Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật du
hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ Đức Thế
Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng.
“Nếu kẻ nào cố ý
tạo nghiệp,
Ta nói rằng kẻ ấy phải thọ lấy quả báo. Hoặc thọ ngay trong đời hiện
tại, hoặc thọ vào đời sau. Nếu tạo nghiệp mà không cố ý, Ta nói rằng
người ấy không nhất thiết phải thọ quả báo.
“Ở đây, thân cố ý
tạo ba nghiệp bất thiện, đưa đến khổ quả, thọ khổ quả. Miệng có bốn
nghiệp, ý có ba nghiệp bất thiện, đưa đến khổ báo, thọ khổ quả.
“Những gì là ba
nghiệp do thân cố ý tạo bất thiện, đưa đến khổ quả, phải thọ khổ báo?
Một là sát sanh, quá hung dữ, uống máu, cứ muốn sát hại, không thương
xót chúng sanh, cho đến loài côn trùng. Hai là lấy của không được cho,
đắm trước tài vật của kẻ khác, chiếm lấy với ý muốn trộm cắp. Ba là tà
dâm; người kia chính mình xâm phạm tới người nữ có cha giữ gìn, hoặc có
mẹ gìn giữ, hoặc được cả cha và mẹ giữ gìn, hoặc được chị em giữ gìn,
hoặc được anh em gìn giữ, hoặc được cha mẹ vợ
gìn giữ, hoặc được người thân thuộc gìn giữ, hoặc được người cùng dòng
họ gìn giữ; hoặc được bảo vệ bằng đe dọa hình phạt hay roi vọt,
hoặc đã được thuê, hoặc đã được hứa hôn, cho đến chỉ mới nhận tràng hoa
làm tin. Đó là ba nghiệp do thân cố ý tạo bất thiện, đưa đến khổ quả,
thọ lấy khổ báo.
“Những gì là bốn
nghiệp do miệng cố ý tạo bất thiện, đưa đến khổ quả, thọ lấy khổ báo?
Một là nói dối; người kia hoặc ở giữa đám đông, hoặc trong quyến thuộc,
hoặc ở tại vương gia, nếu có ai kêu mà hỏi rằng: ‘Ngươi có biết thì
nói’. Nhưng nó không biết mà nói là biết, biết nói là không biết; không
thấy nói là thấy, thấy nói không thấy. Vì mình, vì người, hoặc vì của
cải, biết rồi mà lại nói dối. Hai là nói hai lưỡi; muốn ly gián người
khác nên nghe nơi người này đem nói với người kia vì muốn phá hoại người
này. Nghe nơi người kia đem nói với này vì muốn phá hoại người kia.
Những kẻ hợp nhau muốn tạo ly tán; những kẻ đã ly tán lại muốn cho xa
rời để kết bè đảng, vui thích bè đảng, khen ngợi bè đảng. Ba là nói thô
ác; người ấy nếu có nói năng gì thì lời lẽ thô tục, hung bạo, tiếng dữ
trái tai, không ai mến nổi, làm cho người khác phải khổ não, khiến cho
không được định tâm. Bốn là nói lời thêu dệt; người ấy nói không đúng
lúc, nói không thành thật, nói lời không đúng nghĩa, nói lời không đúng
pháp, nói không tịch tĩnh,
lại còn khen ngợi sự không tịch tĩnh, trái ngược thời gian mà lại không
khéo dạy dỗ, không khéo la mắng. Đó là bốn nghiệp do miệng cố ý tạo, bất
thiện, đưa đến khổ quả, thọ lấy khổ báo.
“Những gì ba
nghiệp của ý cố ý tạo bất thiện, đưa đến khổ quả, thọ lấy khổ báo? Một,
tham lam; thấy tài vật và các tư cụ sinh sống của người khác thường tham
lam ước muốn sao cho được về của mình. Hai là sân nhuế; trong ý ôm ấp
oán ghét, nghĩ rằng: chúng sanh kia đáng giết, đáng trói, đáng bắt, đáng
loại bỏ, đáng đuổi đi, mong cho kẻ kia thọ khổ vô lượng. Ba là tà kiến;
sở kiến điên đảo, thấy như vầy, nói như vầy: ‘Không có bố thí, không có
trai phước, không có chú thuyết, không có nghiệp thiện ác, không có
nghiệp báo thiện ác, không có đời này, đời sau; không có cha mẹ, trên
đời không có bậc chân nhân đi đến chỗ chí thiện, khéo vượt qua, khéo
hướng đến, ở đời này và đời sau mà tự chứng tri, tự giác ngộ, tự thân
tác chứng, thành tựu và an trú. Đó là ba nghiệp do ý cố tạo bất thiện,
đưa đến khổ quả, thọ ấy khổ báo.
“Đa văn Thánh đệ
tử xả bỏ nghiệp bất thiện của thân, tu thân thiện nghiệp, xả bỏ nghiệp
bất thiện của miệng và ý, tu thiện nghiệp miệng và ý. Đa văn Thánh đệ tử
đầy đủ giới đức tinh tấn như vậy, thành tựu tịnh nghiệp nơi thân, thành
tựu tịnh nghiệp nơi miệng và ý, lìa sân nhuế, lìa não hại, từ bỏ ngủ
nghỉ, không trạo cử và cống cao, đoạn nghi, vượt kiêu mạn, chánh niệm,
chánh trí, không còn ngu si, tâm vị ấy đi đôi với từ, biến mãn một
phương thành tựu và an trú. Cũng vậy, với hai, ba, bốn phương và tứ duy,
thượng, hạ, biến mãn, tâm đi đôi với từ, không thù không oán, không sân
nhuế, không não hại, quảng đại vô biên vô lượng, khéo tu tập biến mãn
tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Người kia suy nghĩ rằng: ‘Tâm ta
xưa kia vốn nhỏ hẹp, không khéo tu. Tâm ta nay đây khéo tu, quảng đại vô
lượng’. Đa văn Thánh đệ tử đối với tâm vô lường, khéo tu tập như vậy,
nếu trước kia nhân có ác tri thức, vì đã phóng dật mà tạo nghiệp bất
thiện, nay những thứ ấy không thể lôi kéo, không thể làm ô uế, không còn
đi theo nữa. Giả sử có một trẻ thơ hoặc trai hay gái được sanh ra, liền
có thể tu hành từ tâm giải thoát,
về sau thân, miệng và ý có còn tạo những nghiệp bất thiện nữa chăng?”
Các Tỳ-kheo thưa
rằng:
“Bạch Thế Tôn,
không thể”.
“Vì sao vậy? Tự
mình không làm nghiệp ác thì nghiệp ác ấy do đâu mà sanh? Do đó, người
tại gia hay xuất gia, nam hay nữ, thường phải siêng tu từ tâm giải
thoát. Nếu người tại gia hay xuất gia, nam hay nữ ấy, tu từ tâm giải
thoát, thì không còn mang thân này đi đến đời sau mà chỉ theo tâm đi
khỏi cõi này. Tỳ-kheo nên nghĩ như vầy: ‘Ta vốn vì buông lung mà tạo
nghiệp bất thiện. Tất cả nghiệp ấy có thể thọ báo trong đời này, chớ
không thể đi đến đời sau nữa’. Nếu có người thực hành từ tâm giải thoát
rộng lớn vô lượng, khéo tu tập như vậy, chắc chắn chứng quả A-na-hàm,
hoặc chứng cao hơn nữa.
“Cũng vậy, tâm bi
và hỷ; tâm câu hữu với xả, không kết, không oán, không sân nhuế, không
não hại, quảng đại vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian,
thành tựu và an trụ. Người ấy suy nghĩ như vầy: ‘Tâm ta trước vốn nhỏ
hẹp, không khéo tu tập. Tâm ta nay đây rộng lớn vô lượng, được khéo tu
tập’. Đa văn Thánh đệ tử đối với tâm vô lượng, khéo tu tập như vậy, nếu
trước kia nhân có ác tri thức, vì đã phóng dật mà tạo nghiệp bất thiện,
nay những thứ ấy không thể lôi kéo, không thể làm ô uế, không còn đi
theo nữa. Giả sử có một trẻ thơ hoặc trai hay gái được sanh ra, liền có
thể tu hành xả tâm giải thoát, về sau thân, miệng và ý có còn tạo những
nghiệp bất thiện nữa chăng?”
Các Tỳ-kheo thưa
rằng:
“Bạch Thế Tôn,
không thể”.
“Vì sao vậy? Tự
mình không làm nghiệp ác thì nghiệp ác ấy do đâu mà sanh? Do đó, người
tại gia hay xuất gia, nam hay nữ, thường phải siêng tu xả tâm giải
thoát. Nếu người tại gia hay xuất gia, nam hay nữ ấy, tu xả tâm giải
thoát, thì không còn mang thân này đi đến đời sau mà chỉ theo tâm đi
khỏi cõi này. Tỳ-kheo nên nghĩ như vầy: ‘Ta vốn vì buông lung mà tạo
nghiệp bất thiện. Tất cả nghiệp ấy có thể thọ báo trong đời này, chớ
không thể đi đến đời sau nữa’. Nếu có người thực hành xả tâm giải thoát
rộng lớn vô lượng, khéo tu tập như vậy, chắc chắn chứng quả A-na-hàm,
hoặc chứng cao hơn nữa”.
Phật thuyết như
vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.