SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ
6
PHẨM VƯƠNG TƯƠNG ƯNG
61. KINH NGƯU
PHẤN DỤ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du
hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ có một vị
Tỳ-kheo ở chỗ nhàn tĩnh, ngồi tư duy, suy nghĩ như vầy: “Có sắc nào thường
trú, bất biến, hoàn toàn chỉ có lạc, tồn tại vĩnh viễn chăng? Có thọ,
tưởng, hành, thức nào thường trú, bất biến, chỉ có lạc, tồn tại vĩnh viễn
chăng?”
Vào lúc xế chiều, vị
Tỳ-kheo ấy từ chỗ ngồi yên tĩnh đứng dậy, đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ
rồi ngồi qua một bên và bạch:
“Bạch Đức Thế Tôn,
hôm nay ở chỗ nhàn tĩnh, con ngồi tư duy, suy nghĩ như vầy: ‘Có sắc nào
thường trú, bất biến, hoàn toàn chỉ có lạc, tồn tại vĩnh viễn chăng? Có
thọ, tưởng, hành, thức nào thường trú, bất biến, chỉ có lạc, tồn tại vĩnh
viễn chăng?’”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Không có một sắc
nào thường trú, bất biến, hoàn toàn chỉ có lạc, tồn tại vĩnh viễn; không
có thọ, tưởng, hành, thức nào thường trú, bất biến, hoàn toàn chỉ có lạc,
tồn tại vĩnh viễn.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn
dùng móng tay khơi ít phân bò, bảo Tỳ-kheo:
“Này Tỳ-kheo, nay
ngươi có thấy Ta dùng móng tay khơi chút ít phân bò chăng?”
Tỳ-kheo đáp:
“Bạch Thế Tôn, con
có thấy.”
Phật bảo:
“Này Tỳ-kheo, cũng
vậy, không có một tí sắc nào thường trụ, bất biến, chỉ toàn có lạc, tồn
tại vĩnh viễn; cũng như vậy, không có một tí giác, tưởng, hành, thức nào
thường trụ, bất biến, chỉ toàn có lạc, tồn tại vĩnh viễn. Vì sao? Này
Tỳ-kheo, nhớ lại xưa kia, trong một thời gian dài, Ta thường làm phúc. Sau
một thời gian dài làm phúc ấy, Ta thọ quả báo an lạc. Vào thuở xưa đó, Ta
tu hành về từ tâm trong bảy năm; trải qua bảy kiếp thành hoại
vẫn không trở lại thế gian này. Vào thời kiếp hoại, Ta sanh vào cõi trời
Hoảng dục.
Vào thời kiếp thành, Ta sanh vào trong cung điện trống không của Phạm
thiên,
ở trong cõi Phạm kia, làm Đại Phạm thiên; và qua một ngàn lần tái sanh vào
những nơi khác, Ta làm Thiên vương trời Tự tại; ba mươi sáu lần tái sinh
làm Thiên Đế-thích, rồi lại vô lượng lần tái sinh làm Sát-lợi Đảnh Sanh
vương.
“Này Tỳ-kheo, lúc
làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh, Ta có tám vạn bốn ngàn thớt voi lớn được phủ
những đồ cưỡi rất đẹp; dùng các báu bạch châu lạc
trang sức, phủ lên voi chúa đầu đàn Vu-sa-hạ.
“Này Tỳ-kheo, lúc Ta
làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh, có tám vạn bốn ngàn con ngựa được phủ lên các
thứ đồ cưỡi đẹp. Dùng các báu vàng, bạc, dao lạc để trang sức cho ngựa đầu
đàn là ngựa Mao.
“Này Tỳ-kheo, lúc Ta làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh, có tám vạn bốn ngàn cỗ xe,
trang sức bằng bốn cánh, dùng da vằn quý báu đủ màu của các thú như sư tử,
cọp, beo, dệt thành đủ loại màu sắc xen lẫn trang sức cho cỗ xe dẫn đầu
chạy rất nhanh chóng tên là xe Nhạc thanh.
“Này Tỳ-kheo, lúc Ta
làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh, có tám vạn bốn ngàn thành lớn, giàu có cùng
cực, dân chúng đông đúc, lấy vương thành Câu-xá-hòa-đề
làm đầu.
“Này Tỳ-kheo, lúc
làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh, Ta có tám vạn bốn ngàn ngôi lầu; có bốn loại
lầu báu, làm bằng vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh; đứng đầu là Chánh pháp
điện.
“Này Tỳ-kheo, lúc
làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh, Ta có tám vạn bốn ngàn ngự tòa; bốn loại tòa
báu, bằng vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh; trải lên bằng các thứ nệm, chiếu
dệt bằng lông năm sắc, phủ lên bằng những gấm, the, sa trun, lụa là; có
chăn nệm lót, hai đầu để gối, trải thảm quý bằng da sơn dương.
“Này Tỳ-kheo, lúc
làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh, Ta có tám vạn bốn ngàn chiếc áo song y, áo
sơ-ma,
áo gấm, áo lụa, áo kiếp bối, áo gia-lăng-già-ba-hòa-la.
“Này Tỳ-kheo, lúc
làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh, Ta có tám vạn bốn ngàn người nữ, thân thể nõn
nà, sạch sẽ, sáng sủa, sắc đẹp hơn người, không thua chư Thiên, tư dung
đoan chánh, ai nhìn cũng sinh ưa thích, trang điểm bằng các thứ vật báu,
anh lạc; tất cả đều thuộc dòng Sát-lợi. Ngoài ra, những người thuộc dòng
khác thì nhiều vô số.
“Này Tỳ-kheo, lúc
làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh, Ta có tám vạn bốn ngàn món ăn, ngày đêm
thường dọn ra cho Ta ăn.
“Này Tỳ-kheo, trong
tám vạn bốn ngàn món ăn kia, có một món hết sức ngon, sạch sẽ, có vô lượng
mùi vị, là món Ta thường ăn.
“Này Tỳ-kheo, trong
tám vạn bốn ngàn người nữ kia có một người thuộc dòng Sát-lợi, đoan chánh
đẹp đẽ khác thường, hầu hạ Ta.
“Này Tỳ-kheo, trong
tám vạn bốn ngàn song y kia có một chiếc áo song y, hoặc là áo sơ-ma, hoặc
áo gấm, hoặc áo lụa, hoặc áo kiếp-bối,
hoặc áo gia-lăng-già-ba-hòa-la là Ta thường mặc.
“Này Tỳ-kheo, trong
tám vạn bốn ngàn ngự tòa kia, có một ngự tòa làm bằng vàng, hoặc bạc, hoặc
lưu ly, hoặc thủy tinh; đồ trải lên thì dùng những tấm nệm, những chiếc
chiếu dệt bằng lông năm sắc; đồ phủ lên thì dùng gấm, the, sa trun, lụa
là, có chăn nệm lót, hai đầu để gối, có trải thảm quý bằng da sơn dương,
là Ta thường nằm.
“Này Tỳ-kheo, trong
tám vạn bốn ngàn lầu quán kia, có một lầu quán làm bằng vàng, hoặc bạc,
hoặc lưu ly, hoặc thủy tinh, tên là Chánh pháp điện, là nơi Ta thường ở.
“Này Tỳ-kheo, trong
tám vạn bốn ngàn thành lớn kia, có một thành giàu có cùng cực, dân chúng
đông đúc, gọi là thành Câu-xá-hòa-đề là chỗ ta thường ở.
“Này Tỳ-kheo, trong
tám vạn bốn ngàn cỗ xe kia, có một cỗ được dùng da đủ màu của các thú như
sư tử, cọp, beo dệt thành, màu sắc xen kẽ để trang hoàng, chạy rất nhanh
chóng, tên là xe Nhạc thanh, Ta thường ngồi lên, đi đến các lầu quán để
ngắm nhìn các vườn tược.
“Này Tỳ-kheo, trong
tám vạn bốn ngàn con ngựa kia có một con màu xanh biếc, đầu như chim, gọi
là ngựa Mao, là Ta thường cưỡi, đi đến các lầu quán để ngắm các vườn tược.
“Này Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngàn thớt voi lớn kia, có một thớt toàn
thân trắng toát, bảy chi thảy đều ngay thẳng, gọi là voi chúa Vu-sa-hạ, là
Ta thường cưỡi đi đến các lầu quán để ngắm các vườn tược.
“Này Tỳ-kheo, bấy
giờ Ta nghĩ rằng: ‘Đó là nghiệp quả gì, là nghiệp báo gì, mà ngày nay Ta
có đại như ý túc, đại oai đức, đại phước hựu, đại oai thần?’
“Này Tỳ-kheo, Ta lại
nghĩ: ‘Đó là ba nghiệp quả, là ba nghiệp báo, khiến Ta ngày nay có đại như
ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần: một là bố thí,
hai là điều phục, ba là thủ hộ’.
“Này Tỳ-kheo, ngươi
hãy quán sát rằng, tất cả những gì sở hữu
đều phải tiêu diệt, cả đến như ý túc cũng phải mất. Này Tỳ-kheo, ngươi
nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?”
Đáp:
“Bạch Thế Tôn, vô
thường.”
Lại hỏi:
“Vô thường là khổ
hay không phải khổ?”
Đáp:
“Bạch Thế Tôn, là
khổ và biến dịch.”
Lại hỏi:
“Nếu là pháp vô
thường, khổ, biến dịch, thì Đa văn Thánh đệ tử có nên cho rằng: ‘Cái này
là ta, cái này là sở hữu của ta; ta là sở hữu của cái kia’ chăng?”
Đáp:
“Bạch Thế Tôn,
không.”
Lại hỏi:
Đáp:
“Bạch Thế Tôn, vô
thường.”
Lại hỏi:
“Vô thường là khổ
hay không phải khổ?”
Đáp:
“Bạch Thế Tôn, là
khổ và biến dịch.”
Lại hỏi:
“Nếu là pháp vô
thường, khổ, biến dịch, thì Đa văn Thánh đệ tử có nên cho rằng: ‘Cái này
là ta, cái này là sở hữu của ta; ta là sở hữu của cái kia’ chăng?”
Đáp:
“Bạch Thế Tôn,
không.”
“Vậy thì, này
Tỳ-kheo, ngươi nên học như vầy: ‘Những gì có sắc,
hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện
tại, hoặc trong, hoặc ngoài, hoặc thô hoặc tế, hoặc đẹp, hoặc xấu, hoặc
gần hoặc xa; tất cả những cái ấy chẳng phải là ta, chẳng phải là sở hữu
của ta, ta phải là sở hữu của cái kia’. Hãy dùng trí tuệ quán sát, biết
đúng như thật. ‘Những gì có giác, tưởng, hành, thức, hoặc quá khứ, hoặc vị
lai, hoặc hiện tại, hoặc trong, hoặc ngoài, hoặc thô, hoặc tế, hoặc đẹp,
hoặc xấu, hoặc xa, hoặc gần; tất cả những cái ấy chẳng phải là ta, chẳng
phải là sở hữu của ta, ta phải là sở hữu của cái kia’. Hãy dùng trí tuệ
quán sát, biết đúng như thật.
“Này Tỳ-kheo, nếu Đa
văn Thánh đệ tử quán như thế thì liền nhàm chán sắc, nhàm chán giác,
tưởng, hành, thức. Do nhàm chán mà vô dục; do vô dục nên giải thoát; sau
khi giải thoát thì biết là giải thoát, biết đúng như thật rằng: Sự sanh đã
dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.”
Sau khi, nghe Phật
dạy như vậy xong, Tỳ-kheo ấy khéo ghi nhận, khéo ghi nhớ, liền từ chỗ ngồi
đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh ba vòng rồi lui.
Tỳ-kheo ấy sau khi
thọ nhận lời giáo hóa của Đức Phật, liền sống một mình, viễn ly, tâm không
buông lung, tu hành tinh tấn. Vị ấy đã sống một mình, viễn ly, tâm không
buông lung, tu hành tinh tấn, đạt đến mục đích mà vì đó thiện nam tử đã
cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất
gia học đạo; đó là chỉ cầu vô thượng phạm hạnh, ngay trong đời hiện tại,
tự biết, tự ngộ, tự thân chứng, thành tựu an trú, biết đúng như thật rằng:
“Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn
tái sanh nữa.” Như vậy, Tỳ-kheo ấy, sau khi đã biết pháp, cho đến chứng
đắc A-la-hán.
Phật thuyết giảng
như vậy. Tỳ-kheo ấy sau khi nghe Phật thuyết giảng, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ 6 |
58
|
59
|
60
61
|
62
|
63
|
64
|
65
|
66
|
67
|
68
|
69
|
70
|
71
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003