SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM
THỨ
3
PHẨM
XÁ-LÊ
TỬ
TƯƠNG
ƯNG
31. KINH
PHÂN BIỆT THÁNH ĐẾ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Phật du hóa
tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Đây là sự công bố
chánh pháp tối thượng,
tức là bốn Thánh đế, được thâu nhiếp toàn diện, được quán chiếu toàn diện,
được phân biệt, được phơi mở, được mở bày, được thi thiết, được hiển thị,
được thú hướng.
“Trong quá khứ, các Đức Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, cũng có
sự công bố chánh pháp tối thượng này, tức là bốn Thánh đế, được thâu nhiếp
toàn diện, được quán chiếu toàn diện, được phân biệt, được phơi mở, được
mở bày, được thi thiết, được hiển thị, được thú hướng.
“Trong đời vị lai,
các Đức Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, cũng có sự công bố
chánh pháp tối thượng này, tức là bốn Thánh đế, được thâu nhiếp toàn diện,
được quán chiếu toàn diện, được phân biệt, được phơi mở, được mở bày, được
thi thiết, được hiển thị, được thú hướng.
“Trong đời hiện tại,
Ta là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, cũng có sự công bố chánh
pháp tối thượng này, tức là bốn Thánh đế, được thâu nhiếp toàn diện, được
quán chiếu toàn diện, được phân biệt, được phơi mở, được mở bày, được thi
thiết, được hiển thị, được thú hướng.
“Tỳ-kheo Xá-lê Tử
là bậc thông tuệ,
tốc tuệ, tiệp tuệ, lợi tuệ, quảng tuệ, thâm tuệ, xuất yếu tuệ, minh đạt
tuệ, biện tài tuệ. Tỳ-kheo Xá-lê Tử thành tựu thật tuệ. Vì sao vậy? Vì ta
nói sơ lược về bốn Thánh đế thế này, thì Tỳ-kheo Xá-lê Tử có thể vì người
khác mà giáo hóa toàn diện, quán chiếu toàn diện, phân biệt, phơi mở, mở
bày, thi thiết hiển thị, thú hướng.
“Khi Tỳ-kheo Xá-lê
Tử giáo hóa toàn diện, quán sát toàn diện, phân biệt, phơi mở, mở bày, thi
thiết, hiển thị, thú hướng, làm cho vô lượng người đạt đến chánh quán.
Tỳ-kheo Xá-lê Tử có khả năng hướng dẫn bằng chánh kiến vậy.
“Tỳ-kheo
Mục-kiền-liên có khả năng làm cho đứng vững nơi chân tế tối thượng,
nghĩa là cứu cánh lậu tận. Tỳ-kheo Xá-lê Tử sanh ra các bậc phạm hạnh,
cũng như sanh mẫu; Tỳ-kheo Mục-kiền-liên trưởng dưỡng các bậc phạm hạnh
cũng như dưỡng mẫu. Do đó các bậc phạm hạnh nên phụng sự, cung kính cúng
dường, lễ bái Tỳ-kheo Xá-lê Tử và Mục-kiền-liên. Vì sao vậy? Vì Tỳ-kheo
Xá-lê Tử và Đại Mục-kiền-liên mong cầu phước lợi và thiện ích, cũng cầu sự
an ổn và khoái lạc cho các vị phạm hạnh”.
Sau khi Đức Thế Tôn
nói như vậy rồi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh thất tĩnh tọa. Lúc
đó, Tôn giả Xá-lê Tử nói với các Tỳ-kheo:
“Này chư Hiền, Đức
Thế Tôn vì chúng ta mà xuất hiện thế gian, vì mọi người mà giáo hóa, khai
thị toàn diện, phân biệt, phơi mở, mở bày, thi thiết, hiển thị, thú hướng
bốn Thánh đế này.
“Những gì là bốn? Đó
là Khổ Thánh đế, Khổ tập, Khổ diệt, Khổ diệt đạo Thánh đế.
“Này chư Hiền, thế
nào là Khổ Thánh đế? Đó là sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, oắn tắng
hội khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, tóm lại ngũ thủ uẩn là khổ.
“Này chư Hiền, nói
sanh là khổ; nói thế là vì lẽ gì? Này chư Hiền, sanh là chúng sanh kia,
với chủng loại sai biệt của chúng sanh kia, sanh thì sanh,
xuất hiện thì xuất hiện, thành hình thì thành hình, hiện khởi
năm uẩn rồi liền có mạng căn. Như vậy gọi là sanh.
“Này chư Hiền, sanh
là khổ, đó là chúng sanh khi sanh thâân cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toàn
diện; cảm giác toàn diện.
Tâm cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác khổ, cảm giác toàn
diện. Thân tâm cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác khổ, cảm
giác toàn diện. Thân cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác nóng,
cảm giác toàn diện. Tâm cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác
nóng, cảm giác toàn diện. Thân tâm cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toàn diện;
cảm giác nóng, cảm giác toàn diện. Thân cảm nghiệm sự nóng hực,
sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác sự nóng hực, sự
bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm giác toàn diện. Tâm cảm nghiệm sự nóng hực,
sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toàn
diện; cảm giác sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm giác toàn
diện. Thân tâm cảm nghiệm sự nóng hực, sự bức rức, ưu
sầu buồn bã, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác sự nóng hực, sự bức rức, ưu
sầu buồn bã, cảm giác toàn diện. Này chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói sanh
là khổ.
“Này chư Hiền, nói
già là khổ; nói thế là vì lẽ gì? Này chư Hiền, già nghĩa là chúng sanh
kia, với chủng loại sai biệt của chúng sanh kia, kẻ kia trở nên già yếu,
đầu bạc răng rụng, sự cường tráng ngày càng suy yếu, thân còng, chân vẹo,
cơ thể nặng nề, hơi thở đưa lên, phải chống gậy mà đi, thịt rút, da nhăn,
xù xì như cây gai, các căn hư hoại, nhan sắc xấu xí. Như vậy gọi là già.
“Này chư Hiền, già là khổ, là chúng sanh khi già thì thâân cảm nghiệm khổ,
cảm nghiệm toàn diện; cảm giác, cảm giác toàn diện. Tâm cảm nghiệm khổ,
cảm nghiệm toàn diện; cảm giác khổ, cảm giác toàn diện. Thân tâm cảm
nghiệm khổ, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác khổ, cảm giác toàn diện. Thân
cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác nóng, cảm giác toàn diện.
Tâm cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác nóng, cảm giác toàn
diện. Thân tâm cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác nóng, cảm
giác toàn diện. Thân cảm nghiệm sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã,
cảm nghiệm toàn diện; cảm giác sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã,
cảm giác toàn diện. Tâm cảm nghiệm sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn
bã, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn
bã, cảm giác toàn diện. Thân tâm cảm nghiệm sự nóng hực, sự bức rức, ưu
sầu buồn bã, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác sự nóng hực, sự bức rức, ưu
sầu buồn bã, cảm giác toàn diện. Này chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói già là khổ.
“Này chư Hiền, nói
bệnh là khổ; nói thế là vì lẽ gì? Này chư Hiền, bệnh là đầu đau, mắt đau,
tai đau, mũi đau, mặt đau, môi đau, răng đau, lưỡi đau, nướu đau, cổ đau,
phong suyễn, ho hen, ói mữa, cứng họng, bệnh điên, bệnh động kinh, ung
thư, mọc bướu, kinh nguyệt tràn, viêm đỏ, nóng hực, khô héo, bệnh trĩ, mụn
nhọt, kiết lỵ, và tất cả những bệnh tương tự như vậy, từ xúc mà sanh ra,
không rời khỏi tâm, ở ngay trong thân. Như vậy gọi là bệnh. Này chư Hiền,
bệnh khổ là: Chúng sanh khi bệnh thì thâân cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toàn
diện; cảm giác, cảm giác toàn diện. Tâm cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toàn
diện; cảm giác khổ, cảm giác toàn diện. Thân tâm cảm nghiệm khổ, cảm
nghiệm toàn diện; cảm giác khổ, cảm giác toàn diện. Thân cảm nghiệm nóng,
cảm nghiệm toàn diện; cảm giác nóng, cảm giác toàn diện. Tâm cảm nghiệm
nóng, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác nóng, cảm giác toàn diện. Thân tâm
cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác nóng, cảm giác toàn diện.
Thân cảm nghiệm sự nóng hực, sự bức
rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác sự nóng hực, sự bức
rức, ưu sầu buồn bã, cảm giác toàn diện. Tâm cảm nghiệm sự nóng hực, sự
bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác sự nóng
hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã,
cảm giác toàn diện. Thân tâm cảm nghiệm sự nóng hực, sự bức
rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác sự nóng hực, sự bức
rức, ưu sầu buồn bã, cảm giác toàn diện. Này chư Hiền, vì lẽ ấy nói
bệnh là khổ.
“Này chư Hiền, nói
chết là khổ; nói thế là vì lẽ gì? Này chư Hiền, chết là chúng sanh kia,
với chủng loại sai biệt của chúng sanh kia, mạng chung, vô thường, chết
chôn, tan rã, tuổi thọ chấm dứt, hủy hoại, mạng căn bế tắc, như vậy gọi là
chết. Này chư Hiền, chết là khổ. Đó là chúng sanh khi chết, thâân cảm
nghiệm khổ, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác, cảm giác toàn diện. Tâm cảm
nghiệm khổ, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác khổ, cảm giác toàn diện. Thân
tâm cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác khổ, cảm giác toàn
diện. Thân cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác nóng, cảm giác
toàn diện. Tâm cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác nóng, cảm
giác toàn diện. Thân tâm cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác
nóng, cảm giác toàn diện. Thân cảm nghiệm sự nóng hực, sự
bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác sự nóng hực, sự
bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm giác toàn diện. Tâm cảm nghiệm sự nóng hực,
sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác sự nóng
hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm giác toàn diện. Thân tâm cảm nghiệm
sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn
bã, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn
bã, cảm giác toàn diện. Này chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói chết là khổ.
“Này chư Hiền, nói
oán tắng hội là khổ;
nói thế là vì lẽ gì? Này chư Hiền, oán tắng hội, nghĩa là, chúng sanh thật
có sáu nội xứ:
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý xứ vốn không khả ái mà chúng cùng tụ hội ở
một chỗ, có sự gắn bó, hòa hợp, tập hợp. Sự hòa hợp ấy là khổ. Cũng vậy
các ngoại xứ: xúc, thọ, tưởng, hành, ái,
cũng lại như vậy. Này chư Hiền, chúng sanh thật có sáu giới: đất, nước,
lửa, gió, hư không và thức giới vốn không khả ái mà chúng cùng tụ hội ở
một chỗ, có sự gắn bó, hòa hợp, tập hợp. Sự hòa hợp ấy là khổ. Như vậy gọi
là oán tắng hội khổ. Này chư Hiền, oán tắng hội là khổ, đó là chúng sanh
khi có sự tụ hội của những thứ oán ghét, thân cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm
toàn diện; cảm giác khổ, cảm giác toàn diện. Tâm cảm nghiệm khổ, cảm
nghiệm toàn diện; cảm giác khổ, cảm giác toàn diện. Thân tâm cảm nghiệm
khổ, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác khổ, cảm giác toàn diện. Này chư Hiền,
vì lẽ ấy mà nói oán tắng hội là khổ.
“Này chư Hiền, nói
ái biệt ly khổ;
nói thế là vì lẽ gì? Này chư Hiền, ái biệt ly khổ, đó là chúng sanh thật
có sáu xứ bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý xứ vốn khả ái, nhưng
chúng phân tán thành khác biệt, không tương ứng, biệt ly không tụ hội,
không gắn bó, không tập hợp, không hòa hợp, đó là khổ. Cũng vậy, các ngoại
xứ: xúc, thọ, tưởng, hành, ái, cũng lại như vậy. Này chư Hiền, chúng sanh
quả thực có sáu giới: đất, nước, lửa, gió, hư không và thức giới vốn nhưng
chúng phân tán thành khác biệt, không tương ứng, không gắn bó, không hòa
hợp, không tập hợp, đó là khổ. Như vậy gọi là ái biệt ly. Này chư Hiền, ái
biệt ly là khổ nghĩa là chúng sanh khi xa cách nhau, thân cảm nghiệm khổ,
cảm nghiệm toàn diện; cảm giác khổ, cảm giác toàn diện. Tâm cảm nghiệm
khổ, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác khổ, cảm giác toàn diện. Thân tâm cảm
nghiệm khổ, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác khổ, cảm giác toàn diện. Này
chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói ái biệt ly khổ là khổ.
“Này chư Hiền, nói
sở cầu bất đắc là khổ;
nói thế là vì lẽ gì? Này chư Hiền, nghĩa là chúng sanh lệ thuộc vào sanh
pháp,
không thể lìa xa sanh pháp, ước muốn rằng: ‘Mong tôi không sanh ra’, điều
ấy quả thật không thể muốn mà được. Với sự già, sự chết, sự ưu sầu, buồn
lo mà ước muốn rằng: ‘Mong tôi không có buồn lo’. Điều ấy không thể muốn
mà được. Này chư Hiền chúng sanh quả thật sanh là khổ, không đáng vui,
không đáng yêu, không đáng nghĩ nhớ, người ấy nghĩ thế này: ‘Nếu ta sanh
khổ, không đáng vui, không đáng yêu, không đáng nghĩ nhớ, mong sao được
đổi thành đáng yêu, đáng nghĩ nhớ’. Điều đó không thể muốn mà được. Này
chư Hiền, chúng sanh nào quả thật sanh lạc đáng yêu, đáng nghĩ nhớ, người
ấy nghĩ như vầy: ‘Nếu ta sanh ra lạc, đáng yêu, đáng nghĩ nhớ, mong sao nó
là pháp thường hằng, vĩnh cữu và không biến dịch’. Điều ấy không thể muốn
mà được.
“Này chư Hiền, chúng
sanh nào quả thật sanh ra tư tưởng mà không đáng vui, không đáng yêu,
không đáng nghĩ nhớ, người ấy suy nghĩ thế này: ‘Nếu ta sanh tư tưởng mà
không đáng vui, không đáng yêu, không đáng nghĩ nhớ, mong sao nó đổi thành
mà đáng yêu, đáng nghĩ nhớ’. Điều ấy không thể muốn mà được. Này chư Hiền,
chúng sanh nào quả thật sanh ra tư tưởng, đáng yêu, đáng nghĩ nhớ, người
ấy nghĩ như vầy: ‘Nếu tư tưởng ta sanh ra đáng yêu, đáng nghĩ nhớ, mong
sao nó là pháp thường hằng, vĩnh cửu và không biến dịch’. Điều ấy không
thể muốn mà được. Này chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói sở cầu bất đắc là khổ.
“Này chư Hiền, nói
lược năm thủ uẩn là khổ; nói thế là vì lẽ gì? Đó là sắc thủ uẩn; thọ,
tưởng, hành, thức thủ uẩn. Này chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói năm thủ uẩn là
khổ.
“Này chư Hiền, thời
quá khứ là Khổ Thánh đế; thời vị lai và hiện tại là Khổ Thánh đế. Đó là
điều chắc thật không hư đối, không xa rời sự thật, cũng chẳng phải điên
đảo, được thẩm sát một cách chắc thật. Những gì hợp với sự chắc thật như
vậy, là sở hữu của Thánh, được nhận thức bởi Thánh, được thấu suốt bởi
Thánh, được thấy bởi Thánh, là sự giác ngộ tối thượng chân chánh của bậc
Thánh. Do dó nói là Khổ Thánh đế.
“Cái gì làø ái tập
Khổ tập Thánh đế? Nghĩa là chúng sanh thật có sáu xứ tham ái bên trong:
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý xứ. Trong đó nếu có ái, có cấu bẩn, có ô
nhiễm, có đắm trước thì gọi là tập.
“Này chư Hiền, Đa
văn Thánh đệ tử biết rằng: ‘Ta biết pháp như vậy, thấy như vậy, hiểu như
vậy, nhận định như vậy và tri giác như vậy, đó là ái tập Khổ tập Thánh đế.
“Biết như vậy là
biết như thế nào? Nếu có người tham ái vợ con, nô tỳ, kẻ sai bảo, quyến
thuộc, ruộng đất, nhà cửa, quán xá, tài vật xuất vốn và lời lãi, tạo tác
những nghiệp có ái, có cấu bẩn, có nhiễm, có trước, đó gọi là tập. Người
kia biết ái tập Khổ tập Thánh đế này. Cũng vậy, ngoại xứ xúc, thọ, tưởng,
hành, ái, cũng lại như vậy.
“Này chư Hiền, chúng
sanh quả thực có sáu giới tham ái: đất, nước, lửa, gió, hư không, thức
giới, trong đó nếu có ái, có cấu bẩn, có nhiễm, có trước, đó gọi là tập.
“Này chư Hiền, Đa
văn Thánh đệ tử biết rằng ‘Ta biết pháp như vậy, thấy như vậy, hiểu như
vậy, nhận định như vậy và tri giác như vậy, đó là ái tập Khổ tập Thánh đế.
“Biết như vậy là
biết như thế nào? Nếu có người tham ái vợ con, nô tỳ, kẻ sai bảo, quyến
thuộc, ruộng đất, nhà cửa, quán xá, tài vật xuất vốn và lời lãi, tạo tác
những nghiệp có ái, có cấu bẩn, có nhiễm, có trước, đó gọi là tập. Người
kia biết ái tập Khổ tập Thánh đế này. Thời quá khứ là khổ Thánh đế; thời
vị lai và hiện tại là Khổ Thánh đế. Đó là điều chắc thật không hư đối,
không xa rời sự thật, cũng chẳng phải điên đảo, được thẩm sát một cách
chắc thật. Những gì hợp với sự chắc thật như vậy, là sở hữu của Thánh,
được nhận thức bởi Thánh, được thấu suốt bởi Thánh, được thấy bởi Thánh,
là sự giác ngộ tối thượng chân chánh của bậc Thánh. Do dó nói là Khổ Thánh
đế.
Này chư Hiền, thế
nào là ái diệt Khổ diệt Thánh đế? Nghĩa là chúng sanh thực có sáu xứ tham
ái bên trong: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý xứ. Chúng sanh ấy giải thoát,
không nhiễm, không đắm trước, đoạn bỏ hoàn toàn, vô dục, diệt tận, tĩnh
tịch; đó gọi là Khổ diệt.
“Này chư Hiền, Đa
văn Thánh đệ tử biết rằng ‘Ta biết pháp như vậy, thấy như vậy, hiểu như
vậy, nhận định như vậy và tri giác như vậy, đó là ái diệt Khổ diệt Thánh
đế.
“Biết như vậy là
biết như thế nào? Nếu có người nào không tham
ái vợ con, nô tỳ, kẻ sai bảo, quyến thuộc, ruộng đất, nhà cửa, quán xá,
tài vật xuất vốn và lời lãi, đó không phải là tạo tác nghiệp, người ấy nếu
giải thoát, không nhiễm, không đắm trước, đoạn bỏ hoàn toàn, vô dục, diệt
tận, tĩnh tịch; đó gọi là ái diệt, Khổ diệt Thánh đế. Cũng thế, ngoại xứ
xúc, thọ, tưởng, tư, ái, cũng lại như vậy.
“Này chư Hiền, chúng
sanh quả thật có sáu giới tham ái: Đất, nước, lửa, gió, hư không, thức
giới; người ấy nếu giải thoát, không
nhiễm, không đắm trước, đoạn bỏ hoàn toàn, vô dục, diệt tận, tĩnh tịch; đó
gọi là ái diệt, Khổ diệt Thánh đế. Này chư Hiền, Đa văn Thánh đệ tử
biết rằng ‘Ta biết pháp như vậy, thấy như vậy, hiểu như vậy, nhận định như
vậy và tri giác như vậy, đó là ái diệt Khổ diệt Thánh đế.
“Biết như vậy là
biết như thế nào? Nếu có người nào không tham
ái vợ con, nô tỳ, kẻ sai bảo, quyến thuộc, ruộng đất, nhà cửa, quán xá,
tài vật xuất vốn và lời lãi, đó không phải là tạo tác nghiệp, người ấy nếu
giải thoát, không nhiễm, không đắm trước, đoạn bỏ hoàn toàn, vô dục, diệt
tận, tĩnh tịch; đó gọi là ái diệt, Khổ diệt Thánh đế. Thời quá khứ
là khổ Thánh đế; thời vị lai và hiện tại là Khổ Thánh đế. Đó là điều chắc
thật không hư đối, không xa rời sự thật, cũng chẳng phải điên đảo, được
thẩm sát một cách chắc thật. Những gì hợp với sự chắc thật như vậy, là sở
hữu của Thánh, được nhận thức bởi Thánh, được thấu suốt bởi Thánh, được
thấy bởi Thánh, là sự giác ngộ tối thượng chân chánh của bậc Thánh. Do dó
nói là ái diệt Khổ diệt Thánh đế.
“Này chư Hiền, thế
nào là Khổ diệt đạo Thánh đế? Đó là chánh kiến, chánh tư duy,
chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn,
chánh niệm và chánh định.
“Này chư Hiền, thế
nào là chánh kiến? Đó là khi vị Thánh đệ tử khi suy niệm về khổ là khổ,
tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước
kia của mình, hoặc suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa,
hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh. Hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước
mà quán sát
tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó là sự giản trạch, giản trạch toàn diện,
giản trạch quyết định, giản trạch pháp, nhận định, toàn diện nhận định,
quán sát minh đạt. Đó là chánh kiến.
“Này chư Hiền, thế
nào là chánh tư duy? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập
là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia
của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa,
hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước
mà quán sát tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó là sự tư sát, tư sát toàn
diện, tùy thuận tư sát, điều nào nên niệm thì niệm, điều nào nên hy vọng
thì hy vọng.
Đó là chánh tư duy.
“Này chư Hiền, thế
nào là chánh ngữ? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là
tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của
mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc
thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước mà
quán sát tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó ngoài bốn diệu hành thuộc
miệng, còn các ác hành khác nơi miệng đều viễn ly, đoạn trừ, không hành,
không tạo tác, không tập hợp và không tụ hội. Đó là chánh ngữ.
“Này chư Hiền, thế
nào là chánh nghiệp? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập
là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia
của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa,
hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước
mà quán sát tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó ngoài ba diệu hành thuộc
thân, còn các ác hành khác nơi thân đều viễn ly, đoạn trừ, không hành,
không tạo tác, không tập hợp và không tụ hội. Đó là chánh nghiệp.
“Này chư Hiền, thế nào là chánh mạng? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về
khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo
tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành
là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không
nhiễm trước mà quán sát tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó phải là mong
cầu vô lý, không do nhiều tham dục mà không biết vừa đủ, không làm các thứ
xảo quyệt bùa chú, để sinh sống bằng tà mạng. Chỉ theo chánh pháp mà mong
cầu y phục, chớ không phải với phi pháp, cũng theo chánh pháp để mong cầu
thực phẩm, giường chõng, chớ không phải với phi pháp. Đó là chánh mạng.
“Này chư Hiền, thế
nào là chánh tinh tấn? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ,
tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước
kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai
họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh;
hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước mà quán sát tâm hoàn toàn giải
thoát, trong đó, nếu có phương tiện tinh tấn thì quả quyết, tinh cần để
mong cầu, có khả năng để thú hướng, chuyên chú không xả bỏ, cũng không suy
thối, quyết định hàng phục tâm mình. Đó là chánh tinh tấn.
“Này chư Hiền, thế
nào là chánh niệm? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là
tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của
mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc
thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước mà
quán sát tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó, nếu tâm tùy thuận niệm, phản
chiếu giải thoát niệm,
suy niệm, biến mãn suy niệm, liên tục ức niệm, tâm niệm không xao lãng. Đó
là chánh niệm.
“Này chư Hiền, thế
nào là chánh định? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là
tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của
mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc
thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước mà
quán sát tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó, nếu tâm trụ, thiền trụ, thuận
trụ, không loạn, không tán, chuyên nhất.
Đó là chánh định.
“Này chư Hiền, thời
quá khứ là Khổ diệt đạo Thánh đế; thời vị lai và hiện tại là Khổ diệt đạo
Thánh đế. Đó là điều chắc thật không hư dối, không xa rời sự thật, cũng
chẳng phải điên đảo, được thẩm sát một cách chắc thật. Những gì hợp với sự
chắc thật như vậy, là sở hữu của Thánh, được nhận thức bởi Thánh, được
thấu suốt bởi Thánh, được thấy bởi Thánh, là sự giác ngộ tối thượng chân
chánh của bậc Thánh. Do dó nói Khổ diệt đạo Thánh đế”.
Rồi ngài nói bài
tụng rằng:
Phật thấu triệt các
pháp,
Thấy vô lượng thiện
đức,
Khổ, tập, diệt, đạo
đế,
Khéo hiển hiện phân
biệt.
Tôn giả Xá-lê Tử
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Tôn giả Xá-lê Tử thuyết, hoan hỷ
phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ Ba
21 |
22 |
23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
29
|
30 |
31
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003