SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ
4
PHẨM VỊ TẰNG
HỮU PHÁP
33. KINH THỊ
GIẢ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Phật du hóa
tại thành Vương xá.
Bấy giờ, có các đại
đệ tử, là các Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn danh đức, được nhiều người
biết đến; đó là Tôn giả Câu-lân-nhã,
A-nhiếp-bối,
Tôn giả Thích-ca Vương Bạt-đề,
Tôn giả Ma-ha-nam Câu-lệ,
Tôn giả Hòa-phá,
Tôn giả Da-xá,
Tôn giả Bân-nậu,
Tôn giả Duy-ma-la,
Tôn giả Già-hòa-ba-đề,
Tôn giả Tu-đà-da,
Tôn giả Xá-lê Tử,
Tôn giả A-na-luật-đà,
Tôn giả Nan-đề,
Tôn giả Kim-tì-la,
Tôn giả Lệ-ba-đá,
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên,
Tôn giả Đại Ca-diếp,
Tôn giả Đại Câu-hi-la,
Tôn giả Đại Châu-na,
Tôn giả Đại Ca-chiên-diên,
Tôn giả Bân-nạâu-da-nậu-tả trưởng lão,
Tôn giả Da-xá Hành Trù trưởng lão,
rất nhiều các vị Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn danh đức, đại đệ tử, được
mọi người biết đến, tương tự như vậy, cũng ở thành Vương xá, tất cả đều
trú gần ngôi nhà lá của Phật.
Bấy giờ Thế Tôn nói
với các Tỳ-kheo rằng:
“Hiện nay tuổi của
Ta đã già; thân thể ngày càng suy yếu, tuổi thọ đã quá già rồi, nên Ta cần
có thị giả. Các thầy hãy cử cho Ta một thị giả, làm sao để chăm sóc Ta,
xứng ý chớ không phải không xứng ý, ghi nhớ lời Ta nói mà không quên mất ý
nghĩa.”
Lúc ấy Tôn giả
Câu-lân-nhã liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa y, chắp tay hướng về
Đức Phật thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, con
xin nguyện hầu hạ, xứng ý chớ không phải không xứng ý, ghi nhớ những lời
Ngài nói mà không quên mất ý nghĩa.”
Đức Thế Tôn bảo
rằng:
“Này Câu-lân-nhã,
thầy cũng tuổi đã già, thân thể ngày càng suy yếu, tuổi thọ đã qua dài
rồi. Chính thầy cũng cần có thị giả. Này Câu-lân-nhã, thầy nên lui về chỗ
ngồi đi.”
Bấy giờ Tôn giả
Câu-lân-nhã đảnh lễ chân Phật rồi lui về chỗ ngồi.
Cũng như vậy, lần
lượt Tôn giả A-nhiếp-bối, Tôn giảû Thích-ca Vương Bạt-đề, Tôn giả
Ma-ha-nam Câu-lệ, Tôn giả Hòa-phá, Tôn giả Da-xá, Tôn giả Bân-nậu, Tôn giả
Duy-ma-la, Tôn giả Già-hòa-ba-đề, Tôn giả Tu-đà-da, Tôn giả Xá-lê Tử, Tôn
giả A-na-luật-đà, Tôn giả Nan-đề, Tôn giả Kim-tì-la, Tôn giả Lệ-ba-đá, Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả Đại Câu-hi-la, Tôn giả
Đại Châu-na, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả Bân-nạâu-da-nậu-tả trưởng
lão.
Tôn giả Da-xá Hành
Trù trưởng lão, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa áo, chắp tay
hướng về Đức Phật thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, con
xin nguyẹân hầu hạ xứng ý chớ không phải không xứng ý, ghi nhớ những lời
Ngài dạy mà không quên ý nghĩa.”
Đức Thế Tôn bảo
rằng:
“Này Da-xá, thầy
cũng tuổi đã già, thân thể ngày càng suy yếu, tuổi thọ đã qua dài rồi.
Chính thầy cũng cần có thị giả. Này Da-xá, thầy nên lui về chỗ ngồi đi.”
Bấy giờ, Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên đang ở trong đại chúng ấy, liền suy nghĩ như vầy: ‘Đức Thế
Tôn muốn tìm vị nào làm thị giả? Ýù nghĩ đặt vào Tỳ-kheo nào? Muốn cho ai
chăm sóc Ngài, xứng ý chớ không phải không xứng ý, và ghi nhớ những lời
Ngài dạy mà không quên mất nghĩa? Có lẽ ta nên nhập định có hình tượng như
thế,
quan sát tâm của chúng Tỳ-kheo’. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên liền nhập định
có hình tượng như thế, biết Thế Tôn muốn chọn Hiền giả A-nan làm thị giả,
ý Ngài đặt vào A-nan, muốn A-nan chăm sóc, xứng ý chớ không phải không
xứng ý, ghi nhớ lời dạy mà không quên ý nghĩa.
Bấy giờ Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên liền xuất định, thưa với chúng Tỳ-kheo rằng:
“Chư Hiền biết
không, Đức Thế Tôn muốn chọn Hiền giả A-nan làm thị giả. Ý Ngài đặt vào
A-nan; muốn A-nan chăm sóc, xứng ý chớ không phải là không xứng ý, ghi nhớ
lời dạy mà không quên ý nghĩa. Bây giờ chúng ta nên cùng nhau đến chỗ Hiền
giả A-nan khuyến dụ thầy ấy làm thị giả của Thế Tôn.”
Bấy giờ Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên cùng các Tỳ-kheo cùng nhau đến chỗ Tôn giả A-nan, chào hỏi
nhau rồi ngồi sang một bên. Lúc ấy Tôn giả Đại Mục-kiền-liên ngồi xong,
nói rằng:
“Hiền giả A-nan,
thầy có biết không, Đức Thế Tôn muốn chọn thầy làm thị giả; ý Ngài đặt vào
A-nan, muốn A-nan chăm sóc Ngài, vì thầy xứng ý Ngài chớ không phải không
xứng ý, ghi nhớ lời dạy của Ngài mà không quên mất ý nghĩa. A-nan, cũng
như ngoài thôn xóm không bao xa, có một tòa lâu đài to lớn, cửa sổ mở ra ở
phía Đông, thì khi mặt trời mọc lên, ánh sáng sẽ rọi thẳng
vào vách phía Tây. Này Hiền giả A-nan, Đức Thế Tôn cũng vậy, muốn chọn
A-nan làm thị giả, ý Ngài đặt vào A-nan, muốn A-nan chăm sóc Ngài, xứng ý
chớ không phải không xứng ý, ghi nhớ lời dạy của Ngài mà không quên
mất ý nghĩa. Này Hiền giả A-nan, bây giờ thầy nên làm thị giả Đức Thế
Tôn.”
Tôn giảû A-nan thưa
rằng:
“Bạch Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên, tôi không thể lãnh trách nhiệm hầu hạ Đức Thế Tôn nổi. Vì
sao thế? Vì với các Đức Phật Thế Tôn khó xứng ý, khó hầu hạ;ï nghĩa là khó
làm thị giả. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, cũng như đối vớiù một con voi rất
hùng mạnh, đã hơn sáu mươi tuổi, kiêu ngạo, sức mạnh cường thạnh, đủ ngà,
đủ vóc, khó làm xứng ý, khó gần gũi; nghĩa là khó coi sóc.
Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên, với Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, cũng lại như
vậy, khó xứng ý, khó gần gũi; nghĩa là khó làm thị giả. Thưa Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên, vì vậy tôi không thể lãnh trách nhiệm làm thị giả được.”
Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên, nói rằng:
“Này Hiền giả A-nan,
thầy hãy nghe tôi nói ví dụ, người có trí nghe ví dụ liền hiểu ý nghĩa của
nó. Này Hiền giả A-nan, cũng như hoa Ưu-đàm-bát-la đúng thời mới xuất hiện
thế gian. Này Hiền giả A-nan, Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác
cũng lại như vậy. Đúng thời mới xuất thế. Này Hiền giả A-nan, thầy nên mau
làm thị giả Đức Thế Tôn rồi sẽ được kết quả lớn.”
Tôn giả A-nan lại
bạch:
“Thưa Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên, nếu Đức Thế Tôn chấp thuận ba điều nguyện của tôi thì tôi
mới có thể làm thị giả. Những gì là ba? Tôi nguyện không đắp y của Thế
Tôn, dù cũ hay mới; nguyện không ăn thực phẩm biệt thỉnh của Phật; nguyện
không gặp Thế Tôn phi thời. Thưa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, nếu Đức Thế
Tôn cho phép tôi nguyện ba điều ấy, tôi mới làm thị giả Đức Thế Tôn.”
Bấy giờ, sau khi khuyên Tôn giả A-nan làm thị giả rồi, Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên đứng dậy đi quanh Tôn giả A-nan rồi trở về; đến chỗ Đức
Phật, cúi đầu đảnh lễ chân Phật rồi ngồi sang một bên, bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, con
đã khuyến dụ Hiền giả A-nan làm thị giả
Phật. Bạch Thế Tôn, Hiền giả A-nan, xin nơi Phật ba lời nguyện, nói rằng:
‘Những gì là ba? Nguyện không đắp y của Thế Tôn, dù cũ hay mới; nguyện
không ăn thực phẩm biệt thỉnh của Phật; nguyện không gạêp Thế Tôn phi
thời. Thưa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, nếu Đức Thế Tôn cho phép tôi nguyện
ba điều ấy, tôi mới làm thị giả Đức Thế Tôn’.”
Đức Thế Tôn nói:
“Này Đại
Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo A-nan thông minh trí tuệ, biết trước sẽ có những
lời hiềm tỵ, hoặc có vị đồng phạm hạnh sẽ nói như vầy: ‘Tỳ-kheo A-nan vì y
áo nên hầu hạ Đức Thế Tôn’. Này Đại Mục-kiền-liên, nếu Tỳ-kheo A-nan thông
minh trí tuệ, biết trước sẽ có những lời hiềm tỵ hoặc các đồng phạm hạnh,
nói như vầy: ‘Tỳ-kheo A-nan vì y áo nên hầu hạ Đức Thế Tôn’. Thì đó là
pháp vị tằêng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
“Này Đại
Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo A-nan thông minh trí tuệ, biết trước sẽ có những
lời hiềm tỵ, hoặc có vị đồng phạm hạnh sẽ nói như vầy: ‘Tỳ-kheo A-nan vì
đồ ăn nên hầu hạ Đức Thế Tôn’. Này Đại Mục-kiền-liên, nếu Tỳ-kheo A-nan
thông minh trí tuệ, dự đoán sẽ có những lời hiềm tỵ hoặc các đồng phạm
hạnh nói như vầy: ‘Tỳ-kheo A-nan vì đồ ăn nên hầu hạ Đức Thế Tôn’. Thì đó
là pháp vị tằêng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
“Này Đại
Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo A-nan khéo biết thời, khéo phân biệt được thời,
biết lúc nào là thời nên đến gặp Như Lai, lúc nào không phải là thời đến
gặp Như Lai; biết lúc nào là thời chúng Tỳ-kheo và chúng Tỳ-kheo-ni nên
đến gặp Như Lai, lúc nào không phải là thời chúng Tỳ-kheo và chúng
Tỳ-kheo-ni nên đến gặp Như Lai; biết lúc nào là thời chúng Ưu-bà-tắc và
chúng Ưu-bà-di nên đến gặp Như Lai, lúc nào không phải là thời chúng
Ưu-bà-tắc và chúng Ưu-bà-di nên đến gặp Như Lai; biết lúc nào các hàng
Sa-môn, Phạm chí dị học nên đến gặp Như Lai, biết lúc nào các hàng Sa-môn,
Phạm chí dị học không nên đến gặp Như Lai; biết lúc nào các hàng Sa-môn,
Phạm chí dị học không nên đến gặp Như Lai; biết các hàng Sa-môn, Phạm chí
dị học nào có thể bàn luận với Như Lai; biết các hàng Sa-môn, Phạm chí dị
học nào không thể bàn luận với Như Lai; biết thức ăn loại cứng hay loại
mềm nào Đức Như Lai dùng rồi sẽ an ổn, có lợi ích, loại cứng hay loại mềm
nào Đức Như Lai dùng rồi sẽ không được an ổn, có lợi ích; thức ăn loại
cứng hay loại mềm nào Đức Như Lai dùng rồi sẽ được biẹân tài thuyết pháp.
Biết thức ăn loại cứng hay loại mềm nào Đức Như Lai dùng rồi sẽ không được
biện tài thuyết pháp; đó là pháp vị tằêng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
“Này Đại
Mục-kiền-liên, mặc dù Tỳ-kheo A-nan không có tha tâm trí, nhưng có thể
khéo biết trước được Đức Như Lai sẽ thuyết pháp cho ai khi Như Lai rời
tĩnh tọa đứng dậy vào buổi xế, hôm nay Đức Như Lai sẽ làm như vậy, sẽ hiện
pháp lạc trụ như vậy, nhận xét đúng lời Ngài nói, chắc thật không thể sai
khác. Đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Khi Tôn giả A-nan
nói như vầy:
‘Thưa chư Hiền, tôi đã hầu Đức Thế Tôn đã hai mươi lăm năm, nếu do đó mà
khởi tâm cống cao, không thể có sự kiện như vậy’. Nếu Tôn giả A-nan nói
như thế, thì đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn giả A-nan lại
nói như vầy: “Thưa chư Hiền, tôi đã hầu Đức Thế Tôn trong hai mươi lăm
năm, cho đến nay chưa hề gặp Đức Thế Tôn phi thời.” Nếu Tôn giả A-nan nói
như thế, thì đó là pháp vị tằêng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn giả A-nan lại
nói như vầy: “Thưa chư Hiền, tôi đã hầu Đức Thế Tôn trong hai mươi lăm
năm, chưa từng một lần bị Phật khiển trách, trừ có một lỗi, lỗi đó cũng vì
người khác.”
Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo
A-nan.
Tôn giả A-nan lại
nói như vầy: “Thưa chư Hiền, tôi thọ tám văn pháp tụ
từ Đức Như Lai, thọ trì không quên; nếu nhân điều đó mà khởi cống cao, sự
kiện như vậy không thể có.” Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp
vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, tôi thọ tám văn pháp tụ từ
Đức Như Lai, chưa hỏi lần thứ hai, trừ có một câu, câu ấy như vậy cũng
không dễ. Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, tôi thọ tám văn pháp tụ từ
Đức Như Lai, chưa hề thọ pháp từ người khác.” Nếu Tôn giả A-nan nói như
vậy thì đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, tôi thọ tám văn pháp tụ từ
Đức Như Lai, khởi đầu chưa có tâm này, rằng ‘Tôi thọ trì pháp ấy để dạy
lại người khác’. Này chư Hiền, tôi chỉ muốn tự chế ngự, tự tịch tịnh, tự
Bát-niết-bàn thôi.” Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp vị tằng
hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn giả A-nan lại
nói như vầy: “Thưa chư Hiền, có điều rất kỳ lạ này. Đó là có bốn bộ chúng
đi đến chỗ tôi để nghe pháp. Nếu tôi vì thế mà khởi cống cao, điều ấy
không thể có được. Tôi cũng không hề tác ý trước rằng: ‘Nếu có ai đến hỏi,
ta sẽ trả lời như vầy’. Này chư Hiền, tôi ngay trên chỗ ngồi tùy theo
nghĩa người kia hỏi mà trả lời.” Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là
pháp vị tằêng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn giả A-nan lại
nói như vầy: “Thưa chư Hiền, có điều rất kỳ lạ này. Đó là có số đông
Sa-môn, Phạm chí dị học đến hỏi tôi sự việc gì, nếu vì thế mà tôi sợ sệt,
hãi hùng, lông tóc dựng đứng; không thể có sự kiện ấy. Tôi cũng không hề
tác ý trước rằng: ‘Nếu có ai đến hỏi, ta sẽ trả lời như vầy’. Này chư
Hiền, tôi ngay trên chỗ ngồi tùy theo nghĩa người kia hỏi mà trả lời.” Nếu
Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Lại nữa, có một thời, Tôn giả Xá-lê Tử, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả
A-nan trú tại nước Xá-vệ, trong núi Bà-la-la. Bấy giờ Tôn giả Xá-lê Tử hỏi
rằng: Này Hiền giả A-nan, thầy hầu hạ Đức Phật cho đến nay là hai mươi lăm
năm, thầy nhớ có lần nào khởi dục tâm không?”
Tôn giả A-nan thưa
rằng:
“Thưa Tôn giả Xá-lê
Tử, tôi còn là hàng hữu học chưa ly dục.”
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi rằng:
“Này Hiền giả A-nan,
tôi không hỏi thầy là bậc hữu học hay vô học. Tôi chỉ hỏi, trong hai mươi
lăm năm qua hầu hạ Đức Thế Tôn, thầy nhớ có lần nào khởi dục tâm không?”
Tôn giả Xá-lê Tử ba
lần lặp lại câu hỏi:
“Này Hiền giả A-nan,
hai mươi lăm năm qua thầy hầu hạ Đức Thế Tôn, thầy nhớ có lần nào khởi dục
tâm không?”
Tôn giả A-nan cũng
ba lần lặp lại câu trả lời rằng:
“Thưa Tôn giả Xá-lê
Tử, tôi còn là hàng hữu học chưa ly dục.”
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi rằng:
“Này Hiền giả A-nan,
tôi không hỏi thầy là bậc hữu học hay vô học. Tôi chỉ hỏi, trong hai mươi
lăm năm qua hầu hạ Đức Thế Tôn, thầy nhớ có lần nào khởi dục tâm không?”
Bấy giờ Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên nói rằng:
“Này Hiền giả A-nan,
đáp nhanh đi, đáp nhanh đi, này A-nan, thầy đừng xúc nhiễu đến bậc thượng
tôn trưởng lão.”
Lúc đó Tôn giả A-nan
trả lời rằng:
“Thưa Tôn giả Xá-lê
Tử, hai mươi lăm năm qua, tôi đã hầu hạ Đức Phật, tôi nhớ lại chưa hề có
lần nào phát khởi dục tâm. Vì sao vậy? Vì tôi thường hướng đến Thế Tôn và
các vị đồng phạm hạnh với tâm niệm hổ thẹn.” Nếu Tôn giả A-nan nói như
thế, thì đó là pháp vị tăng hữu của Tôn giả A-nan.
Lại nữa, có một thời
Đức Thế Tôn du hóa thành Vương xá, trú trong Nham sơn. Bấy giờ Thế Tôn bảo
rằng:
“Này A-nan, ngươi
nên nằm như cách nằm của sư tử.”
Tôn giả A-nan bạch
rằng:
“Bạch Thế Tôn, sư
tử, chúa tể của loài thú, nằm theo cách nào?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này A-nan, sư tử, chúa tể của loài thú, ban ngày đi tìm ăn, xong rồi vào
hang; khi muốn ngủ, bốn chân xếp chồng lên nhau, ngay đuôi ra sau, nằm
bằng hông bên phải; qua đêm đến sáng hôm sau, quay lại sau nhìn thân thể.
Nếu sư tử chúa tể của loài thú, mà thân thể không ngay thẳng, thì khi thấy
rồi, nó không vui. Nếu sư tử chúa tể của loài thú, mà thân thể được ngay
ngắn khắp mọi phía, thì khi thấy rồi nó liền vui mừng. Nó từ chỗ nằm đứng
dậy, ở trong hang đi ra; đi ra rồi gầm gừ; gầm gừ rồi tự ngắm thân thể; tự
ngắm thân thể rồi nhìn khắp bốn hướng, xoay nhìn khắp bốn hướng rồi liền
rống lên ba lần, rống ba lần rồi liền đi tìm ăn. Cách thức nằm của sư tử
chúa là như vậy.”
Tôn giả A-nan bạch
rằng:
“Bạch Thế Tôn, cách
thức nằm của sư tử, chúa tể của loài thú, là như vậy. Còn cách nằm của
Tỳ-kheo phải như thế nào?”
Đức Thế Tôn đáp
rằng:
“Này A-nan, nếu Tỳ-kheo sống nơi thôn ấp, khi đêm đã qua, vào lúc sáng
sớm, khoác y ôm bát, đi vào thôn khất thực, khéo hộ trì thân thể, nhiếp
thủ các căn, trụ với chánh niệm. Vị ấy từ thôn ấp khất thực xong, xếp y
cất bát, rửa sạch tay chân, vắt Ni-sư-đàn lên vai đi đến chỗ rừng vắng,
hoặc đến dưới bóng cây, hoặc vào trong nhà trống, hoặc kinh hành, hoặc tọa
thiền, tịnh trừ những pháp chướng ngại trong tâm. Ban ngày hoặc kinh hành
hoặc tọa thiền để tịnh trừ những pháp chướng ngại trong tâm rồi. Lại vào
đầu hôm hoặc kinh hành, hoặc tọa thiền, để tịnh trừ những pháp chướng ngại
trong tâm. Sau khi hoặc kinh hành, hoặc tọa thiền để tịnh trừ những pháp
chướng ngại trong tâm vào lúc đầu hôm rồi, đến nữa đêm đi vào tĩnh thất để
nằm, xếp làm tư Ưu-đa-la-tăng,
trải lên giường, gấp y tăng-già-lê
làm gối, nằm xuống phía hông bên phải, hai chân xếp chồng lên nhau, buộc ý
vào ấn tượng ánh sáng,
chánh niệm, chánh trí, hằng hướng tâm niệm đến ý tưởng sẽ trỗi dậy. Sau
đêm ấy liền nhanh chóng ngồi dậy, hoăc kinh hành, hoặc tọa thiền, để tịnh
trừ những pháp chướng ngại trong tâm. Như thế là pháp nằm như sư tử của
Tỳ-kheo.”
Tôn giả A-nan bạch
rằng:
“Bạch Thế Tôn, cách
nằm như sư tử của Tỳ-kheo là như vậy.”
Tôn giả A-nan lại
nói như vầy:
“Này chư Hiền, Đức
Thế Tôn dạy tôi cách nằm giống như sư tử;
từ đó trở đi chưa hề có lần nào tôi nằm
nghiêng về bên hông trái.” Nếu Tôn giả A-nan nói như thế thì đó là pháp vị
tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Lại nữa, có thời Đức
Thế Tôn du hóa Câu-thi-na-kiệt,
trụ trong rừng Sa-la của Hòa-bạt-đan lực sĩ.
Bấy giờ là lúc tối hậu, Thế Tôn sắp nhập Bát-niết-bàn, Ngài bảo rằng: ‘Này
A-nan, ngươi hãy đi đến giữa hai cây Song thọ, trải giường đầu quay về
hướng Bắc, cho Như Lai. Nửa khuya đêm nay Như Lai sẽ Bát-niết-bàn.”
Tôn giả A-nan vâng
lời dạy của Như Lai, liền đến giữa hai cây Song thọ trải giường nằm, đầu
quay về hướng Bắc cho Đức Như Lai. Trải giường rồi trở về nơi Đức Phật,
cúi đầu lễ chân Phật, đứng sang một bên, thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, con
đã trải giường nằm, đầu quay hướng Bắc, cho Đức Như Lai, ở giữa hai cây
Song thọ. Kính mong Đức Thế Tôn tự nên biết thời.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn dẫn Tôn giả A-nan đến giữa hai cây Song thọ, xếp làm
tư Ưu-đà-la-tăng trải lên giường, gấp y tăng-già-lê làm gối, nằm về hướng
hông bên phải, hai chân xếp chồng lên nhau. Lúc tối hậu sắp Bát-niết-bàn,
Tôn giả A-nan quạt hầu Phật, đưa tay gạt nước mắt, rồi nghĩ như vầy:
‘Trước kia, có chúng Tỳ-kheo ở các nơi muốn đến thăm viếng Đức Thế Tôn để
cúng dường lễ bái, thì đều có thể tùy lúc mà được thăm viếng Đức Thế Tôn
để lễ bái cúng dường. Nếu họ nghe Đức Thế Tôn đã Bát-niết-bàn thì họ sẽ
không còn đến để được thăm viếng Đức Thế Tôn mà cúng dường lễ bái. Ta cũng
không còn tùy lúc mà thăm viếng Đức Thế Tôn để cúng dường lễ bái’.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn
hỏi các Tỳ-kheo rằng:
“Tỳ-kheo A-nan bây
giờ ở đâu?”
Lúc ấy các Tỳ-kheo
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, Tôn giả A-nan đang cầm quạt hầu Phật, đưa tay gạt nước mắt
rồi nghĩ thế này: ‘Trước kia, có chúng Tỳ-kheo ở các nơi muốn đến thăm
viếng Đức Thế Tôn để cúng dường lễ bái, thì đều có thể tùy lúc mà được
thăm viếng Đức Thế Tôn để lễ bái cúng dường. Nếu họ nghe Đức Thế Tôn đã
Bát-niết-bàn thì họ sẽ không còn đến để được thăm viếng Đức Thế Tôn mà
cúng dường lễ bái. Ta cũng không còn tùy lúc mà thăm viếng Đức Thế Tôn để
cúng dường lễ bái’.”
Bấy giờ Thế Tôn bảo rằng:
“Này A-nan, ngươi
chớ khóc lóc, cũng chớ buồn rầu. Vì sao vậy? Này A-nan, ngươi hầu hạ Ta,
thân hành từ hòa, khẩu và ý hành từ hòa, chưa từng có hai lòng, an lạc vô
lường, vô biên, vô hạn. Này A-nan, nếu các Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác, trong đời quá khứ, có người thị giả nào hầu hạ cũng không thể
hơn ngươi được. Này A-nan, nếu các Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác,
trong đời vị lai, có người thị giả nào hầu hạ cũng không thể hơn ngươi
được. Này A-nan, Ta, Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, trong đời hiện
tại, nếu có người nào làm thị giả, cũng không thể hơn ngươi được. Vì sao
vậy? A-nan khéo biết thời, khéo phân biệt được thời, biết lúc nào là thời
nên đến gặp Như Lai, lúc nào không phải là thời đến gặp Như Lai; biết lúc
nào là thời chúng Tỳ-kheo và chúng Tỳ-kheo-ni nên đến gặp Như Lai, lúc nào
không phải là thời chúng Tỳ-kheo và chúng Tỳ-kheo-ni nên đến gặp Như Lai;
biết lúc nào là thời chúng Ưu-bà-tắc và chúng Ưu-bà-di nên đến gặp Như
Lai, lúc nào không phải là thời chúng Ưu-bà-tắc và chúng Ưu-bà-di nên đến
gặp Như Lai; biết lúc nào các hàng Sa-môn, Phạm chí dị học nên đến gặp Như
Lai, biết lúc nào các hàng Sa-môn, Phạm chí dị học không nên đến gặp Như
Lai; biết lúc nào các hàng Sa-môn, Phạm chí dị học không nên đến gặp Như
Lai; biết các hàng Sa-môn, Phạm chí dị học nào có thể bàn luận với Như
Lai; biết các hàng Sa-môn, Phạm chí dị học nào không thể bàn luận với Như
Lai; biết thức ăn loại cứng hay loại mềm nào Đức Như Lai dùng rồi sẽ an
ổn, có lợi ích loại cứng hay loại mềm nào Đức Như Lai dùng rồi sẽ không
được an ổn, có lợi ích; thức ăn loại
cứng hay loại mềm nào Đức Như Lai dùng rồi sẽ được biện tài thuyết pháp.
Biết thức ăn loại cứng hay loại mềm nào Đức Như Lai dùng rồi sẽ không được
biẹân tài thuyết pháp.
“Lại nữa, này A-nan,
ngươi tuy không có tha tâm trí, nhưng có thể khéo biết trước được Đức Như
Lai sẽ thuyết pháp cho ai khi Như Lai rời tĩnh tọa đứng dậy vào buổi xế,
hôm nay Đức Như Lai sẽ làm như vậy, sẽ hiện pháp lạc trụ như vậy, nhận xét
đúng lời Ngài nói, chắc thật không thể sai khác.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn
muốn làm cho A-nan vui vẻ, bảo với các thầy Tỳ-kheo ấy rằng:
“Vị Chuyển luân
Thánh vương có bốn pháp vị tằng hữu. Những gì là bốn? Đó là chúng Sát-lợi
đến yết kiến Chuyển luân vương, nếu lúc ấy im lặng, họ thấy vậy liền vui
vẻ, nếu lúc ấy có nói gì, họ nghe rồi liền vui vẻ. Tỳ-kheo A-nan cũng
giống như vậy, nghĩa là có bốn pháp vị tằng hữu. Những gì là bốn? Đó là
chúng Tỳ-kheo khi đến gặp A-nan, nếu lúc ấy im lặng, thấy vậy liền vui vẻ,
nếu lúc ấy có nói gì, họ nghe rồi liền hoan hỷ. Chúng Tỳ-kheo-ni, chúng
Ưu-bà-tắc, chúng Ưu-bà-di, nếu gặp A-nan, gặp lúc im lặng, thấy vậy liền
hoan hỷ, nếu lúc ấy có nói gì, nghe rồi liền hoan hỷ.
“Lại nữa, A-nan
thuyết pháp cho đại chúng, có bốn pháp vị tằng hữu. Những gì là bốn?
Tỳ-kheo thuyết pháp cho chúng Tỳ-kheo bằng chí tâm, không phải không chí
tâm. Chúng Tỳ-kheo kia cũng nghĩ như vầy: ‘Mong Tôn giả A-nan thường
thuyết pháp, không dừng lại nửa chừng. Chúng Tỳ-kheo kia nghe Tôn giả
A-nan thuyết pháp, hoàn toàn không chán nản. Nhưng Tỳ-kheo A-nan tự nhiên
ngồi im lặng’. Tỳ kheo A-nan thuyết pháp cho chúng Tỳ-kheo-ni, chúng
Ưu-bà-tắc, chúng Ưu-bà-di, bằng chí tâm, không phải không chí tâm. Chúng
Ưu-bà-di ấy cũng nghĩ như vầy: ‘Mong Tôn giả A-nan thường thuyết pháp,
không dừng lại nửa chừng. Chúng Ưu-bà-di kia nghe Tôn giả A-nan thuyết
pháp, hoàn toàn không chán nản. Nhưng Tỳ-kheo A-nan tự nhiên ngồi im
lặng’.”
Lại nữa, một thời
sau khi Thế Tôn Bát-niết-bàn không bao lâu, Tôn giả A-nan du hóa tại Kim
cang,
trú ở thôn Kim cang. Bấy giờ Tôn giả A-nan thuyết pháp cho vô lượng trăm
ngàn đại chúng vây quanh trước sau. Bấy giờ, Tôn giả Kim Cang Tử
cũng đang ở trong đại chúng ấy. Tôn giả Kim Cang Tử trong tâm suy nghĩ như
vầy: ‘Tôn giả A-nan này vẫn còn là bậc hữu học chưa ly dục sao? Ta nên như
vậy, và bằng định ấy mà quan sát tâm của Tôn giả A-nan’. Thế rồi Tôn giả
Kim Cang Tử nhập định, và bằng định như vậy mà quan sát tâm của Tôn giả
A-nan. Tôn giả Kim Cang Tử biết Tôn giả A-nan vẫn còn là hữu học nên chưa
ly dục. Bấy giờ Tôn giả ra khỏi tam muội, hướng về Tôn giả A-nan nói bài
tụng rằng:
Núi rừng vắng tư
duy,
Khiến tâm trụ
Niết-bàn,
Cù-đàm Thiền không
loạn,
Sẽ sớm chứng tịch
tĩnh.
Bấy giờ Tôn giả
A-nan vâng theo lời của Tôn giả Kim Cang Tử, rời bỏ chỗ đông mà sống một
mình, tinh tấn, không tán loạn. Tôn giả rời bỏ chỗ đông, sống một mình,
tinh tấn, không tán loạn, để đạt mục đích vì đó là một thiện nam tử đã cạo
bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình,
xuất gia học đạo; chỉ vì mục đích là thành tựu phạm hạnh vô thượng, ngay
trong đời hiện tại, tự tri tự giác, tự chứùng nghiệm, thành tựu và an trụ,
biết như thật rằng: ‘Sự sanh đã đứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã
xong, không còn tái sanh nữa’.
Tôn giả A-nan biết
pháp rồi, cho đến, chứng đắc A-la-hán.
Tôn giả A-nan nói vầy:
“Này chư Hiền, tôi
ngồi trên giường, ngả đầu chưa đụng gối, liền đoạn tất cả lậu, chứng tâm
giải thoát.” Nếu Tôn giả A-nan nói như thế; thì đó là pháp vị tằng hữu của
Tỳ-kheo A-nan.
Tôn giả A-nan lại
nói:
“Này chư Hiền, tôi
sẽ ngồi kiết già để Bát-niết-bàn.” Tôn giả A-nan liền ngồi kiết già mà
Bát-niết-bàn.
Nếu Tôn giả A-nan
ngồi kiết già mà Bát-niết-bàn; thì đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo
A-nan.
Đức Phật thuyết như
vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ
Tư
32 |
33 |
34 |
35 |
36 |
37 |
38 |
39 |
40 |
41
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003