô minh diệt thì hành diệt,
cho đến sanh diệt thì già, chết diệt.
“Này Đại vương, Đại vương nghĩ sao, sắc là vô thường hay thường?”
Nhà vua đáp:
“Bạch Thế Tôn, là vô
thường.”
Lại hỏi:
“Nếu vô thường thì
khổ hay không khổ?
“Bạch Thế Tôn, là
khổ, là biến dịch.”
“Nếu pháp là vô
thường, khổ, biến dịch, thì Đa văn Thánh đệ tử có nên cho rằng: ‘Cái này
là ta, cái này là sở hữu của ta; ta là sở hữu của cái kia’?”
“Bạch Thế Tôn, không
nên.”
Lại hỏi:
“Nếu vô thường thì
khổ hay không khổ?
“Bạch Thế Tôn, là
khổ, là biến dịch.”
“Nếu pháp là vô
thường, khổ, biến dịch, thì Đa văn Thánh đệ tử có nên cho rằng: ‘Cái này
là ta, cái này là sở hữu của ta; ta là sở hữu của cái kia’?”
“Bạch Thế Tôn, không
nên.”
“Này Đại vương, Đại
vương nên học như vầy: Những gì có sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc
hiện tại, hoặc trong, hoặc ngoài, hoặc thô hoặc tế, hoặc đẹp hoặc xấu,
hoặc gần, hoặc xa; tất cả đều chẳng phải là ta, chẳng phải là sở hữu của
ta; ta chẳng phải là sở hữu của kia. Nên dùng trí tuệ quán biết như thật.
“Này Đại vương,
những gì có giác, tưởng, hành, thức nào, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc
hiện tại, hoặc trong, hoặc ngoài, hoặc thô hoặc tế, hoặc đẹp hoặc xấu,
hoặc gần, hoặc xa; tất cả đều chẳng phải là ta, chẳng phải là sở hữu của
ta; ta chẳng phải là sở hữu của kia. Nên dùng trí tuệ quán biết như thật.
Ngã của ta, chẳng phải là của ta. Nên dùng trí tuệ quán biết đúng như
thật.
“Này Đại vương, nếu
Đa văn Thánh đệ tử quán đúng như vậy, thì liền nhàm chán sắc, nhàm chán
giác, tưởng, hành, thức. Nhàm chán rồi liền vô dục, vô dục rồi, liền được
giải thoát, đã giải thoát liền có tri kiến giải thoát, biết như thật rằng:
Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái
sanh nữa".
Lúc Đức Phật nói
pháp này xong, Tẩy-ni Tần-bệ-sa-la, vua nước Ma-kiệt-đà xa lìa trần cấu,
pháp nhãn về các pháp sanh khởi và tám vạn chư thiên, một vạn hai ngàn
người xứ Ma-kiệt-đà xa lìa trần cấu, pháp nhãn về các pháp sanh khởi. Bấy
giờ Tẩy-ni Tần-bệ-sa-la, vua nước Ma-kiệt-đà thấy pháp, đắc pháp, giác ngộ
pháp bạch tịnh, đoạn nghi, vượt khỏi mê hoặc, không còn tôn thờ ai, không
theo ai nữa, không còn do dự, đã an trụ nơi quả chứng, đối với pháp của
Thế Tôn mà chứng đắc vô sở úy; liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới
chân Phật và bạch:
“Bạch Thế Tôn, hôm
nay con xin tự quy y Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo. Cúi mong Thế Tôn nhận
con làm Ưu-bà-tắc, bắt đầu từ hôm nay, trọn đời con xin tự quy y cho đến
lúc mạng chung.”
Đức Phật thuyết như
vậy. Tẩy-ni Tần-bệ-sa-la, vua nước Ma-kiệt-đà và tám vạn chư Thiên, và một
vạn hai ngàn người xứ Ma-kiệt-đà cùng một ngàn Tỳ-kheo, sau khi nghe Phật
dạy xong, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 6 |
58
|
59
|
60
61
|
62
|
63
|
64
|
65
|
66
|
67
|
68
|
69
|
70
|
71
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003