SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM
THỨ
3
PHẨM
XÁ-LÊ
TỬ
TƯƠNG
ƯNG
27. KINH PHẠM CHÍ ĐÀ-NHIÊN[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Phật du hóa
tại thành Vương xá trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa, cùng chúng Đại Tỳ-kheo
an cư mùa mưa.
Bấy giờ Tôn giả Xá-lê Tử đang ở nước Xá-vệ cũng an cư mùa mưa.
Lúc ấy, có một Tỳ-kheo ở thành Vương xá, sau khi trải qua ba tháng an cư
mùa mưa xong, vá sửa lại các y, rồi xếp y, ôm bát từ thành Vương xá đi đến
nước Xá-vệ, ở trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.
Tỳ-kheo ấy đi đến
chỗ Tôn giả Xá-lê Tử, cúi đầu đảnh lễ dưới chân rồi ngồi sang một bên.
Tôn giả Xá-lê Tử
hỏi:
“Này Hiền giả, Thế
Tôn an cư tại thành Vương xá. Thánh thể có được an khang khỏe mạnh, không
bệnh tật, đi lại thoải mái, khí lực bình thường không?”
Vị Tỳ-kheo đáp:
“Thật vậy, bạch Tôn
giả Xá-lê Tử. Thế Tôn an cư tại thành Vương xá. Thánh thể được an khang
khỏe mạnh, không bệnh tật, đi lại thoải mái và khí lực bình thường”.
Lại hỏi:
“Này Hiền giả, đại chúng Tỳ-kheo và đại chúng Tỳ-kheo-ni an cư mùa mưa tại
thành Vương xá; Thánh thể có được an khang khỏe mạnh, không bệnh tật, đi
lại thoải mái, khí lực bình thường không? Có thường xuyên thăm viếng Đức
Phật và mong muốn được nghe pháp không?”
Đáp:
“Thật vậy, bạch Tôn giả Xá-lê Tử. Đại chúng Tỳ-kheo và đại chúng
Tỳ-kheo-ni an cư mùa mưa tại thành Vương xá; Thánh thể an khang khỏe mạnh,
không bệnh tật, đi lại thoải mái, khí lực bình thường. Có thường xuyên
thăm viếng Đức Phật và mong muốn được nghe pháp”.
Lại hỏi:
“Này Hiền giả, chúng
Ưu-bà-tắc và chúng Ưu-bà-di trú tại thành Vương xá, thân thể có được an
khang khỏe mạnh, không bệnh tật, đi lại thoải mái, khí lực bình thường
không? Có thường xuyên thăm viếng Đức Phật và mong muốn được nghe pháp
không?”
Đáp:
“Thật vậy, thưa Tôn
giả Xá-lê Tử. Chúng Ưu-bà-tắc và chúng Ưu-bà-di trú tại thành Vương xá,
thân thể có được an khang khỏe mạnh, không bệnh tật, đi lại thoải mái, khí
lực bình thường. Có thường xuyên thăm viếng Đức Phật và mong muốn được
nghe pháp”.
Lại hỏi:
“Này Hiền giả, tất
cả các Sa-môn, Phạm chí dị học an cư mùa mưa tại thành Vương xá, thân thể
có được an khang khỏe mạnh, không bệnh tật, đi lại thoải mái, khí lực bình
thường không? Có thường xuyên thăm viếng Đức Phật và mong muốn được nghe
pháp không?”
Trả lời rằng:
“Thật vậy, thưa Tôn
giả Xá-lê Tử, tất cả các Sa-môn, Phạm chí dị học an cư mùa mưa tại thành
Vương xá, thân thể có được an khang khỏe mạnh, không bệnh tật, đi lại
thoải mái, khí lực bình thường. Có thường xuyên thăm viếng Đức Phật và
mong muốn được nghe pháp”.
Lại hỏi rằng:
“Này Hiền giả, tại thành Vương xá có một Phạm chí tên là Đà-nhiên,
vốn là bạn của tôi trước kia tôi chưa xuất gia;
Hiền giả có biết vị ấy không?”
Trả lời rằng:
“Thưa có biết”.
Lại hỏi rằng:
“Hiền giả, Phạm chí
Đà-nhiên ở thành Vương xá, thân thể có được an khang khỏe mạnh, không bệnh
tật, đi lại thoải mái, khí lực bình thường không? Có thường xuyên thăm
viếng Đức Phật và mong muốn được nghe pháp không?”
Đáp:
“Tôn giả Xá-lê Tử, Phạm chí Đà-nhiên ở thành Vương xá thân thể an khang
khỏe mạnh, không bệnh tật, đi lại thoải mái, khí lực bình thường, nhưng
không muốn thăm viếng Đức Phật và không ưa nghe pháp”.
“Vì sao thế?”
“Tôn giả Xá-lê Tử,
Phạm chí Đà-nhiên không tinh tấn, phạm vào các cấm giới. Ông ấy dựa thế
vua để dối gạt
các Phạm chí, cư sĩ; dựa thế các Phạm chí, cư sĩ để dối gạt vua”.
Tôn giả Xá-lê Tử
nghe rồi, và ba tháng an cư mùa mưa ở nước Xá-vệ đã qua, sau khi vá sửa
các y, ngài xếp y, ôm bát từ nước Xá-vệ đi đến thành Vương xá, ở trong
rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa.
Bấy giờ đêm đã qua,
vào lúc sáng sớm, Tôn giả Xá-lê Tử, khoac y, ôm bát vào thành Xá-vệ lần
lượt đi khất thực. Sau khi khất thực xong, ngài đi đến nhà của Phạm chí
Đà-nhiên.
Lúc ấy, Phạm chí
Đà-nhiên từ nhà đi ra, đến bên bờ suối, đang hành hạ cư dân.
Phạm chí Đà-nhiên từ xa trông thấy Tôn giả Xá-lê Tử, liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, trịch vai sửa áo, chắp tay hướng đến Tôn giả giả Xá-lê Tử mà tán thán
rằng:
“Kính chào Xá-lê Tử,
đã lâu lắm rồi Xá-lê Tử không đến đây”.
Rồi Phạm chí
Đà-nhiên, với lòng cung kính, ôm Tôn giả Xá-lê Tử dìu vào nhà, trải giường
đẹp mà mời ngồi. Tôn giả Xá-lê Tử liền ngồi trên giường đó. Phạm chí
Đà-nhiên thấy Tôn giả Xá-lê Tử đã ngồi xuống, liền bưng một cái chậu sữa
bằng vàng
mời Tôn giả Xá-lê Tử ăn. Tôn giả Xá-lê Tử nói:
“Thôi, thôi,
Đà-nhiên, chỉ trong lòng vui là đủ”.
Phạm chí Đà-nhiên
lặp lại ba lần mời ăn. Tôn giả Xá-lê Tử cũng ba lần nói rằng:
“Thôi, thôi,
Đà-nhiên, chỉ trong lòng vui là đủ”.
Lúc đó Phạm chí
Đà-nhiên nói rằng:
“Xá-lê Tử, cớ gì vào
nhà như thế này mà chẳng chịu ăn?”
Đáp:
“Này Đà-nhiên, ông
không tinh tấn lại phạm vào các giới cấm. Dựa thế vào vua để dối gạt Phạm
chí, Cư sĩ; dựa thế Phạm chí, Cư sĩ để dối gạt vua”.
Phạm chí Đà-nhiên
trả lời rằng:
“Xá-lê Tử, nên biết, nay tôi còn sống tại gia, lấy gia nghiệp làm bổn
phận. Tôi còn phải lo cho mình được an ổn, cung cấp cha mẹ, săn sóc vợ
con, cung cấp nô tỳ, phải nộp thuế cho vua, thờ tự thiên thần, cúng tế tổ
tiên, và còn phải bố thí cho các Sa-môn, Phạm chí để sau này còn được sanh
lên các cõi trời, mong được trường thọ, được quả báo an lạc. Xá-lê Tử, các
việc ấy không thể nào bỏ đi, một mực theo đúng pháp”.
Bấy giờ Tôn giả
Xá-lê Tử bảo rằng:
“Này Đà-nhiên, nay tôi hỏi ông, tùy theo sự hiểu biết mà trả lời. Phạm chí
Đà-nhiên, ông nghĩ thế nào? Nếu có người vì cha mẹ mà tạo các việc ác; vì
tạo ác nên khi thân hoại mạng chung, đi thẳng vào cõi ác, sanh vào địa
ngục. Sanh vào địa ngục rồi, khi ngục tốt bắt trói hành hạ rất khổ sở,
người ấy hướùng về phía ngục tốt mà nói thế này: ‘Ngục tốt, hãy biết cho,
chớ hành hạ tôi. Vì sao thế? Tôi đã vì cha mẹ tạo các nghiệp ác’. Thế nào,
Đà-nhiên, người ấy có thể nào từ ngục tốt mà thoát khỏi sự khổ sở ấy
không?”
Phạm chí Đà-nhiên
trả lời rằng:
“Không thể”.
Lại hỏi:
“Này Đà-nhiên, ông
nghĩ thế nào? Nếâu có người vì vợ con mà tạo các việc ác, vì tạo ác nên
khi thân hoại mạng chung, đi thẳng vào cõi ác, sanh vào địa ngục. Sanh vào
địa ngục rồi, khi ngục tốt bắt trói hành hạ rất khổ sở, người ấy hướùng về
phía ngục tốt mà nói thế này: ‘Ngục tốt, hãy biết cho, chớ hành hạ tôi. Vì
sao thế? Tôi đã vì vợ con tạo các nghiệp ác’. Thế nào, Đà-nhiên, người ấy
có thể nào từ ngục tốt mà thoát khỏi sự khổ sở ấy không?”
Phạm chí Đà-nhiên
trả lời rằng:
“Không thể”.
Lại hỏi:
“Này Đà-nhiên, ông
nghĩ thế nào? Nếu có người vì nô tỳ mà tạo các việc ác, vì tạo ác nên khi
thân hoại mạng chung, đi thẳng vào cõi ác, sanh vào địa ngục. Sanh vào địa
ngục rồi, khi ngục tốt bắt trói hành hạ rất khổ sở, người ấy hướng về phía
ngục tốt mà nói thế này: ‘Ngục tốt, hãy biết cho, chớ hành hạ tôi. Vì sao
thế? Tôi đã vì nô tỳ tạo các nghiệp ác’. Thế nào, Đà-nhiên, người ấy có
thể nào từ ngục tốt mà thoát khỏi sự khổ sở ấy không?”
Phạm chí Đà-nhiên
trả lời rằng:
“Không thể”.
Lại hỏi:
“Này Đà-nhiên, ông
nghĩ thế nào? Nếâu có người vì quốc vương, vì thiên thần, vì tổ tiên, vì
Sa-môn, Phạm chí mà tạo các việc ác, vì tạo ác nên khi thân hoại mạng
chung, đi thẳng vào cõi ác, sanh vào địa ngục. Sanh vào địa ngục rồi, khi
ngục tốt bắt trói hành hạ rất khổ sở, người ấy hướùng về phía ngục tốt mà
nói thế này: ‘Ngục tốt, hãy biết cho,
chớ hành hạ tôi. Vì sao thế? Tôi đã vì quốc vương, vì thiên thần, vì tổ
tiên, vì Sa-môn, Phạm chí mà tạo các nghiệp ác’. Thế nào, Đà-nhiên, người
ấy có thể nào từ ngục tốt mà thoát khỏi sự khổ sở ấy không?”
Phạm chí Đà-nhiên
trả lời rằng:
“Không thể”.
“Này Đà-nhiên, một
tộc tánh tử,
vẫn có thể như pháp, như nghiệp, như
công đức
mà làm ra tiền của, để tôn trọng kính phụng, hiếu dưỡng cha mẹ, làm các
việc phước đức chớ chẳng gây nghiệp ác.
Này Đà-nhiên, nếu
một tộc tánh tử như pháp, như nghiệp, như công đức, mà làm ra tiền của, để
tôn trọng, kính phụng, hiếu dưỡng cha mẹ, làm các việc phước đức chớ chẳng
gây nghiệp ác. Đà-nhiên, nếu một tộc tánh tử như pháp, như nghiệp, như
công đức mà làm ra tiền của, để tôn trọng kính phụng, hiếu dưỡng cha mẹ,
làm các việc phước đức chớ chẳng gây nghiệp ác, người ấy được cha mẹ
thương yêu và nói thế này: ‘Mong cho con được mạnh khỏe, sống lâu vô cùng.
Vì sao thế?Vì ta nhờ con nên được an ổn khoái lạc’. Này Đà-nhiên, nếu
người nào được cha mẹ thương yêu rất mực, đức người đó ngày càng tăng
thêm, không bao giờ suy giảm.
“Này Đà-nhiên, một
tộc tánh tử, vẫn có thể như pháp, như nghiệp, như công đức mà làm ra tiền
của, yêu thương và săn sóc vợ con, làm các nghiệp phước đức chớ chẳng gây
nghiệp ác.
“Này Đà-nhiên, nếu một tộc tánh tử như pháp, như nghiệp, như công đức, mà
làm ra tiền của, yêu thương và săn sóc vợ con, làm các nghiệp phước đức
chớ chẳng gây nghiệp ác, thì người ấy được vợ con tôn trọng, và nói thế
này: ‘Mong cho tôn trưởng được mạnh khỏe, sống lâu vô cùng. Vì sao thế? Vì
chúng tôi nhờ tôn trưởng nên được an ổn khoái lạc’. Này Đà-nhiên, nếu
người nào được vợ con tôn trọng rất mực, đức người đó ngày càng tăng thêm,
không bao giờ suy giảm.
“Này Đà-nhiên, một
tộc tánh tử, vẫn có thể như pháp, như nghiệp, như công đức mà làm ra tiền
của, yêu thương, chu cấp và săn sóc nô tỳ, làm các nghiệp phước đức chớ
chẳng gây nghiệp ác.
“Này Đà-nhiên, nếu
một tộc tánh tử như pháp, như nghiệp, như công đức, mà làm ra tiền của,
yêu thương, chu cấp và săn sóc nô tỳ, làm các nghiệp phước đức chớ chẳng
gây nghiệp ác, thì người ấy được nô tỳ tôn trọng, và nói thế này: ‘Mong
cho đại gia được mạnh khỏe, sống lâu vô cùng. Vì sao thế? Vì chúng tôi nhờ
đại gia nên được an ổn’. Này Đà-nhiên, nếu người nào được nô tỳ tôn trọng
rất mực, đức người đó ngày càng tăng thêm, không bao giờ suy giảm.
“Này Đà-nhiên, một tộc tánh tử, vẫn có thể như pháp, như nghiệp, như công
đức mà làm ra tiền của, tôn trọng cúng dường các vị Sa-môn, Phạm chí, làm
các nghiệp phước đức chớ chẳng gây nghiệp ác.
“Này Đà-nhiên, nếu
một tộc tánh tử như pháp, như nghiệp, như công đức, mà làm ra tiền của,
tôn trọng cúng dường các vị Sa-môn, Phạm chí, làm các nghiệp phước đức chớ
chẳng gây nghiệp ác, thì người ấy được các Sa-môn, Phạm chí yêu mến rất
mực, và nói thế này: ‘Mong cho thí chủ được mạnh khỏe, sống lâu vô cùng.
Vì sao thế? Vì chúng tôi nhờ thí chủ nên được an hưởng khoái lạc’. Này
Đà-nhiên, nếu người nào được các Sa-môn, Phạm chí yêu mến rất mực, đức
người đó ngày càng tăng thêm, không bao giờ suy giảm”.
Bấy giờ Phạm chí
Đà-nhiên liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa áo, chắp tay hướng về
phía Xá-lê Tử thưa rằng:
“Thưa Tôn giả Xá-lê
Tử, tôi có người vợ yêu tên là Đoan Chánh.
Tôi vì say mê nó nên đã buông lung, tạo quá nhiều ác nghiệp tội lỗi. Thưa
Tôn giả Xá-lê Tửû, bắt đầu từ đây tôi bỏ người vợ Đoan Chánh kia, xin quy
y với Tôn giả Xá-lê Tử”.
Tôn giả Xá-lê Tử trả
lời rằng:
“Này Đà-nhiên, ông
chớ quy y tôi. Ông nên quy y nơi Phật là Đấng mà tôi quy y”.
Phạm chí Đà-nhiên
thưa rằng:
“Thưa Tôn giả Xá-lê
Tử, từ hôm nay tôi xin quy y Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo. Cúi mong Tôn giả
Xá-lê Tử nhận tôi làm Ưu-bà-tắùc của Phật; trọn đời xin tự quy y cho đến
mạng chung”.
Thế rồi Tôn giả
Xá-lê Tử thuyết pháp cho Phạm chí Đà-nhiên, khuyên bảo, khích lệ, thành
tựu hoan hỷ. Sau khi dùng vô lượng phương tiện để thuyết pháp khuyên bảo,
khích lệ, thành tựu hoan hỷ. Ngài liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến thành
Vương xá.
Ở đây được vài ngày,
ngài xếp y, ôm bát rời thành Vương xá ra đi, đến Nam sơn,
trụ trong rừng Thi-nhiếp-hòa,
thuộc phía Bắc thôn Nam sơn.
Bấy giờ có một vị
Tỳ-kheo đi đến thành Vương xá. Ở đây được vài ngày, xếp y ôm bát từ thành
Vương xá ra đi, đến
Nam
sơn cũng trụ trong rừng Thi-nhiếp-hòa, thuộc phía Bắc thôn Nam sơn.
Rồi vị Tỳ-kheo ấy đi
đến chỗ Tôn giả Xá-lê Tử, cúi đầu đảnh lễ dưới chân rồi ngồi sang một bên.
Tôn giả Xá-lê Tử hỏi rằng:
“Hiền giả từ nơi nào
tới đây và du hành ở đâu?”
Tỳ-kheo ấy trả lời
rằng:
“Bạch Tôn giả Xá-lê
Tử, tôi từ thành Vương xá đi đến đây và du hành ở thành Vương xá”.
Lại hỏi rằng:
“Hiền giả ngài có
biết Phạm chí Đà-nhiên ở thành Vương xá, vốn là bạn của tôi xưa kia lúc
tôi chưa xuất gia không?”
“Thưa có biết”.
Lại hỏi rằng:
“Này hiền giả, Phạm
chí Đà-nhiên ở thành Vương xá, thân thể có được an khang khỏe mạnh, không
bệnh tật, đi lại thoải mái, khí lực bình thường và có thường thăm viếng
Đức Phật và mong muốn được nghe pháp không?”
Trả lời rằng:
“Bạch Tôn giả
Xá-lợi-phất, Phạm chí Đà-nhiên thường đến thăm viếng Đức Phật và mong muốn
được nghe pháp; nhưng không được khỏe mạnh, khí lực dần dần suy yếu. Vì
sao vậy? Bạch Tôn giả Xá-lê Tử, hiện giờ Phạm chí Đà-nhiên mang tật bệnh
rất khốn khổ, nguy hiểm khôn chừng, do đó có thể mạng chung”.
Tôn giả Xá-lê Tử nghe xong lời ấy, liền xếp y ôm bát rời Nam sơn ra đi,
đến thành Vương xá, trú trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa. Bấy giờ đêm đã
qua, vào lúc sáng sớm, Tôn giả Xá-lê Tử khoác y, ôm bát đi đến nhà Phạm
chí Đà-nhiên. Phạm chí Đà-nhiên từ đằng xa trông thấy Tôn giả Xá-lê Tử đi
đến, muốn rời giường đứng dậy. Tôn giả Xá-lê Tử thấy Phạm chí Đà-nhiên
muốn rời giường đứng dậy, liền ngăn ông ấy rằng:
“Này Phạm chí
Đà-nhiên, ông cứ nằm, đừng đứng dậy. Đã có giường khác đây, rồi tôi sẽ
ngồi riêng”.
Bấy giờ Tôn giả
Xá-lê Tử liền ngồi xuống giường ấy, rồi bảo rằng:
“Hôm nay bệnh tình
ra sao? Ăn uống được nhiều ít? Sự đau đớn bớt dần, không đến nỗi tăng thêm
chăng?”
Đà-nhiên trả lời
rằng:
“Bệnh tình con rất
là khốn đốn, ăn uống chẳng được gì cả; đau đớn chỉ tăng thêm mà không thấy
giảm bớt tí nào. Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, giống như người lực sĩ đem con dao
bén nhọn đâm vào đầu, chỉ sanh sự khốn khổ quá mức thôi. Đầu con hôm nay
cũng nhức nhối giống như vậy. Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, cũng như lực sĩ lấy
sợi dây thừng chắt đem quấn riết chung quanh đầu, chỉ sanh sự khốn khổ quá
mức. Đầu con hôm nay cũng nhức nhối giống như vậy. Thưa Tôn giả Xá-lê Tử,
cũng như người mổ trâu, đem con dao bén mổ bụng trâu, chỉ sanh sự đau đớn
quá mức. Bụng con hôm nay cũng quặn đau giống như vậy. Thưa Tôn giả Xá-lê
Tử, cũng như hai lực sĩ bắt một người ốm yếu đem nướng trên ngọn lửa, chỉ
sanh ra sự đau khổ đến cùng cực. Thân thể con hôm nay đau đớn, cả mình
sanh ra khổ sở, chỉ tăng thêm chớ không giảm bớt; cũng giống như vậy”.
Tôn giả Xá-lê Tử bảo
rằng:
“Này Đà-nhiên, bây
giờ tôi hỏi ông, tùy sự hiểu biết mà ông trả lời. Này Phạm chí Đà-nhiên,
địa ngục và súc sanh, nơi nào tốt đẹp hơn?”
Đà-nhiên trả lời
rằng:
“Súc sanh tốt đẹp
hơn”.
Lại hỏi rằng:
“Này Đà-nhiên, súc
sanh và ngạ quỉ, loài nào tốt đẹp hơn?”
Đà-nhiên trả lời
rằng:
“Ngạ quỉ tốt đẹp
hơn”.
Lại hỏi rằng:
“Này Đà-nhiên, ngạ
quỉ và loài người, loài nào tốt đẹp hơn?”
Đà-nhiên trả lời
rằng:
“Loài người tốt đẹp
hơn”.
Lại hỏi rằng:
“Này Đà-nhiên, người
và Tứ vương thiên, cõi nào tốt đẹp hơn?”
Đà-nhiên trả lời
rằng:
“Tứ thiên vương tốt
đẹp hơn”.
Lại hỏi rằng:
Này Đà-nhiên, Tứ vương thiên và Tam thập tam thiên, cõi nào tốt đẹp?
Đà-nhiên trả lời
rằng:
“Tam thập tam thiên
tốt đẹp hơn”.
Lại hỏi rằng:
“Tam thập tam thiên
với Diệm ma thiên cõi nào tốt đẹp hơn?”
Đà-nhiên trả lời
rằng:
“Diệâm ma thiên tốt
đẹp hơn.”
Lại hỏi rằng:
“Này Đà-nhiên, Diệâm
ma thiên với Đâu-suất-đà thiên, cõi nào tốt đẹp hơn?”
Đà-nhiên trả lời
rằng:
“Đâu-suất-đà thiên
tốt đẹp hơn”.
Lại hỏi rằng:
“Này Đà-nhiên,
Đâu-suất-đà thiên với Hóa lạc thiên cõi nào tốt đẹp hơn?”
Đà-nhiên trả lời
rằng:
“Hóa lạc thiên tốt
đẹp hơn”.
Lại hỏi rằng:
“Này Đà-nhiên, Hóa
lạc thiên với Tha hóa lạc thiên, cõi nào tốt đẹp hơn?”
Đà-nhiên trả lời
rằng:
“Này Đà-nhiên, Tha hóa lạc thiên với Phạm thiên cõi nào tốt đẹp hơn?”
Đà-nhiên trả lời
rằng:
“Phạm thiên là tốt
đẹp hơn cả. Phạm thiên là tối thắng”.
Tôn giả Xá-lê Tử bảo
rằng:
“Đức Thế Tôn là bậc
tri kiến, là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác, có nói về bốn Phạm thất.
Nếu một tộc tánh nam tử hay một tộc tánh nữ nào tu tập nhiều, đoạn dục, xả
niệm tưởng về dục, khi thân hoại mạng chung sẽ sanh lên cõi Phạm thiên.
Những gì là bốn?
“Này Đà-nhiên, Thánh đệ tử đa văn có tâm câu hữu với từ, biến mãn một
phương, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, với hai, ba bốn phương, tứ duy và
thượng hạ, thấu khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không oán,
không sân hận, không não hại, bao la, quảng đại, vô lượng, khéo tu tập,
biến mãn khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, tâm câu hữu
với bi, hỷ; với xả, biến mãn một phương, thành tựu và an trụ. Cũng vậy,
với hai, ba bốn phương, tứ duy và thượng hạ, thấu khắp tất cả, tâm câu hữu
với từ, không kết, không oán, không sân hận, không não hại, bao la, quảng
đại, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn khắp tất cả thế gian, thành tựu và an
trụ. Đà-nhiên, đó là Đức Thế Tôn, là Bậc Tri Kiến, là Như Lai, Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác, có nói về bốn Phạm thất. Nếu một tộc tánh nam tử
hay một tộc tánh nữ nào tu tập nhiều, đoạn dục, xả niệm tưởng về dục, khi
thân hoại mạng chung sẽ sanh lên cõi Phạm thiên”.
Bấy giờ, sau khi giáo hóa cho Đà-nhiên, nói về pháp Phạm thiên, Tôn giả
Xá-lê Tử từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi. Tôn giả Xá-lê Tử từ thành Vương xá
đi, chưa đến Trúc lâm vườn Ca-lan-đa, đang nửa đường ấy, Phạm chí Đà-nhiên
do tu tập bốn Phạm thất, đoạn dục, xả dục niệm, thân hoại mạng chung sanh
lên cõi Phạm thiên.
Bấy giờ Đức Thế Tôn
đang thuyết pháp cho vô lượng đại chúng đang vây quanh trước sau. Đức Thế
Tôn thấy Tôn giả Xá-lê Tử từ đàng xa đi tới, nói với các thầy Tỳ-kheo
rằng:
“Tỳ-kheo Xá-lê Tử là bậc thông tuệ, tốc tuệ, tiệp tuệ, lợi tuệ, quảng tuệ,
thâm tuệ, xuất yếu tuệ, minh đạt tuệ, biện tài tuệ;
Tỳ-kheo Xá-lê Tử đã thành tựu thật tuệ. Tỳ-kheo Xá-lê Tử đã
giáo hóa Phạm chí Đà-nhiên, nói về Phạm thiên rồi mới về đây. Nếu lại giáo
hóa cao hơn nữa thì người kia mau biết pháp, như pháp”.
Bấy giờ Tôn giả
Xá-lê Tử đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân rồi ngồi sang một bên.
Đức Thế Tôn bảo rằng:
“Này Xá-lê Tử, vì
sao ông không giáo hóa Phạm chí Đà-nhiên bằng một pháp cao hơn Phạm thiên?
Nếu ông giáo hóa cao hơn thì người kia sẽ mau biết pháp, như pháp”.
Tôn giả Xá-lê Tử
thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, các
Phạm chí từ lâu đời ái trước Phạm thiên, ưa thích Phạm thiên, cho Phạm
thiên là rốt ráo, Phạm thiên là tôn quý, thật có Phạm thiên là Phạm thiên
của ta. Do đó, bạch Thế Tôn, nên con đã giáo hóa như vậy”.
Phật thuyết như vậy.
Tôn giả Xá-lê Tử và vô lượng trăm nghìn đại chúng, sau khi nghe Phật
thuyết, hoan hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ Ba
21 |
22 |
23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
29
|
30 |
31
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003