SỐ 26 – KINH TRUNG
A-HÀM (I)
Hán dịch:
Phật Đà
Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú:
Thích Tuệ
Sỹ
---o0o---
PHẨM
THỨ
2
PHẨM
NGHIỆP
TƯƠNG
ƯNG
20. KINH BA-LA-LAO[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một thời Phật du hóa ở Câu-lệ-sấu,
cùng với chúng Đại Tỳ-kheo, đi đến Bắc thôn,
trú ở phía Bắc của thôn trong rừng Thi-nhiếp-hòa.
Bấy giờ Ba-la-lao Già-di-ni
nghe rằng: “Sa-môn Cù-đàm thuộc dòng họ Thích, đã từ bỏ dòng họ Thích,
xuất gia học đạo, đang du hóa tại Câu-lệ-sấu cùng chúng Đại Tỳ-kheo đi đến
Bắc thôn, trú ở phía Bắc của thôn trong rừng Thi-nhiếp-hòa. Vị Sa-môn
Cù-đàm ấy có tiếng tăm lớn, truyền khắp mười phương rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm
là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu. Vị
ấy ở trong thế gian này giữa chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ
loài người cho đến loài trời, tự tri tự giác, tự tác chứng, thành tựu và
an trụ. Pháp mà vị ấy thuyết, khoảng đầu thiện, khoảng giữa thiện, cứu
cánh cũng thiện, có nghĩa, có văn, hiển hiện phạm hạnh thanh tịnh trọn
đủ’. Nếu gặp được Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, để tôn trọng,
lễ bái cúng dường, thừa sự, thì sẽ được nhiều thiện lợi”. Người kia suy
nghĩ rằng: “Ta nên đến yết kiến Sa-môn Cù-đàm để lễ bái, cúng dường”.
Ba-la-lao Già-di-ni nghe vậy rồi, ra khỏi Bắc thôn, đi về hướng Bắc, đến
rừng Thi-nhiếp-hòa, muốn yết kiết Thế Tôn để lễ bái cúng dường. Ba-la-lao
Già-di-ni từ xa trông thấy Thế Tôn ở trong rừng cây, đoan nghiêm đẹp đẽ,
như mặt trăng giữa đám tinh tú sáng ngời chói lọi, rực rỡ như tòa núi
vàng, đầy đủ tướng hảo, uy thần vời vợi, các căn tịch tịnh, không gì ngăn
che, thành tựu sự điều ngự, tâm yên tĩnh lặng. Ba-la-lao Già-di-ni từ xa
trông thấy Đức Thế Tôn rồi, đến trước chỗ Thế Tôn, cùng chào hỏi rồi ngồi
xuống một phía, thưa với Thế Tôn rằng:
“Tôi nghe Sa-môn
Cù-đàm biết huyễn thuật, là nhà huyễn thuật.
Thưa Cù-đàm, nếu ai nói như vậy: ‘Sa-môn Cù-đàm biết huyễn thuật, là nhà
huyễn thuật’, người ấy không hủy báng Sa-môn Cù-đàm chăng? Người ấy có nói
đúng sự thật không? Người ấy nói có đúng pháp chăng? Người ấy nói đúng
pháp và như pháp
chăng? Đối với như pháp, không có sai lầm và không bị chỉ trích chăng?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Này Già-di-ni, nếu
có ai nói như vầy, ‘Sa-môn Cù-đàm biết huyễn thuật, là nhà huyễn thuật’,
thì người ấy không hủy báng Sa-môn Cù-đàm, người ấy nói chân thật, ngươi
ấy nói đúng pháp, người ấy nói pháp như pháp, đối với pháp không có lỗi
lầm, không bị chỉ trích. Vì sao thế? Này Già-di-ni, Ta biết huyễn thuật
ấy, nhưng chính Ta không phải là nhà huyễn thuật”.
Già-di-ni nói rằng:
“Những điều các
Sa-môn, Phạm chí kia nói là chân thật, nhưng tôi không tin họ nói rằng
‘Sa-môn Cù-đàm biết huyễn thuật và là nhà huyễn thuật”.
Thế Tôn nói:
“Này Già-di-ni, nếu
người nào biết huyễn thuật thì người đó là nhà huyễn thuật chăng?”
Già-di-ni thưa rằng:
“Quả thật vậy, Thế Tôn. Quả thật vậy, Thiện Thệ”.
Thế Tôn bảo rằng:
“Này Già-di-ni, ông
đừng tự lầm lẫn mà hủy báng Ta. Nếu hủy báng Ta thì chỉ tự gây tổn hại, có
sự não hại, có xúc phạm, điều mà Hiền Thánh ghét bỏ, và bị tội lớn. Vì sao
thế? Này Già-di-ni, điều ấy thật ra không đúng như lời ông nói. Này
Già-di-ni, ông có nghe Câu-lệ-sấu có binh tốt
chăng?
Già-di-ni đáp rằng:
“Tôi nghe rằng có”.
“Này Già-di-ni, ông nghĩ thế nào, Câu-lệ-sấu có binh tốt ấy để làm gì?”
Già-di-ni đáp:
“Thưa Cù-đàm, để làm
thông sứ và giết giặc cướp. Vì việc đó nên Câu-lệ-sấu nuôi các binh tốt
ấy”.
“Này Già-di-ni, ông
nghĩ thế nào, binh tốt Câu-lệ-sấu có giữ giới cấm hay không giữ giới cấm?”
Già-di-ni đáp:
“Thưa Cù-đàm, nếu
trên thế gian này có những người không giữ giới cấm, vẫn không thể quá hơn
binh tốt Câu-lệ-sấu. Vì sao thế? Vì binh tốt Câu-lệ-sấu phạm rất nhiều
giới cấm, chỉ làm các ác pháp”.
Lại hỏi:
“Ông thấy như vậy,
biết như vậy, ta không hỏi ông. Nếu có người khác hỏi ông, ‘Vì Già-di-ni
biết rằng binh tốt Câu-lệ-sấu phạm rất nhiều những giới cấm, chỉ làm những
ác pháp; nhân việc đó nên Già-di-ni cũng phạm rất nhiều cấm giới, chỉ làm
các ác pháp’. Nên nói như vậy, là lời nói đúng sự thật chăng?”
Già-di-ni đáp:
“Không phải vậy,
thưa Cù-đàm. Vì sao thế? Vì binh tốt Câu-lệ-sấu có tri kiến khác, có sở
nguyện khác, nên binh tốt Câu-lệ-sấu phạm rất nhiều cấm giới, chỉ làm các
ác pháp. Còn tôi thì rất trì giới, không làm các ác pháp”.
Lại hỏi:
“Già-di-ni, ông biết
binh tốt Câu-lệ-sấu phạm rất nhiều cấm giới, chỉ làm các ác pháp, nhưng
ông không do đó mà phạm cấm giới, chỉ làm các ác pháp. Vậy thì vì sao
không thể rằng Như Lai biết huyễn thuật, trong khi chính mình không phải
là nhà huyễn thuật. Vì sao thế? Ta biết huyễn thuật, biết người huyễn
thuật, biết quả báo của huyễn thuật, biết đoạn trừ huyễn thuật.
“Này Già-di-ni, Ta
cũng biết sát sanh, biết người sát sanh, biết sự đoạn trừ sát sanh. Này
Già-di-ni, Ta biết việc lấy của không cho, biết người lấy của không cho,
biết quả báo việc lấy của không cho, biết sự đoạn trừ việc lấy của không
cho. Này Già-di-ni, Ta biết việc nói dối, biết người nói dối, biết quả báo
việc nói dối, biết đoạn trừ sự nói dối. Này Già-di-ni, Ta biết như vậy,
thấy như vậy. Ai nói như vầy: ‘Sa-môn Cù-đàm biết huyễn thuật tức là nhà
huyễn thuật’, nếu người ấy chưa đoạn trừ lời nói này, mà nghe tâm ấy, dục
ấy, nguyện ấy, văn ấy, niệm ấy, quán ấy, thì trong khoảnh khắc như co duỗi
cánh tay, mạng chung sanh vào địa ngục”.
Già-di-ni nghe vậy,
kinh hãi khủng khiếp, lông trên mình dựng đứng lên, liền từ chỗ ngồi đứng
dậy đảnh lễ chân Phật, quỳ mọp, chắp tay hướng về Thế Tôn mà bạch rằng:
“Cù-đàm, tôi ăn năn
tội lỗi. Thiện Thệ, tôi tự thú.
Tôi như ngu, như si, như bất định, như bất thiện. Vì sao thế? Vì tôi nói
quấy rằng Sa-môn Cù-đàm là nhà huyễn thuật. Mong Thiện Thệ cho tôi được ăn
năn tội lỗi, thấy tội thì bày tỏ. Tôi đã ăn năn tội rồi, sẽ giữ gìn không
để tái phạm nữa”.
Thế Tôn bảo rằng:
“Thật như vậy,
Già-di-ni, ông quả thật ngu, như si, như bất định, như bất thiện. Vì sao
thế? Vì ông đối với Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, mà nói quấy là
nhà huyễn thuật. Nhưng ông có thể ăn năn tội lỗi, thấy tội thì nên bày tỏ,
giữ gìn không để tái phạm nữa. Như vậy, này Già-di-ni, nếu có người ăn năn
tội lỗi, thấy tội nên bày tỏ, hộ trì mà không tạo lại nữa, thì trưởng
dưỡng Thánh pháp, không còn có sự sai lầm nữa”.
Lúc đó Già-di-ni
chắp tay hướng về Đức Thế Tôn mà bạch rằng:
“Thưa Cù-đàm, có
Sa-môn, Phạm chí, thấy thế này, nói thế này: ‘Nếu kẻ nào sát sanh, kẻ ấy
nhất thiết thọ báo ngay trong đời này; nhân đó mà sanh ra ưu khổ. Nếu kẻ
nào lấy của không cho, nói dối, kẻ ấy nhất thiết thọ báo; nhân đó mà sanh
ra ưu khổ’. Thưa Sa-môn Cù-đàm, ý Ngài nghĩ sao?”
Đức Thế Tôn bảo
rằng:
Này Già-di-ni, nay
Ta hỏi ông, tùy sự hiểu biết mà trả lời. Này Già-di-ni, ý ông nghĩ sao?
Nếu trong thôn ấp, hoặc có một người đầu đội tràng hoa, dùng nhiều loại
hương xoa vào thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích, vui cười nữ
sắc, hoan lạc như vua. Nếu có người hỏi rằng: ‘Người này trước kia làm
những gì mà nay đầu đội tràng hoa, hoặc dùng nhiều loại hương xoa vào thân
rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích, vui cười nữ sắc, hoan lạc như
vua?’ Hoặc có người trả lời rằng: ‘Người ấy vì Quốc vương mà giết hại kẻ
thù. Quốc vương sau khi vui vẻ liền ban thưởng cho. Do đó người ấy đầu đội
tràng hoa, dùng nhiều loại hương xoa vào thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự
mình thỏa thích, vui cười nữ sắc, hoan lạc như vua. “Này Già-di-ni, ông có
thấy như vậy, nghe như vậy chăng?”
Già-di-ni đáp:
“Tôi có thấy như
vậy, nghe như vậy, Cù-đàm. Tôi đã nghe và sẽ được nghe nữa”.
“Già-di-ni, rồi lại
thấy Quốc vương bắt bớ tội nhân, trói quặt hai tay lại, đánh trống, xướng
lệnh, kéo ra cửa thành phía Nam, để ngồi dưới cây nêu cao, rồi chém bêu
đầu. Nếu có người hỏi rằng: ‘Người này phạm tội gì mà bị Quốc vương giết
nhỉ?’ Hoặc có người trả lời rằng: ‘Người này giết lầm người vô tội trong
Vương gia, do đó Quốc vương ra lệnh hành hình như vậy’. Này Già-di-ni, ông
có thấy như vậy, nghe như vậy chăng?”
Già-di-ni trả lời:
“Tôi có thấy như vậy, Cù-đàm, tôi đã nghe và sẽ được nghe nữa”.
“Này Già-di-ni, nếu
có Sa-môn, Phạm chí, thấy như vậy, nói như vậy: ‘Nếu có người nào sát sanh
người ấy nhất thiết phải thọ báo ngay trong hiện tại này; nhân đó mà sanh
ra ưu khổ’, thì đó là lời nói chân thật hay lời nói hư dối?”
Già-di-ni đáp:
“Đó là lời nói hư
dối, thưa Cù-đàm”.
“Nếu người ấy nói hư
vọng, ông có tin chăng?”
Già-di-ni đáp:
“Tôi không tin, thưa
Cù-đàm”.
Đức Thế Tôn khen
rằng:
“Lành thay,
Già-di-ni, Ta lại hỏi ông, ông nghĩ thế nào? Nếu trong thôn ấp, hoặc có
người đầu đội tràng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa vào thân, rồi xướng
nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích, vui chơi nữ sắc, hoan lạc như vua. Nếu có
người hỏi rằng: ‘Người này trước kia đã làm những việc gì mà nay đầu đội
tràng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa vào
thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích vui chơi nữ sắc, hoan lạc
như vua?’ Hoặc có người trả lời rằng, “Người ấy ở nước khác, vì lấy của
không cho, do đó người ấy đầu đội tràng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa vào
thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích vui chơi nữ sắc, hoan lạc
như vua’. Này Già-di-ni, ông có thấy như vậy, nghe như vậy chăng?”
Già-di-ni thưa:
“Tôi có thấy như vậy, thưa Cù-đàm, tôi đã nghe và sẽ được nghe nữa”.
“Này Già-di-ni, rồi
lại thấy Quốc vương bắt bớ tội nhân trói quặt hai tay ra sau, đánh trống,
xướng lệnh kéo ra cửa phía Nam, để ngồi dưới gốc cây nêu cao rồi chém bêu
đầu. Nếu có người hỏi rằng: ‘Người này mắc tội gì mà bị Quốc vương giết
chết?’ Hoặc có người trả lời rằng: ‘Người ấy lấy của không cho trong Vương
gia, do đó Quốc vương ra lệnh hành hình như vậy’. Này Già-di-ni, ông có
thấy như vậy, nghe như vậy chăng?”
Già-di-ni trả lời
rằng:
“Tôi có thấy như vậy, Cù-đàm, tôi đã nghe và sẽ được nghe nữa”.
“Này Già-di-ni, nếu
có Sa-môn, Phạm chí thấy và nói như vậy: ‘Nếu có kẻ nào lấy của không cho,
kẻ ấy nhất thiết phải thọ báo ngay trong đời hiện tại này, nhân đó mà sanh
ra ưu khổ’, thì lời nói đó chân thật hay lời nói hư dối?”
Già-di-ni đáp:
“Đó là lời nói hư
dối, thưa Cù-đàm”.
“Nếu người ấy nói hư
vọng, ông có tin chăng?”
Già-di-ni đáp:
“Tôi không tin, thưa
Cù-đàm!”
Đức Thế Tôn khen
rằng.
“Lành thay! Lành
thay! Già-di-ni!”
Lại hỏi Già-di-ni:
“Già-di-ni, ông nghĩ thế nào, nếu trong thôn ấp hoặc có người đầu đội
tràng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa vào thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự
mình thỏa thích vui chơi nữ sắc, hoan lạc như vua. Nếu có người hỏi rằng:
‘Người ấy trước kia làm những việc gì mà nay đầu đội tràng hoa, dùng nhiều
thứ hương xoa vào thân, rồi xướng nhạc ca vũ, tự mình thỏa thích vui chơi
nữ sắc, hoan lạc như vua?’ Hoặc có người trả lời rằng: ‘Người ấy ca múa để
vui giỡn, cười đùa. Người ấy bằng lời nói dối làm cho Quốc vương vui vẻ.
Sau khi Quốc vương vui vẻ liền ban thưởng cho, do đó người ấy đầu đội
tràng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa vào thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự
mình thỏa thích vui chơi nữ sắc, hoan lạc như vua’. Này Già-di-ni, ông có
thấy như vậy, nghe như vậy chăng?”
Già-di-ni trả lời
rằng:
“Tôi có thấy như vậy, Cù-đàm, tôi đã nghe và sẽ được nghe nữa”.
“Này Già-di-ni, rồi
lại thấy Quốc vương bắt bớ tội nhân, dùng gậy đánh đến chết, rồi bỏ vào
củi cây, chở trên xe trống đi ra cửa thành phía Bắc, vất vào trong rãnh
nước, nếu có người hỏi rằng: ‘Người ấy mắc tội gì mà bị quốc vương giết
chết đi?’ Hoặc có người trả lời rằng: ‘Người ấy ở trước Quốc vương nói dối
là có chứng đắc, người ấy do lừa gạt Quốc vương bằng lời nói dối nên bị
Quốc vương ra lệnh bắt làm như thế’. Này Già-di-ni, ông có thấy như vậy,
nghe như vậy không?”
Già-di-ni trả lời
rằng:
“Tôi có thấy vậy,
Cù-đàm, tôi đã nghe và sẽ nghe nữa”.
“Này Già-di-ni, ông
nghĩ thế nào, nếu có Sa-môn, Phạm chí thấy như vậy, nói như vậy: ‘Nếu có
người nào nói dối, người ấy nhất thiết phải thọ báo ngay trong đời hiện
tại này, nhân đó mà sanh ra ưu khổ’, thì lời nói đó là lời nói chân thật
hay hư dối?”
Già-di-ni đáp:
“Đó là lời nói hư
dối, thưa Cù-đàm”.
“Nếu người ấy nói hư
vọng, ông có tin chăng?”
Già-di-ni đáp:
“Tôi không tin, thưa
Cù-đàm”.
Đức Thế Tôn khen
rằng:
“Lành thay! Lành
thay! Già-di-ni!”
Lúc đó, Già-di-ni
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa áo chắp tay hướng về Thế Tôn mà
thưa rằng:
“Kỳ diệu thay, những
điều Cù-đàm nói rất vi diệu, khéo ví dụ, khéo dẫn chứng. Bạch Cù-đàm, tôi
ở trong Bắc thôn có xây dựng một ngôi nhà cao lớn, sắp đặt giường nệm, để
sẵn đồ chứa nước thắp sáng những ngọn đèn lớn. Nếu có vị Sa-môn, Phạm chí
tinh tấn nào đến nghỉ ở ngôi nhà cao lớn ấy, tôi sẽ tùy khả năng mà cung
cấp những gì vị ấy cần thiết. Có bốn vị luận sĩ mà sở kiến khác nhau, cùng
đến tập hợp tại ngôi nhà cao lớn ấy. Trong đó có một vị luận sĩ thấy như
vầy, nói như vầy:
‘Không có bố thí, không có trai tếâ, không có chú thuyết, không có nghiệp
thiện, nghiệp ác, không có nghiệp báo thiện ác, không có đời này đời sau,
không có cha, không có mẹ, trên đời không có bậc chân nhân đi đến thiện
xứ, khéo đi, khéo hướng,
tự tri, tự giác, tự chứng ngộ đời này và đời khác,
thành tựu và an trụ’.
“Vị luận sư thứ hai
lại có sở kiến trái ngược với sở kiến của vị luận sư thứ nhất. Vị ấy cũng
thấy như vầy, nói như vầy: ‘Có bố thí, có trai tế, có chú thuyết, có
nghiệp thiện ác, có nghiệp báo thiện ác, có đời này đời sau, có cha có mẹ
có bậc chân nhân trên đời này đi đến thiện xứ, khéo đi, khéo hướng, tự
tri, tự giác, tự chứng ngộ đời này và đời khác, thành tựu và an trụ’.
“Vị luận sư thứ ba
thấy như vầy, nói như vầy: ‘Tự mình làm và sai bảo người khác làm, tự mình
chém giết và sai bảo người khác chém giết, tự mình nấu và sai bảo người
khác nấu; ưu sầu,
phiền muộn, lo lắng, đấm ngực, áo não, khóc lóc, ngu si; sát sanh, lấy của
không cho, tà dâm, nói dối, uống rượu; đào vách, mở kho, đến ngõ hẻm khác
để ăn cướp,
phá làng hại xóm, phá thành, diệt nước; làm như thế không phải là làm ác.
Lại dùng vòng sắt bén như dao cạo, người ấy đối với tất cả chúng sanh ở
trên cõi đời này, trong vòng một ngày mà bửa, mà cắt, mà chém, mà chặt, mà
lột da, mà lóc xẻ từng mảng thịt, lách từng phần từng khối; do vậy vẫn
không có nghiệp ác, do vậy vẫn không có nghiệp báo ác. Ở bờ sông Hằng-già
phía
Nam, giết rồi cắt, rồi khiến nấu’; và ở bờ sông Hằng-già phía Bắc mà bố
thí, trai tế, chú thuyết. Không do đó mà có tội hay có phước; không do đó
mà có quả báo tội phước. Cấp thí, tự chế ngự, thủ hộ, nhiếp trì, tán thán,
nhiêu ích, ái ngữ lợi hành, không do đó mà có phước, không do đó mà có quả
báo của phước’.
Luận sĩ thứ tư lại
có sở kiến trái ngược sở kiến vị luận chủ thứ ba. Vị ấy thấy như vầy, nói
như vầy: ‘Tự mình làm và sai bảo người khác làm, tự mình chém giết và sai
bảo người khác chém giết, tự mình nấu và sai bảo người khác nấu; ưu sầu,
phiền muộn, lo lắng, đấm ngực, áo não, khóc lóc, ngu si; sát sanh, lấy của
không cho, tà dâm, nói dối, uống rượu; đào vách, mở kho, đến ngõ hẻm khác
để ăn cướp, phá làng hại xóm, phá thành, diệt nước; làm như thế chính là
làm ác. Lại dùng vòng sắt bén như dao cạo, người ấy đối với tất cả chúng
sanh ở trên cõi đất này, trong vòng một ngày mà bửa, mà cắt, mà chém, mà
chặt, mà lột da, mà lóc xẻ từng mảng thịt, lách từng phần từng khối; do
vậy vẫn không có nghiệp ác, do vậy vẫn không có nghiệp báo ác. Ở bờ sông
Hằng-già phía Nam, giết rồi cắt, rồi khiến nấu’; và ở bờ sông Hằng-già
phía Bắc mà bố thí, trai tế, chú thuyết. Do đó có tội có phước; do đó mà
có quả báo tội phước. Cấp thí, tự chế, thủ hộ, nhiếp trì, tán thán, nhiêu
ích, ái ngữ, lợi hành, do đó mà có quả báo tội phước.
“Thưa Cù-đàm, tôi
nghe như vậy liền sanh nghi hoặc: ‘Những vị Sa-môn, Phạm chí đó, ai nói
chân thật, ai nói hư dối?’.”
Đức Thế Tôn trả lời:
“Này Già-di-ni, ông
chớ sanh nghi hoặc. Vì sao thế? Vì do có nghi hoặc mà sanh ra do dự. Này
Già-di-ni, ông tự mình không có tịnh
trí, để biết là có đời sau hay không có đời sau. Này Già-di-ni, ông lại
cũng không có tịnh trí để biết điều được làm là ác hay điều được làm là
thiện? Này Già-di-ni, có một pháp định
được gọi là “Viễn ly”. Ông nhờ định ấy sẽ có thể được chánh niệm, có thể
đạt tới nhất tâm; như vậy, ở trong đời hiện tại ông sẽ đoạn trừ sự nghi
hoặc, và được thăng tấn”.
Lúc đó Già-di-ni từ
chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa áo, chắp tay hướng về Đức Thế Tôn mà bạch
rằng:
“Thưa Cù-đàm, thế
nào là có một pháp định được gọi là “Viễn ly”. Tôi nhờ định ấy sẽ có thể
được chánh niệm, có thể đạt tới nhất tâm; như vậy, ở trong đời hiện tại
tôi có thể đoạn trừ sự nghi hoặc, và được thăng tấn?”
Đức Thế Tôn bảo
rằng:
“Thánh đệ tử đa văn
xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm,
nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy ban ngày cày
ruộng, và gieo giống; đến chiều nghỉ ngơi và vào nhà ngồi thiền định; qua
đêm, lúc hừng sáng suy nghĩ như vầy: ‘Ta xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết;
đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến
và được chánh kiến. Vị ấy liền tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác
và niệm mười nghiệp đạo thiện’. Vị ấy sau khi tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ
mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’, liền sanh ra hân hoan.
Sau khi sanh ra hân hoan liền phát sanh hỷ; sau khi phát sanh hỷ, thân
liền an định; sau khi thân được an định, thân liền cảm giác lạc. Sau khi
thân cảm giác lạc thì được nhất tâm. Này Già-di-ni, sau khi Thánh đệ tử Đa
văn được nhất tâm rồi thì tâm câu hữu với từ, biến khắp một phương, thành
tựu và an trụ. Cũng thế hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp
tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết không oán, không sân, không nhuế,
không não hại, quảng đại vô biên, vô lượng, khéo tu tập biến mãn tất cả
thế gian, thành tựu và an trụ.
“Vị ấy suy nghĩ như
vầy: “Nếu có Sa-môn, Phạm chí nào thấy như vầy, nói như vầy: ‘Không có sự
bố thí, không có trai tế, không có chú thuyết, không có nghiệp thiện ác,
không có nghiệp báo thiện ác, không có đời này đời sau, không có cha,
không có mẹ trên đời, không có bậc thiện nhân đi đến thiện xứ, khéo đi,
khéo hướng, tự tri, tự giác, tự chứng ngộ đời này và đời khác, thành tựu
và an trụ’. Nếu điều vị Sa-môn, Phạm chí kia nói ra là chân thật, ta không
xâm phạm đời, dù sợ hãi hay không sợ hãi,
thường thương mến tất cả thế gian. Tâm ta không cùng thế gian tranh cãi,
cũng không có sự hân hoan thô trược. Nay ta được pháp của bậc Vô thượng,
thăng tấn đến trú xứ an lạc. Đó là pháp định viễn ly. Những gì Sa-môn,
Phạm chí kia nói, không cho là đúng, không cho là sai. Sau khi không cho
là đúng, không cho là sai, liền được nội tâm tĩnh chỉ.
“Này Già-di-ni, đó
là pháp định, được gọi là viễn ly. Ông có thể nhân định này mà được chánh
niệm, mà được nhất tâm. Như vậy, ông có thể đoạn hết nghi hoặc trong đời
hiện tại mà được thăng tiến.
“Lại nữa Già-di-ni:
Thánh đệ tử đa văn xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của
không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến.
Vị ấy ban ngày cày ruộng, và gieo giống; đến chiều nghỉ ngơi và vào nhà
ngồi thiền định; qua đêm, lúc hừng sáng suy nghĩ như vầy: ‘Ta xa lìa sự
giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối,
cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy liền tự thấy: ‘Ta đã
đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’. Vị ấy sau khi
tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo
thiện’, liền sanh ra hân hoan. Sau khi sanh ra hân hoan liền phát sanh hỷ;
sau khi phát sanh hỷ, thân liền an định; sau khi thân được an định, thân
liền cảm giác lạc. Sau khi thân cảm giác lạc thì được nhất tâm. Này
Già-di-ni, sau khi Thánh đệ tử đa văn được nhất tâm rồi thì tâm câu hữu
với bi, biến khắp một phương thành tựu và an trụ; cũng thế hai, ba, bốn
phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả. Tâm câu với bi, không kết,
không oán không sân nhuế, không não hại, quảng đại, vô lượng vô biên, khéo
tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ.
“Vị ấy suy nghĩ như
vậy: “Nếu có Sa-môn, Phạm chí nào thấy như vầy, nói như vầy: ‘Có sự bố
thí, có trai tế, có chú thuyết, có nghiệp thiện ác, có nghiệp báo thiện
ác, có đời này đời sau, có cha, có mẹ trên đời, có bậc thiện nhân đi đến
thiện xứ, khéo đi, khéo hướng, tự tri, tự giác, tự chứng ngộ đời này và
đời khác, thành tựu và an trụ’. Nếu điều vị Sa-môn, Phạm chí kia nói ra là
chân thật, ta không xâm phạm đời, dù sợ hãi hay không sợ hãi, thường
thương mến tất cả thế gian. Tâm ta không cùng thế gian tranh cãi, cũng
không có sự hân hoan thô trược. Nay ta được pháp của bậc Vô thượng, thăng
tấn đến trú xứ an lạc. Đó là pháp định viễn ly. Những gì Sa-môn, Phạm chí
kia nói, không cho là đúng, không cho là sai. Sau khi không cho là đúng,
không cho là sai, liền được nội tâm tĩnh chỉ.
“Này Già-di-ni, đó
là pháp định, được gọi là viễn ly. Ông có thể nhân định này mà được chánh
niệm, mà được nhất tâm; như vậy, ông có thể đoạn hết nghi hoặc trong đời
hiện tại mà được thăng tiến.
“Lại nữa Già-di-ni,
Thánh đệ tử đa văn xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của
không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến.
Vị ấy ban ngày cày ruộng, và gieo giống; đến chiều nghỉ ngơi và vào nhà
ngồi thiền định; qua đêm, lúc hừng sáng suy nghĩ như vầy: ‘Ta xa lìa sự
giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối,
cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy liền tự thấy: ‘Ta đã
đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’. Vị ấy sau khi
tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo
thiện’, liền sanh ra hân hoan. Sau khi sanh ra hân hoan liền phát sanh hỷ;
sau khi phát sanh hỷ, thân liền an định; sau khi thân được an định, thân
liền cảm giác lạc. Sau khi thân cảm giác lạc thì được nhất tâm. Này
Già-di-ni, sau khi Thánh đệ tử đa văn được nhất tâm rồi thì tâm câu hữu
với hỷ, biến khắp một phương thành tựu và an trụ; cũng thế hai, ba, bốn
phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả. Tâm câu với hỷ, không kết,
không oán, không sân nhuế, không não hại, quảng đại, vô lượng vô biên,
khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ.
“Vị ấy suy nghĩ như
vầy: ‘Tự mình làm và sai bảo người khác làm, tự mình chém giết và sai bảo
người khác chém giết, tự mình nấu và sai bảo người khác nấu; ưu sầu, phiền
muộn, lo lắng, đấm ngực, áo não, khóc lóc, ngu si; sát sanh, lấy của không
cho, tà dâm, nói dối, uống rượu; đào vách, mở kho, đến ngõ hẻm khác để ăn
cướp, phá làng hại xóm, phá thành, diệt nước; làm như thế không phải là
làm ác. Lại dùng vòng sắt bén như dao cạo, người ấy đối với tất cả chúng
sanh ở trên cõi đất này, trong vòng một ngày mà bửa, mà cắt, mà chém, mà
chặt, mà lột da, mà lóc xẻ từng mảng thịt, lách từng phần từng khối; do
vậy vẫn không có nghiệp ác, do vậy vẫn không có nghiệp báo ác. Ở bờ sông
Hằng-già phía Nam, giết rồi cắt, rồi khiến nấu’; và ở bờ sông Hằng-già
phía Bắc mà bố thí, trai tế, chú thuyết. Không do đó mà có tội hay có
phước; không do đó mà có quả báo tội phước. Cấp thí, tự chế ngự, thủ hộ,
nhiếp trì, tán thán, nhiêu ích, ái ngữ lợi hành, không do đó mà có phước,
không do đó mà có quả báo của phước’. Nếu điều vị Sa-môn, Phạm chí kia nói
ra là chân thật, ta không xâm phạm đời, dù sợ hãi hay không sợ hãi, thường
thương mến tất cả thế gian. Tâm ta không cùng thế gian tranh cãi, cũng
không có sự hân hoan thô trược. Nay ta được pháp của bậc Vô thượng, thăng
tấn đến trú xứ an lạc. Đó là pháp định viễn ly. Những gì Sa-môn, Phạm chí
kia nói, không cho là đúng, không cho là sai. Sau khi không cho là đúng,
không cho là sai, liền được nội tâm tĩnh chỉ.
“Này Già-di-ni, đó
là pháp định, được gọi là viễn ly. Ông có thể nhân định này mà được chánh
niệm, mà được nhất tâm. Như vậy, ông có thể đoạn hết nghi hoặc trong đời
hiện tại mà được thăng tiến.
“Lại nữa Già-di-ni,
Thánh đệ tử đa văn xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của
không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến.
Vị ấy ban ngày cày ruộng, và gieo giống; đến chiều nghỉ ngơi và vào nhà
ngồi thiền định; qua đêm, lúc hừng sáng suy nghĩ như vầy: ‘Ta xa lìa sự
giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối,
cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy liền tự thấy: ‘Ta đã
đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’. Vị ấy sau khi
tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo
thiện’, liền sanh ra hân hoan. Sau khi sanh ra hân hoan liền phát sanh hỷ;
sau khi phát sanh hỷ, thân liền an định; sau khi thân được an định, thân
liền cảm giác lạc. Sau khi thân cảm giác lạc thì được nhất tâm. Này
Già-di-ni, sau khi Thánh đệ tử đa văn được nhất tâm rồi thì tâm câu hữu
với xả, biến khắp một phương thành tựu và an trụ; cũng thế hai, ba, bốn
phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả. Tâm câu với xả, không kết,
không oán, không sân nhuế, không não hại, quảng đại, vô lượng vô biên,
khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ.
“Vị ấy suy nghĩ như
vầy: ‘Tự mình làm và sai bảo người khác làm, tự mình chém giết và sai bảo
người khác chém giết, tự mình nấu và sai bảo người khác nấu; ưu sầu, phiền
muộn, lo lắng, đấm ngực, áo não, khóc lóc, ngu si; sát sanh, lấy của không
cho, tà dâm, nói dối, uống rượu; đào vách, mở kho, đến ngõ hẻm khác để ăn
cướp, phá làng hại xóm, phá thành, diệt nước; làm như thế thật sự là làm
ác. Lại dùng vòng sắt bén như dao cạo, người ấy đối với tất cả chúng sanh
ở trên cõi đất này, trong vòng một ngày mà bửa, mà cắt, mà chém, mà chặt,
mà lột da, mà lóc xẻ từng mảng thịt, lách từng phần từng khối; do vậy có
nghiệp ác, do vậy có nghiệp báo ác. Ở bờ sông Hằng-già phía Nam, giết rồi
cắt, rồi khiến nấu; và ở bờ sông Hằng-già phía Bắc mà bố thí, trai tế, chú
thuyết. Do đó mà có tội hay có phước; do đó mà có quả báo tội phước. Cấp
thí, tự chế ngự, thủ hộ, nhiếp trì, tán thán, nhiêu ích, ái ngữ, lợi hành;
do đó mà có phước, do đó mà có quả báo của phước’. Nếu điều vị Sa-môn,
Phạm chí kia nói ra là chân thật, ta không xâm phạm đời, dù sợ hãi hay
không sợ hãi, thường thương mến tất cả thế gian. Tâm ta không cùng thế
gian tranh cãi, cũng không có sự hân hoan thô trược. Nay ta được pháp của
bậc Vô thượng, thăng tấn đến trú xứ an lạc. Đó là pháp định viễn ly. Những
gì Sa-môn, Phạm chí kia nói, không cho là đúng, không cho là sai. Sau khi
không cho là đúng, không cho là sai, liền được nội tâm tĩnh chỉ.
“Này Già-di-ni, đó
là pháp định, được gọi là viễn ly. Ông có thể nhân định này mà được chánh
niệm, mà được nhất tâm. Như vậy, ông có thể đoạn hết nghi hoặc trong đời
hiện tại mà được thăng tiến”.
Khi Phật nói bài
pháp ấy xong, Già-di-ni viễn ly trần cấu, phát sanh con mắt thanh tịnh
thấy rõ các pháp. Lúc đó, Già-di-ni thấy pháp, chứng pháp, giác ngộ pháp
bạch tịnh, đoạn nghi, vượt qua hoặc,
không còn tôn sùng ai khác, không còn do ai khác, không còn do dự, đã trụ
nói quả chứng đạt, được vô sở úy đối với giáo pháp của Thế Tôn, liền từ
chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu lễ dưới chân Phật mà bạch rằng.
“Bạch Đức Thế Tôn,
con từ nay xin quy y Phật, quy y Pháp và Chúng Tỳ-kheo; cúi mong Đức Thế
Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc; bắt đầu từ hôm nay, trọn đời quy y cho đến khi
mạng chung”.
Phật thuyết
như vậy. Ba-la-lao Già-di-ni và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
--- o0o ---
Mục Lục Phẩm Thứ hai
11
|
12 |
13 |
14 |
15 |
16
|
17
|
18
|
19 |
20
--- o0o ---
Mục Lục Tổng Quát Kinh Trung A Hàm
Phẩm 1|
Phẩm 2 |
Phẩm 3 |
Phẩm 4 |
Phẩm 5 |
Phẩm 6
Phẩm
7 |
Phẩm 8 |
Phẩm 9 |
Phẩm 10 |
Phẩm 11 |
Phẩm 12
Phẩm 13 |
Phẩm 14 |
Phẩm 15 |
Phẩm 16 |Phẩm
17 |
Phẩm 18
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2003