SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ 5
PHẨM TẬP TƯƠNG ƯNG
56. KINH DI-HÊ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời, Phật du
hóa tại nước Ma-kiệt-đà, trong một cái hang trong rừng Mãng nại,
thôn Xà-đấu.
Bấy giờ Tôn giả
Di-hê
làm thị giả Phật.
Vào buổi sáng sớm,
Tôn giả Di-hê mang y cầm bát vào thôn Xà-đấu khất thực. Khất thực xong,
Tôn giả Di-hê đến bờ sông Kim-bệ,
thấy một khu đất bằng phẳng gọi là rừng xoài khả ái.
Nước sông Kim-bệ rất tuyệt, thật là đáng ưa. Dòng nước trong
chảy chầm chậm; nóng lạnh ôn hòa, dễ chịu. Thấy xong, Tôn giả hoan hỷ,
thầm nghĩ: “Khu đất này bằng phẳng gọi là rừng xoài khả ái. Nước sông
Kim-bệ rất tuyệt, thật là đáng ưa. Dòng nước trong chảy chầm chậm; nóng
lạnh ôn hòa, dễ chịu. Nếu tộc tánh tử
nào muốn tu pháp đoạn trừ
thì nên ở chỗ này. Ta cũng có điều phải đoạn trừ,
có nên ở chỗ yên tĩnh này để tu pháp đoạn trừ chăng?”
Liền đó, sau khi ăn
xong, Di-hê thu xếp y bát, rửa tay chân, vắt Ni-sư-đàn
lên vai, đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi sang một
bên mà bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, sáng
sớm hôm nay con mang y cầm bát vào thôn Xà-đấu khất thực. Khất thực xong,
con đến bờ sông Kim-bệ, thấy một khu đất bằng phẳng gọi là rừng xoài khả
ái. Nước sông Kim-bệ rất tuyệt, thật là đáng ưa. Dòng nước trong chảy chầm
chậm; nóng lạnh ôn hòa, dễ chịu. Thấy xong, con hoan hỷ, thầm nghĩ: ‘Khu
đất này bằng phẳng gọi là rừng xoài khả ái. Nước sông Kim-bệ rất tuyệt,
thật là đáng ưa. Dòng nước trong chảy chầm chậm; nóng lạnh ôn hòa, dễ
chịu. Nếu tộc tánh tử nào muốn tu pháp đoạn trừ thì nên ở chỗ này. Ta cũng
có điều phải đoạn trừ, có nên ở chỗ yên tĩnh này để tu pháp đoạn trừ
chăng?’ Bạch Thế Tôn, nay con muốn đến chỗ yên tĩnh, khu rừng xoài kia, để
học pháp đoạn trừ”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
bảo:
“Này Di-hê, ngươi
nay có biết chăng? Ta một mình không có ai, không có thị giả. Ngươi có thể
ở lại ít lâu, đợi có Tỳ-kheo khác đến làm thị giả cho Ta rồi ngươi có thể
đến chỗ yên tĩnh khu rừng xoài kia mà học pháp đoạn trừ”.
Tôn giả Di-hê lặp
lại ba lần bạch:
“Bạch Thế Tôn, nay
con muốn đến chỗ yên tĩnh, khu rừng xoài kia, để học pháp đoạn trừ”.
Đức Thế Tôn cũng ba
lần nói rằng:
“Này Di-hê, ngươi
nay có biết chăng? Ta một mình không có ai, không có thị giả. Ngươi có thể
ở lại ít lâu, đợi có Tỳ-kheo khác đến làm thị giả cho Ta rồi ngươi có thể
đến chỗ yên tĩnh khu rừng xoài kia mà học pháp đoạn trừ”.
Di-hê lại bạch rằng:
“Thế Tôn không có
việc cần làm, không có phận sự cần hoàn tất, không có điều gì cần phải
quán sát
Con còn có những bổn phận, những điều phải làm, những điều phải quán sát.
Bạch Thế Tôn, con đến chỗ yên tĩnh, khu rừng xoài kia, để học pháp đoạn
trừ”.
Đức Thế Tôn bảo:
“Này Di-hê, ngươi
mong cầu sự đoạn trừ,
Ta có gì để nói thêm nữa? Di-hê, ngươi cứ đi, làm theo những gì mà ngươi
muốn”.
Bấy giờ Di-hê sau
khi nghe lời Đức Phật dạy, khéo lãnh thọ, khéo ghi nhớ và khéo tụng tập.
Tôn giả liền đảnh lễ sát chân Đức Phật, đi quanh ba vòng, rồi đi.
Sau khi đến rừng
xoài, vào rừng, Tôn giả đi đến một gốc cây, trải Ni-sư-đàn mà ngồi kết
già. Tôn giả Di-hê sống trong rừng xoài, sanh khởi lên ba tâm niệm ác bất
thiện là tâm niệm dục, tâm niệm nhuế và tâm niệm hại.
Do đó, Tôn giả liền nghĩ đến Đức Thế Tôn.
Bấy giờ vào lúc xế
chiều, Tôn giả từ chỗ tĩnh tọa đứng dậy, đến trước Đức Thế Tôn, đảnh lễ
chân Ngài, ngồi sang một bên và bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, con
đến rừng xoài kia, ngồi ở chỗ yên tĩnh, liền sanh khởi ba tâm niệm ác bất
thiện là tâm niệm dục, tâm niệm nhuế và tâm niệm hại. Do đó, con liền nghĩ
đến Thế Tôn”.
Đức Thế Tôn bảo:
“Này Di-hê, tâm giải
thoát chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục, có năm pháp để tu tập. Những
gì là năm?
“Di-hê, Tỳ-kheo tự
mình là thiện tri thức, cùng sống chung với thiện tri thức và cùng hòa hợp
với thiện tri thức.
Này Di-hê, với ai tâm giải thoát chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục
thì đó là pháp tu tập thứ nhất.
“Lại nữa, này Di-hê,
Tỳ-kheo phải tu tập cấm giới, thủ hộ tùng giải thoát,
lại phải khéo thâu nhiếp oai nghi lễ tiết, thấy tội lỗi nhỏ nhặt cũng
thường sanh lòng lo sợ, thọ trì học giới. Này Di-hê, với tâm giải thoát
chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục thì đó là pháp tu tập thứ hai.
“Lại nữa, này Di-hê, Tỳ-kheo nên nói điều đáng nói, phù hợp nghĩa của bậc
Thánh, khiến tâm nhu nhuyến, làm cho tâm không bị che lấp, tức là nói về
giới, nói về định, nói về tuệ, nói về giải thoát, nói về giải thoát tri
kiến, nói về sự tổn giảm lần lần, nói về việc không ưa tụ họp, nói về
thiểu dục, nói về tri túc, nói về pháp đoạn trừ, nói về vô dục, nói về
pháp diệt, nói về tĩnh tọa, nói về duyên khởi. Có được những điều được nói
như vậy của Sa-môn, được trọn đủ, dễ được chứ không khó. Này Di-hê, với ai
tâm giải thoát chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục thì đó là pháp tu
tập thứ ba.
“Lại nữa, này Di-hê,
Tỳ-kheo thường tu hành tinh tấn, đoạn trừ pháp ác bất thiện, tu các pháp
thiện, thường tự khởi ý, chuyên nhất kiên cố; vì mục đích tìm cầu gốc rễ
thiện mà không xả bỏ phương tiện.
Này Di-hê, với ai tâm giải thoát chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục
thì đó là pháp tu tập thứ tư.
“Lại nữa, này Di-hê,
Tỳ-kheo tu hành về trí tuệ, quán sát sự hưng thịnh và suy vi của các pháp;
chứng trí như vậy, bằng Thánh tuệ minh đạt,
phân biệt thấu hiểu, mà chân chánh diệt tận khổ đau. Này Di-hê, với ai tâm
giải thoát chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục thì đó là pháp tu tập
thứ năm.
“Vị ấy khi đã có năm
pháp tu tập như vậy rồi, lại phải tu bốn pháp khác nữa. Những gì là bốn?
Tu ố lộ
để đoạn trừ dục. Tu từ để đoạn trừ sân nhuế. Tu sổ tức để đoạn trừ tâm
niệm tán loạn. Tu vô thường để đoạn trừ ngã mạn.
“Này Di-hê, nếu
Tỳ-kheo nào tự mình là thiện tri thức, cùng sống
chung với thiện tri thức và cùng hòa hợp với thiện tri thức, thì nên biết
vị ấy chắc chắn tu tập cấm giới, thủ hộ tùng giải thoát, lại khéo thâu
nhiếp các oai nghi, lễ tiết, thấy tội nhỏ cũng sanh lòng lo sợ, thọ trì
học giới.
“Này Di-hê, nếu
Tỳ-kheo nào tự mình là thiện tri thức, cùng sống chung với thiện tri thức
và cùng hòa hợp với thiện tri thức, thì nên biết, vị ấy nói điều đáng nói,
đúng theo nghĩa của bậc Thánh, khiến tâm nhu nhuyến, làm cho tâm chẳng bị
ngăn che, tức là nói về giới, nói về định, nói về tuệ, nói về giải thoát,
nói về giải thoát tri kiến, nói về sự tổn giảm dần dần, nói về việc không
ưa tụ họp, nói về thiểu dục, nói về tri túc, nói về pháp đoạn, nói về pháp
diệt, nói về vô dục, nói về tĩnh tọa, nói về duyên khởi. Có được những
điều được nói như vậy của Sa-môn, được trọn đủ, dễ được chứ không
khó.
“Này Di-hê, nếu
Tỳ-kheo tự mình là thiện tri thức, cùng sống chung với thiện tri thức và
cùng hòa hợp với thiện tri thức, thì nên biết rằng, vị ấy chắc chắn thường
tu hành tinh tấn, đoạn các pháp ác bất thiện, thường khởi tâm chuyên nhất
kiên cố, vì mục đích tìm cầu gốc rễ thiện mà không xả bỏ phương tiện.
“Này Di-hê, nếu
Tỳ-kheo nào tự mình là thiện tri thức, cùng sống chung với thiện tri thức
và cùng hòa hợp với thiện tri thức, thì nên biết rằng, vị ấy chắc chắn tu
hành về trí tuệ, quán sát sự hưng thịnh và suy vi của các pháp; chứng trí
như vậy, bằng Thánh tuệ minh đạt, phân biệt thấu hiểu, mà chân chánh diệt
tận khổ đau.
“Này Di-hê, nếu
Tỳ-kheo nào tự mình là thiện tri thức, cùng sống chung với thiện tri thức
và cùng hòa hợp với thiện tri thức, thì nên biết rằng, vị ấy chắc chắn tu
ố lộ để đoạn trừ dục. Tu từ để đoạn trừ sân nhuế. Tu sổ tức để đoạn trừ
tâm niệm tán loạn. Tu vô thường để đoạn trừ ngã mạn.
“Này Di-hê, nếu
Tỳ-kheo nào đắc vô thường tưởng, chắc chắn đắc vô ngã tưởng.
“Này Di-hê, nếu
Tỳ-kheo nào đắc vô ngã tưởng thì ngay trong đời hiện tại đoạn hết thảy ngã
mạn, chứng đắc tịch tĩnh, diệt tận, vô vi, Niết-bàn”.
Phật thuyết như vậy.
Tôn giả Di-hê và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o
---
Mục Lục Phẩm Thứ
5
|
42
|
43
|
44
|
45
|
46
|
47
48
|
49
|50
|
51
|
52
|
53
|
54
|
55
|
56
|
57
--- o0o
---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2
|
Phẩm 3
|
Phẩm 4
|
Phẩm 5
|
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8
|
Phẩm 9
|
Phẩm 10
|
Phẩm 11
|
Phẩm 12
Phẩm 13
|
Phẩm 14
|
Phẩm 15
|
Phẩm 16
|Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003