SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM
THỨ
3
PHẨM
XÁ-LÊ
TỬ
TƯƠNG
ƯNG
29. KINH ĐẠI CÂU-HI-LA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Phật du hóa
tại thành Vương xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa.
Bấy giờ, vào lúc xế
chiều, Tôn giả Xá-lê Tử từ chỗ tĩnh tọa đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả Đại
Câu-hi-la,
chào hỏi lẫn nhau, rồi ngồi xuống một bên.
Tôn giả Xá-lê Tử nói
với Tôn giả Đại Câu-hi-la như vầy:
“Tôi có điều muốn
hỏi, mong ngài nghe cho chăng?”
Tôn giả Đại
Câu-hi-la trả lời rằng:
“Thưa Tôn giả Xá-lê
Tử, ngài muốn hỏi điều gì xin cứ hỏi, tôi nghe rồi sẽ suy nghĩ”.
Tôn giả Xá-lê Tử hỏi
rằng:
“Này Hiền giả Đại
Câu-hi-la, có điều kiện nào mà nhân điều kiện đó mà Tỳ-kheo thành tựu
kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh
và thể nhập chánh pháp không?”
Tôn giả Đại
Câu-hi-la trả lời rằng:
“Có vậy, thưa Tôn
giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết bất thiện và biết căn của bất thiện.
“Thế nào là biết bất
thiện? Ác hành của thân là bất thiện, áùc hành của khẩu là bất thiện, và
ác hành của ý là bất thiện. Đó là biết bất thiện.
“Thế nào là biết bất
thiện căn? Tham là căn của bất thiện, nhuế, và si là căn của bất thiện. Đó
là biết căn của bất thiện.
“Này Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết bất thiện và biết căn của bất
thiện như vậy, đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với
pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành
thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi rằng:
“Hiền giả Đại
Câu-hi-la, lại còn có điều kiện nào mà nhân điều kiện đó Tỳ-kheo thành tựu
kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh
pháp chăng?
“Có vậy, thưa Tôn
giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết thiện và biết căn của thiện.
“Thế nào là biết
thiện? Diệu hành của thân là thiện. Diệu hành của ý và khẩu là thiện. Đó
là biết thiện.
“Thế nào là biết căn
của thiện? Vô tham là căn của thiện, vô nhuế và vô si là căn của thiện. Đó
là biết căn của thiện.
“Này Tôn giả Xá-lê
Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết thiện và biết thiện căn như vậy, đó là Tỳ-kheo đã
thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể
nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành
thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi rằng:
“Hiền giả Đại
Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp
chăng?”
Tôn giả Đại
Câu-hi-la trả lời rằng:
“Có, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Nghĩa là Tỳ-kheo biết như thật về thức ăn,
biết như thật về tập của thức ăn, thực diệt và thực diệt đạo của thức ăn.
“Thế nào là biết như
thật về thức ăn? Có bốn loại thức ăn: Một là đoàn thực, thô và tế;
hai là xúc thực;
ba là ý tư thực;
bốn là thức thực.
Đó là biết như thật về thức ăn.
“Thế nào là biết như
thật về tập của thức ăn?
Do ái mới có thức ăn. Đó là biết như thật về tập của thức ăn.
“Thế nào là biết như
thật về diệt của thức ăn? Ái diệt tức là thức ăn diệt. Đó là biết như thật
về diệt của thức ăn.
“Thế nào là biết như
thật về diệt đạo của thức ăn?
Tám chi Thánh đạo, từ chánh kiến cho tới chánh định là tám. Đó là biết như
thật về diệt đạo của thức ăn.
“Tôn giả Xá-lê Tử.
Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về thức ăn, biết như thật về tập của thức ăn,
thực diệt và thực diệt đạo của thức ăn như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu
kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh
pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành
thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi rằng:
“Hiền giả Đại
Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp
chăng?
“Có, thưa Tôn giả
Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về lậu, biết như thật về lậu tập
của lậu, diệt của lậu và diệt đạo của lậu.
“Thế nào là biết như
thật về lậu? Có ba lậu là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.
Đó là biết như thật về lậu.
“Thế nào là biết như
thật về tập của lậu? Do vô minh mới có lậu. Đó là biết như thật về tập của
lậu.
Thế nào là biết như
thật về diệt của lậu? Do vô minh diệt thì lậu diệt. Đó là biết như thật về
diệt của lậu.
“Thế nào là biết như
thật về diệt đạo của lậu? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho tới chánh
định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của lậu.
“Này Tôn giả Xá-lê
Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về lậu, biết như thật về lậu tập của lậu,
diệt của lậu và diệt đạo của lậu như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành
thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi rằng:
“Hiền giả Đại
Câu-hi-la, lại có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được
chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp
chăng?”
“Có, thưa Tôn giả
Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về khổ, biết như thật về khổ tập,
khổ diệt và khổ diệt đạo.
“Thế nào là biết như
thật về khổ? Sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, oán tắng hội khổ, ái
biệt ly khổ, sở cầu bất đắc khổ, nói tóm lại ngũ thạnh ấm khổ. Đó là biết
như thật về khổ.
“Thế nào là biết như
thật về khổ tập? Do lão tử mới có khổ. Đó là biết như thật về khổ tập.
“Thế nào là biết như
thật về khổ diệt? Lão tử diệt tức khổ diệt. Đó là biết như về khổ diệt.
“Thế nào là biết như thật về khổ diệt đạo? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến
cho đến chánh định là tám. Đó là biết như thật về khổ diệt đạo.
“Này Tôn giả Xá-lê
Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về khổ. Biết như thật về khổ tập, khổ
diệt và khổ diệt đạo như vậy. Đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh
kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành
thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi rằng:
“Hiền giả Đại
Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp
chăng?”
“Có, thưa Tôn giả
Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về già chết, biết như thật về tập
khởi của già chết, diệt của già chết và diệt đạo của già chết.
“Thế nào là biết như
thật về già? Đó là, người kia già cả, đầu bạc, răng rụng, sự cường tráng
càng ngày càng suy giảm, thân còng, chân vẹo, cơ thể nặng nề, hơi thở đưa
lên, chống gậy mà đi, thịt teo rút, da nhăn như cây gai, các căn rụng rời,
nhan sắc xấu xí. Đó là biết như thật về già.
“Thế nào là biết như
thật về chết? Đó là, chúng sanh kia và tất cả chủng loại sai biệt của
chúng sanh kia, khi mạng chung, cơn vô thường đến, thì chết rồi chôn và
tan rã, tuổi thọ chấm dứt và bị phá hoại, mạng căn bế tắc; đó là của chết.
Trước kia là nói về già, đây là nói về chết. Đó gọi là lão tử. Đó là biết
như thật về lão tử.
“Thế nào là biết như
thật về tập của già chết? Đó là, do sanh mà có già chết. Đó là biết như
thật về tập của già chết.
“Thế nào là biết như
thật về diệt của già chết? Đó là, sanh diệt tức già chết diệt. Đó là biết
như thật về diệt của già chết.
“Thế nào là biết như
thật về diệt đạo của già chết? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến
chánh định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của già chết.
“Này Tôn giả Xá-lê
Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về già chết. Biết như thật về tập của già
chết, lão tử diệt của già chết và diệt đạo của già chết như vậy; đó là
Tỳ-kheo đã thành tựu kiến được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh
và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành
thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi rằng:
“Hiền giả Đại
Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp
chăng?”
“Có, thưa Tôn giả
Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về sanh, biết như thật về tập của
sanh, diệt của sanh và diệt đạo của sanh.
“Thế nào là biết như
thật về sanh? Đó là, chúng sanh kia và tất cả chủng loại sai biệt của
chúng sanh kia, đến lúc sanh thì sanh, đến lúc xuất thì xuất, đến lúc
thành thì thành; khi phát khởi năm ấm liền có mạng căn. Đó là biết như
thật về sanh.
“Thế nào là biết như
thật về tập của sanh? Do hữu mà có sanh. Đó là biết như thật về tập của
sanh.
“Thế nào là biết như
thật về diệt của sanh? Hữu diệt tức sanh diệt. Đó là biết như thật về diệt
của sanh.
“Thế nào là biết như
thật về diệt đạo của sanh? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh
định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của sanh.
“Này Tôn giả Xá-lê
Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về sanh. Biết như thật về tập của sanh,
diệt của sanh và diệt đạo của sanh như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu
kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh
pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành
thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi rằng:
“Hiền giả Đại
Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp
chăng?”
“Có, thưa Tôn giả
Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về hữu, biết như thật về tập của
hữu, diệt của hữu và diệt đạo của hữu.
“Thế nào là biết như
thật về hữu? Có ba hữu: Dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu.
Đó là biết như thật về hữu.
Thế nào là biết như
thật về tập của hữu? Do thủ
mà có hữu. Đó là biết như thật về hữu tập.
Thế nào là biết như
thật về hữu diệt? Thủ diệt tức hữu diệt. Đó là biết như thật về hữu diệt.
Thế nào là biết như thật về hữu diệt đạo? Tám chi Thánh đạo, từ chánh kiến
cho đến chánh định là tám. Đó là biết như thật về hữu diệt đạo?
Này Tôn giả Xá-lê
Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về hữu, biết như thật về hữu tập, hữu
diệt và hữu diệt đạo như vậy. Đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh
kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành
thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi rằng:
“Hiền giả Đại
Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp
chăng?”
“Có, thưa Tôn giả
Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về thủ, biết như thật về thủ tập,
thủ diệt và thủ diệt đạo.
“Thế nào là biết như
thật về thủ? Đó là bốn thủ:
dục thủ, giới thủ, kiến thủ và ngã thủ. Đó là biết như thật về thủ.
“Thế nào là biết như
thật về tập của thủ? Do ái mà có thủ. Đó là biết như thật về tập của thủ.
“Thế nào là biết như
thật về diệt của thủ? Nghĩa là ái diệt thì thủ diệt. Đó là biết như thật
về diệt của thủ.
“Thế nào là biết như
thật về diệt đạo của thủ? Tám chi Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh
định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của thủ.
“Này Tôn giả Xá-lê
Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về thủ, biết như thật về tập của thủ,
diệt của thủ và diệt đạo của thủ như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành
thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi rằng:
“Hiền giả Đại
Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp
chăng?”
“Có, thưa Tôn giả
Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về ái, biết như thật về tập của
ái, diệt của ái và diệt đạo của ái.
“Thế nào là biết như
thật về ái? Có ba ái: dục ái, sắc ái và vô sắc ái.
Đó là biết như thật về ái.
“Thế nào là biết như
thật về tập của ái? Do thọ
mà có ái. Đó là biết như thật về tập của ái.
“Thế nào là biết như
thật về diệt của ái? Thọ diệt tức ái diệt. Đó là biết như thật về diệt của
ái.
“Thế nào là biết như
thật về diệt đạo của ái? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh
định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của ái.
“Này Tôn giả Xá-lê
Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về ái, biết như thật về tập của ái, diệt
của ái và diệt đạo của ái như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được
chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành
thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi rằng:
“Hiền giả Đại
Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp
chăng?”
“Có, thưa Tôn giả
Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về thọ, biết như thật về tập của
thọ, diệt của thọ và diệt đạo của thọ.
“Thế nào là biết như
thật về thọ? Có ba thọ: lạc thọ,
khổ thọ và bất lạc bất khổ thọ. Đó là biết như thật về thọ.
“Thế nào là biết như
thật về tập của thọ? Do xúc
mà có thọ. Đó là biết như thật về tập của thọ.
“Thế nào là biết như
thật về diệt của thọ? Do xúc diệt nên thọ diệt. Đó là biết như thật về
diệt của thọ.
“Thế nào là biết như
thật về diệt đạo của thọ? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh
định. Đó là biết như thật về diệt đạo của thọ.
“Này Tôn giả Xá-lê
Tử, nếu có Tỳ-kheo biết như thật về thọ, biết như thật về tập của thọ,
diệt của thọ và diệt đạo của thọ như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành
thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi rằng:
“Hiền giả Đại
Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp
chăng?”
“Có, thưa Tôn giả
Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về xúc, biết như thật về tập của
xúc, diệt của xúc và diệt đạo của xúc.
“Thế nào là biết như
thật về xúc? Có ba xúc:
lạc xúc, khổ xúc và bất lạc bất khổ xúc. Đó là biết như thật về xúc.
“Thế nào là biết như
thật về tập của xúc? Do sáu xứ mà có xúc. Đó là biết như thật về tập của
xúc.
“Thế nào là biết như
thật về diệt của xúc? Sáu xứ diệt tức xúc diệt. Đó là biết như thật về
diệt của xúc.
“Thế nào là biết như
thật về diệt đạo của xúc? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến đến chánh định
là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của xúc.
“Này Tôn giả Xá-lê
Tử, nếu có Tỳ-kheo biết như thật về xúc, biết như thật về tập của xúc,
diệt của xúc và diệt đạo của xúc như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành
thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi rằng:
“Hiền giả Đại
Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp
chăng?”
“Có, thưa Tôn giả
Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về sáu xứ,
biết như thật về tập của sáu xứ, diệt của sáu xứ và diệt đạo của sáu xứ.
“Thế nào là biết như
thật về sáu xứ? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Đó là
biết như thật về sáu xứ.
“Thế nào là biết như
thật về tập của sáu xứ? Do danh sắc mà có sáu xứ. Đó là biết như thật về
tập của sáu xứ.
“Thế nào là biết như
thật về diệt của sáu xứ? Danh sắc diệt tức sáu xứ diệt. Đó là biết như
thật về diệt của sáu xứ.
“Thế nào là biết như
thật về diệt đạo của sáu xứ? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh
định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của sáu xứ.
“Này Tôn giả Xá-lê
Tử, nếu có Tỳ-kheo biết như thật về sáu xứ, biết như thật về tập của sáu
xứ, diệt của sáu xứ và diệt đạo của sáu xứ như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành
tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập
chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành
thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi rằng:
“Hiền giả Đại
Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp
chăng?”
“Có, thưa Tôn giả
Xá-lê Tử, đó là có Tỳ-kheo biết như thật về danh sắc,
biết như thật về tập của danh sắc, diệt của danh sắc và diệt đạo của danh
sắc.
“Thế nào là biết như
thật về danh sắc? Đó là bốn ấm phi sắc
là danh. Thế nào là biết về sắc? Bốn đại
và sắc do bốn đại tạo.
Đây là nói về sắc, trước đó nói về danh, đó là danh sắc. Đó là biết như
thật về danh sắc.
Thế nào là biết như
thật về tập của danh sắc? Do thức mà có danh sắc. Đó là biết như thật về
tập của danh sắc.
“Thế nào là biết như
thật về diệt của danh sắc? Thức diệt tức danh sắc diệt? Đó là biết như
thật về diệt của danh sắc.
Thế nào là biết như
thật về diệt đạo của danh sắc? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến
chánh định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của danh sắc.
“Này Tôn giả Xá-lê
Tử, nếu có Tỳ-kheo biết như thật về danh sắc, biết như thật về tập của
danh sắc, diệt của danh sắc và diệt đạo của danh sắc như vậy. Đó là
Tỳ-kheo đã thành tựu kiến được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh
và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lợi-phất
nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành
thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi rằng:
“Hiền giả Đại
Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp
chăng?”
“Có, thưa Tôn giả
Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về thức,
biết như thật về tập của thức, diệt của thức và diệt đạo của thức.
“Thế nào là biết như
thật về thức? Có sáu thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân
thức và ý thức. Đó là biết như thật về thức.
“Thế nào là biết như
thật về tập của thức? Do hành mà có thức. Đó là biết như thật về tập của
thức.
“Thế nào là biết như
thật về diệt của thức? Hành diệt tức thức diệt. Đó là biết như thật về
diệt của thức.
“Thế nào là biết như
thật về diệt đạo của thức? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh
định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của thức.
“Này Tôn giả Xá-lê
Tử, nếu có Tỳ-kheo biết như thật về thức, biết như thật về tập của thức,
diệt của thức và diệt đạo của thức như vậy, đó là Tỳ-kheo đã thành tựu
kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh
pháp
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành
thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi rằng:
“Hiền giả Đại
Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến,
được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp
chăng?”
“Có, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về hành,
biết như thật về tập của hành, diệt của hành và diệt đạo của hành.
“Thế nào là biết như
thật về hành? Có ba hành:
thân hành, khẩu hành và ý hành. Đó là biết như thật về hành.
“Thế nào là biết như
thật về tập của hành? Do vô minh mà có hành. Đó là biết như thật về tập
của hành.
“Thế nào là biết như
thật về diệt của hành? Vô minh diệt tức hành diệt. Đó là biết như thật về
diệt của hành.
“Thế nào là biết như
thật về diệt đạo của hành? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh
định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của hành.
“Này Tôn giả Xá-lê
Tử, nếu có Tỳ-kheo biết như thật về hành, biết như thật về tập của hành,
diệt của hành và diệt đạo của hành như vậy, đó là Tỳ-kheo đã thành tựu
kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh
pháp
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành
thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại
hỏi rằng:
“Hiền giả Đại
Câu-hi-la, nếu có Tỳ-kheo mà vô minh đã dứt, minh đã phát sanh, thì vị ấy
còn phải làm những gì nữa?”
Tôn giả Đại
Câu-hi-la trả lời rằng:
“Thưa Tôn giả Xá-lê
Tử, nếu có thầy Tỳ-kheo mà vô minh đã dứt, minh đã phát sanh, thì vị ấy
không còn gì phải làm nữa”.
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành
thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử
khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Hai vị Tôn giả cùng
nhau nói về nghĩa như vậy, thảy đều hoan hỷ phụng hành, từ chỗ ngồi đứng
dậy mà đi.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ Ba
21 |
22 |
23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
29
|
30 |
31
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003