SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM THỨ
4
PHẨM VỊ TẰNG
HỮU PHÁP
32. KINH VỊ TẰNG HỮU PHÁP
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Phật du hóa
tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ, vào lúc xế chiều,
Tôn giả A-nan
rời tĩnh tọa đứng dậy, đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, rồi
đứng qua một bên, thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, con
nghe rằng, Đức Thế Tôn vào thời Phật Ca-diệp
bắt đầu phát nguyện Phật đạo, tu hành phạm hạnh. Nếu Thế Tôn vào thời Phật
Ca-diệp bắt đầu phát nguyện Phật đạo, tu hành phạm hạnh; con xin thọ trì
pháp vị tằêng hữu ấy của Thế Tôn.
“Con nghe rằng,
Đức Thế Tôn vào thời Phật Ca-diệp bắt đầu phát nguyện Phật đạo, tu hành
phạm hạnh và sinh lên cõi trời Đâu-suất.
Nếu Đức Thế Tôn vào thời Phật Ca-diệp bắt đầu phát nguyện Phật đạo, tu
hành phạm hạnh và sinh lên cõi trời Đâu-suất; con xin thọ trì pháp vị tằng
hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng, Đức
Thế Tôn vào thời Phật Ca-diệp bắt đầu phát nguyện Phật đạo, tu hành phạm
hạnh và sinh lên cõi trời Đâu-suất. Thế Tôn sinh lên sau nhưng có ba việc
thù thắng hơn các vị trời sinh trước. Đó là thọ mạng, dung sắc và vinh dự
nhà trời.
Do đó nên các vị trời Đâu-suất vui mừng hớn hở, tán thán rằng: ‘Kỳ diệu
thay, hy hữu thay, vị thiên tử này có đại như ý túc, có đại oai đức, có
đại phước hựu, có đại oai thần. Vì sao vậy? Vì vị ấy sinh đến đây sau
nhưng có ba việc thù thắng hớn những vị trời Đâu-suất đã sinh đến trước;
đó là thọ mạng, dung sắc và vinh dự nhà trời. Nếu Đức Thế Tôn vào thời
Phật Ca-diệp bắt đầu phát nguyện Phật đạo, tu hành phạm hạnh và sinh lên
cõi trời Đâu-suất. Thế Tôn sinh lên sau nhưng có ba việc thù thắng hơn các
vị trời sinh trước. Đó là thọ mạng, dung sắc và vinh dự nhà trời. Do đó
nên các vị trời Đâu-suất vui mừng hớn hở, tán thán rằng: ‘Kỳ diệu thay, hy
hữu thay, vị thiên tử này có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước
hựu, có đại oai thần. Vì sao vậy? Vì vị ấy sinh đến đây sau nhưng có ba
việc thù thắng hớn những vị trời Đâu-suất đã sinh đến trước; đó là thọ
mạng, dung sắc và vinh dự nhà trời. Thế thì con xin thọ trì pháp vị tằêng
hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng, Đức
Thế Tôn mạng chung ở trời Đâu-suất, biết sẽ vào thai mẹ,
lúc ấy chấn động tất cả đất trời, có ánh sáng vi diệu quảng đại chiếu khắp
thế gian cho đến chỗ u tối, cũng không có gì ngăn che được; nghĩa là nơi
nào mặt trời, mặt trăng này dù có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại
phước hựu, có đại oai thần, cũng không chiếu rọi ánh sáng đến được, thì
tất cả nơi ấy đều được chiếu ngời. Chúng sanh ở các nơi ấy do thấy ánh
sáng nhiệm mầu này đều mỗi mỗi phát sanh nhận thức rằng: ‘Có một chúng
sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời! Có một chúng sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời!’
Nếu Đức Thế Tôn mạng chung ở trời Đâu-suất, biết sẽ vào thai mẹ, lúc ấy
chấn động tất cả đất trời, có ánh sáng vi diệu quảng đại chiếu khắp thế
gian cho đến chỗ u tối, cũng không có gì ngăn che được; nghĩa là nơi nào
mặt trời, mặt trăng này dù có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước
hựu, có đại oai thần, cũng không chiếu rọi ánh sáng đến được, thì tất cả
nơi ấy đều được chiếu ngời. Chúng sanh ở các nơi ấy do thấy ánh sáng nhiệm
mầu này đều mỗi mỗi phát sanh nhận thức rằng: ‘Có một chúng sanh kỳ diệu,
hy hữu ra đời! Có một chúng sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời!’
Thì con xin thọ trì pháp vị tằng hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng, Đức
Thế Tôn biết mình trụ trong thai mẹ,
tựa vào hông bên phải. Nếu Đức Thế Tôn biết mình trụ trong thai mẹ, tựa
vào hông bên phải, thì con xin thọ trì pháp vị tằêng hữu này của Đức Thế
Tôn.
“Con nghe rằng, Đức
Thế Tôn hình thể duỗi dài
trụ trong thai mẹ. Nếu Đức Thế Tôn hình thể duỗi dài trụ trong thai mẹ,
thì con xin thọ trì pháp vị tằêng hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng, Đức Thế Tôn, được bao che, trụ trong thai mẹ, không bị máu
dơ làm cho ô uế, cũng không bị tinh khí các thứ bất tịnh khác làm cho ô
uế. Nếu Đức Thế Tôn, được bao che, trụ trong thai mẹ, không bị máu dơ làm
cho ô uế, cũng không bị tinh khí bất tịnh khác làm cho ô uế; thì con xin
thọ trì pháp vị tằêng hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng, Đức
Thế Tôn biết
mình ra khỏi thai mẹ, lúc ấy chấn động tất cả đất trời, có ánh sáng vi
diệu quảng đại chiếu khắp thế gian cho đến chỗ u tối, cũng không có gì
ngăn che được; nghĩa là nơi nào mặt trời, mặt trăng này dù có đại như ý
túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, cũng không chiếu
rọi ánh sáng đến được, thì tất cả nơi ấy đều được chiếu ngời. Chúng sanh ở
các nơi ấy do thấy ánh sáng nhiệm mầu này đều mỗi mỗi phát sanh nhận thức
rằng: ‘Có một chúng sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời! Có một chúng sanh kỳ
diệu, hy hữu ra đời!’ Nếu Đức Thế Tôn biết mình ra khỏi thai mẹ, lúc ấy
chấn động tất cả đất trời, có ánh sáng vi diệu quảng đại chiếu khắp thế
gian cho đến chỗ u tối, cũng không có gì ngăn che được; nghĩa là nơi nào
mặt trời, mặt trăng này dù có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước
hựu, có đại oai thần, cũng không chiếu rọi ánh sáng đến được, thì tất cả
nơi ấy đều được chiếu ngời. Chúng sanh ở các nơi ấy do thấy ánh sáng nhiệm
mầu này đều mỗi mỗi phát sanh nhận thức rằng: ‘Có một chúng sanh kỳ diệu,
hy hữu ra đời! Có một chúng sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời!’ Thì con xin thọ
trì pháp vị tằêng hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng, Đức
Thế Tôn thân thể duỗi dài
mà ra khỏi thai mẹ. Nếu Đức Thế Tôn thân thể duỗi dài mà ra khỏi thai mẹ
thì con xin thọ trì pháp vị tằêng hữu này của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng, Đức
Thế Tôn được bao che khi ra khỏi thai mẹ, không bị máu dơ làm cho ô uế,
cũng không bị tinh khí và các vật bất tịnh khác làm cho ô uế. Nếu Đức Thế
Tôn được bao che khi ra khỏi thai mẹ, không bị máu dơ làm cho ô uế, cũng
không bị tinh khí và các thứ bất tịnh khác làm cho ô uế; thì con xin thọ
trì pháp vị tằêng hữu này của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng, khi
Đức Thế Tôn mới sanh ra, có bốn vị thiên tử, tay cầm tấm vải rất mịn đứng
trước thai mẹ, làm cho người mẹ hoan hỷ, tán thán rằng: “Đồng tử này rấy
kỳ diệu, rất hy hữu, có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hữu,
có đại oai thần’. Nếu như Đức Thế Tôn mới sanh ra, có bốn vị thiên tử, tay
cầm tấm vải rất mịn đứng trước thai mẹ, làm cho người mẹ hoan hỷ, tán thán
rằng: “Đồng tử này rấy kỳ diệu, rất hy hữu, có đại như ý túc, có đại oai
đức, có đại phước hữu, có đại oai thần’. Thì con xin thọ trì pháp vị tằêng
hữu này của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng, khi
Đức Thế Tôn vừa mới sanh ra, liền đi bảy bước không khiếp sợ, không kinh
hãi, quan sát các phương. Nếu Thế Tôn vừa mới sanh ra, liền đi bảy bước
không khiếp sợ, không kinh hãi, quan sát các phương; thì con xin thọ trì
pháp vị tằêng hữu này của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng, khi
Đức Thế Tôn vừa mới sanh ra, thì ngay phía trước người mẹ bỗng hiện một hồ
nước lớn, nước đầy tràn bờ, làm cho người mẹ ở nơi ấy được thọ dụng thanh
tịnh. Nếu Thế Tôn vừa mới sanh ra, thì ngay phía trước người mẹ bỗng hiện
một hồ nước lớn, nước đầy tràn bờ, làm cho người mẹ ở nơi ấy được thọ dụng
thanh tịnh; con xin thọ trì pháp vị tằêng hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng, khi
Đức Thế Tôn vừa mới sanh ra, từ trên hư không nước mưa rưới xuống, một ấm,
một lạnh, để tắm thân thể của Thế Tôn. Nếu khi Đức Thế Tôn vừa mới sanh
ra, từ trên hư không nước mưa rưới xuống, một ấm, một lạnh, để tắm thân
thể của Thế Tôn; con xin thọ trì pháp vị tằêng hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng, khi
Đức Thế Tôn vừa mới sanh ra, chư Thiên ở trên hư không tấu lên âm nhạc của
trời; hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen đỏ, hoa sen trắng và hoa
Văn-đà-la
của trời, và bột hương chiên-đàn được rải lên Đức Thế Tôn. Nếu khi Đức Thế
Tôn vừa mới sanh ra, chư Thiên ở trên hư không tấu lên âm nhạc của trời;
hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen đỏ, hoa sen trắng và hoa Văn-đà-la của
cõi trời, và bột hương chiên-đàn được rải lên Đức Thế Tôn; con xin thọ trì
pháp vị tằêng hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng, Đức
Thế Tôn, ở tại nhà của cha là Bạch Tịnh vương, vào một ngày đi dự lễ hạ
điền, ngồi dưới gốc cây Diêm-phù,
ly dục, ly ác bất thiện pháp, có giác có quán, có lạc phát sanh do viễn
ly, nhập Sơ thiền, thành tựu và an trụ. Bấy giờ là buổi xế, tất cả bóng
của các cây khác đều đã ngả dần, chỉ có cây Diêm-phù là bóng cây không
ngả, che mát thân của Đức Thế Tôn. Lúc đó, Thích Bạch Tịnh đến quan sát
công tác hạ điền, đi đến chỗ người làm ruộng hỏi rằng: ‘Này nông phu,
Vương tử ở chỗ nào?’
Người ấy trả lời
rằng: ‘Vương tử
hiện đang ở dưới gốc cây Diêm-phù.” Rồi Thích Bạch Tịnh đi đến cây
Diêm-phù, bấy giờ là xế trưa, Thích Bạch Tịnh thấy bóng của tất cả các cây
khác đều đã ngả, chỉ có bóng cây Diêm-phù là không ngả, để che mát thân
thể của Thế Tôn, liền nghĩ như vầy: ‘Vương tử này thật là kỳ diệu, rất hy
hữu, có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần.
Vì sao thế? Vì vào lúc xế trưa tất cả các bóng cây đều ngả, chỉ có bóng
cây Diêm-phù là không ngả, để che mát thân của vương tử’. Nếu vào buổi xế
trưa tất cả cây đều ngả bóng, chỉ có bóng cây Diêm-phù không ngả, để che
mát thân thể của Đức Thế Tôn; con xin thọ trì pháp vị tằêng hữu ấy của Đức
Thế Tôn.
“Con nghe rằng có
một thời Đức Thế Tôn du hóa tại Bệ-xá-li, trong Đại lâm.
Bấy giờ, khi đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, Đức Thế Tôn khoác y cầm bát vào
thành Bệ-xá-li khất thực. Sau khi khất thực xong, xếp y, cất bát, rửa tay
chân, vắt Ni-sư-đàn lên vai, đi vào rừng, đến dưới một gốc cây Đa-la, trải
Ni-sư-đàn, ngồi kiết-già. Bấy giờ là lúc xế bóng,
tất cả các bóng cây khác đều ngả, chỉ có bóng cây Đa-la là không ngả để
che mát thân thể của Đức Thế Tôn. Bấy
giờ vào lúc xế bóng, Thích Ma-ha-nam
ung dung đi đến Đại lâm. Thích Ma-ha-nam thấy rằng, vào buổi xế, tất cả
bóng cây đều ngả chỉ trừ bóng cây Đa-la là không ngả để che mát thân thể
của Đức Thế Tôn, liền nghĩ như vầy: ‘Sa-môn Cù-đàm rất là kỳ diệu, rất là
hy hữu, có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai
thần. Vì sao vậy? Vì vào buổi xế, tất cả bóng cây đều ngả, chỉ có bóng cây
Đa-la là không ngả để che mát thân thể Cù-đàm’. Nếu lúc xế bóng, tất cả
các bóng cây khác đều ngã, chỉ có bóng cây Đa-la là không ngả để che mát
thân thể của Đức Thế Tôn; con xin thọ trì pháp vị tằêng hữu ấy của Đức Thế
Tôn.
“Con nghe rằng, một
thời Thế Tôn du hóa tại nước Bệ-xá-li, trong Đại lâm. Bấy giờ các Tỳ-kheo
để bát ngoài chỗ đất trống, bát của Thế Tôn cũng có trong số ấy, có một
con khỉ ôm bát của Thế Tôn mà đi. Các thầy Tỳ-kheo la ó, sợ nó làm bể bát
của Thế Tôn. Nhưng Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng: ‘Hãy để yên. Hãy để yên.
Đừng la. Nó không làm bể bát đâu’. Thế rồi khỉ ôm bát của Thế Tôn mà đi,
đến một cây Sa-la, chậm rãi leo lên, lấy đầy bát mật nơi cây Sa-la, rồi
chậm rãi leo xuống, trở về chỗ Đức Phật, đem dâng bát mật ấy lên Đức Phật.
Đức Thế Tôn không thọ nhận. Lúc ấy khỉ liền ôm bát qua một bên, dùng đũa
gắp bỏ sâu. Sau khi nhặt bỏ sâu, nó ôm bát trở lại dâng lên Thế Tôn. Thế
Tôn lại không nhận. Khỉ lại ôm qua một bên, múc nước đổ vào trong mật, rồi
ôm trở lại dâng lên Thế Tôn. Thế Tôn liền thọ nhận. Khỉ thấy Thế Tôn lấy
bát mật rồi liền vui mừng hớn hở, múa may nhảy nhót rồi bỏ đi. Nếu Đức Thế
Tôn khiến con khỉ kia, khi thấy Đức Thế Tôn lấy bát mật rồi vui mừng hớn
hở múa may nhảy nhót, rồi đi; con xin thọ trì pháp vị tằêng hữu ấy của Đức
Thế Tôn.
“Con nghe rằng một
thời Đức Thế Tôn du hóa Bệ-xá-li, ở tại ngôi lầu cao,
bên bờ ao Di hầu. Bấy giờ Thế Tôn đang phơi tọa cụ, rũ bụi, phủi đất. Lúc
ấy có một đám mây đến trái thời che kín khắp hư không muốn mưa nhưng dừng
lại chờ Đức Thế Tôn phơi tọa cụ, rũ bụi, phủi đất, xếp cất một nơi, rồi
mang cất chổi; vào đứng trong nền nhà. Bấy giờ đám mây lớn ấy thấy Đức Thế
Tôn xếp cất tọa cụ rồi mới đổ mưa xuống rất lớn, từ cao cho đến thấp, nước
ngập tràn lai láng. Nếu Đức Thế Tôn làm cho đám mây lớn kia thấy Thế Tôn
xếp cất tọa cụ rồi, mới mưa xuống thật to và từ đất cho đến thấp nước ngập
tràn lai láng; con xin thọ trì pháp vị tằng hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con nghe một thời
Đức Thế Tôn du hóa tại Bạt-kỳ,
ngồi dưới cây Sa-la thọ vương, trong rừng Ôn tuyền. Bấy giờ là buổi xế
trưa, tất cả bóng cây khác đều ngả, chỉ trừ bóng cây Sa-la thọ vương là
không ngả, để che mát thân thể Đức Thế Tôn. Khi ấy chủ vườn La-ma đi dạo
xem vườn, thấy rằng vào buổi xế, tất cả bóng cây khác đều ngả, chỉ trừ
bóng cây Sa-la thọ vương là không ngả để che mát thân thể của Thế Tôn,
liền nghĩ như vầy: ‘Sa-môn Cù-đàm thật là kỳ diệu, thật là hy hữu, có đại
như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần. Vì sao vậy?
Vì sao buổi xế tất cả bóng cây khác đều ngả, chỉ trừ cây Sa-la thọ vương
là không ngả bóng để che mát thân thể của Sa-môn Cù-đàm.
Nếu Đức Thế Tôn vào buổi xế tất cả bóng cây khác đều ngả, chỉ trừ bóng cây
Sa-la thọ vương là không ngả để che mát thân thể của Thế Tôn; con xin thọ
trì pháp vị tằêng hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng có
một thời Đức Thế Tôn ở trong miếu thần A-phù.
Bấy giờ khi đêm đã tàn, vào lúc sáng sớm, Đức Thế Tôn khoác y ôm bát vào
thôn A-phù để khất thực. Sau khi khất thực xong, xếp y, cất bát, rửa chân
tay xong, Ngài vắt Ni-sư-đàn lên vai, vào miếu thần ngồi thiền tịnh. Bấy
giờ trời mưa đá rất to; sấm sét đánh chết bốn con trâu và hai người cày.
Lúc chôn cất hai người chết ấy, đám đông ồn ào, âm thanh cao và to, tiếng
dội chấn động. Bấy giờ vào lúc xế chiều, Đức Thế Tôn rời chỗ ngồi tĩnh tọa
đứng dậy, từ trong miếu thần đi ra, đến chỗ đất trống để kinh hành. Trong
đám đông có một người thấy Đức Thế Tôn vào lúc
xế trưa rời chỗ tĩnh tọa đứng dậy, ở trong miếu thần đi ra, đến chỗ đất
trống để kinh hành, liền đi đến chỗ Phật cúi đầu làm lễ rồi đi kinh hành
theo sau Đức Phật. Đức Phật thấy người ấy ở phía sau nên hỏi rằng: ‘Vì cớ
gì mà đám đông ồn ào, âm thanh cao và to, tiếng dội chấn động vậy?’ Người
ấy thưa rằng: ‘Bạch Thế Tôn khi trưa, trời mưa đá rất to; sấm sét đánh
chết bốn con trâu và hai người cày. Lúc chôn cất hai người chết ấy, đám
đông ồn ào, âm thanh cao và to, tiếng dội chấn động. Bạch Thế Tôn vừa rồi
Ngài không nghe gì hết sao?
“Thế Tôn trả lời
rằng: ‘Ta không nghe các âm thanh ấy’.
“Lại hỏi rằng: ‘Vừa
rồi Ngài ngủ hay sao?’
“Thế Tôn trả lời:
‘Không phải’.
“Lại hỏi Đức Thế
Tôn: ‘Lúc ấy Ngài tỉnh mà không nghe các âm thanh ấy sao?’
“Thế Tôn đáp: ‘Quả
thật vậy’.
“Bấy giờ người kia
liền suy nghĩ rằng: ‘Rất là kỳ diệu, rất là hy hữu, sở hành của Như Lai,
Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, rất là vắng lặng, rất là tịch tĩnh. Vì sao
vậy? Vì lúc tỉnh mà vẫn không nghe các âm thanh to lớn ấy. Nếu Đức Thế Tôn
tỉnh thức mà vẫn không nghe các âm thanh to lớn ấy; con xin thọ trì pháp
vị tằêng hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng, một
thời Đức Phật trú tại Uất-bệ-la
bên bờ sông Ni-liên-nhiên,
ngồi dưới cây A-xà-hòa-la Ni-câu-loại,
lúc mới chứng đắc Phật đạo. Bấy giờ mưa lớn đến bảy ngày, từ cao đến thấp
đều bị ngập nước, từng luồng nước lớn chảy xoáy ngang dọc, trong vùng đất
trống đó, Đức Thế Tôn đi kinh hành, đến nơi nào thì nơi đấy có bụi bay
lên. Nếu Đức Thế Tôn ở trong vùng có luồng nước xoáy ngang dọc, mà đi kinh
hành, đến chỗ nào thì chỗ ấy có bụi bay lên; con xin thọ trì pháp vị tằng
hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng Ma
vương trong suốt sáu năm theo Phật để tìm chỗ sơ suất mà không được, liền
chán nản nên bỏ về. Nếu Đức Thế Tôn bị Ma vương trong suốt sáu năm theo
tìm chỗ sơ suất mà không được, liền chán nản nên bỏ về; con xin thọ trì
pháp vị tằng hữu ấy của Đức Thế Tôn.
“Con nghe rằng Đức Thế Tôn, trong suốt bảy năm suy niệm về thân, luôn
luôn suy niệm không gián đoạn. Nếu Đức Thế Tôn trong suốt bảy năm suy niệm
về thân, luôn luôn không gián đoạn; con xin thọ trì pháp vị tằng hữu ấy
của Đức Thế Tôn.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn
bảo rằng:
“Này A-nan, ngươi
hãy nghe Như Lai nói mà thọ trì thêm pháp vị tằng hữu này nữa. Này A-nan,
Như Lai biết thọ sanh, biết trụ, biết diệt, luôn luôn biết, chẳng có lúc
nào chẳng biết. Này A-nan, Như Lai biết tư và tưởng sanh, biết trụ, biết
diệt, luôn luôn biết. Không lúc không biết. Cho nên, này A-nan hãy nên từ
nơi Như Lai mà thọ trì thêm pháp vị tằng hữu này.”
Đức Thế Tôn thuyết
như vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo, sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ
phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ
Tư
32 |
33 |
34 |
35 |
36 |
37 |
38 |
39 |
40 |
41
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003