Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật du
hóa tại Thích-ki-sấu
nước Ca-duy-la-vệ,
trong vườn Ni-câu-loại.
Bấy giờ Tôn giả
Đại Mục-kiền-liên
cùng với chúng Đại Tỳ-kheo sau giờ ăn trưa,
vì có việc nên tập họp ngồi tại giảng đường. Lúc bấy giờ Ni-kiền
có một người đệ tử thuộc dòng họ Thích tên Hòa-phá,
sau giờ ăn trưa, thong thả đi đến chỗ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên; cùng
chào hỏi nhau rồi ngồi sang một bên.
Bấy giờ Tôn giả
Đại Mục-kiền-liên hỏi sự việc như thế này:
“Này Hòa-phá, ý
ông nghĩ sao? Giả sử có Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý; trong trường hợp
này, ông có thấy vị ấy nhân đó mà sanh khởi lậu bất thiện, khiến cho đến
đời sau chăng?”
Hòa-phá trả lời
rằng:
“Này Đại
Mục-kiền-liên, giả sử có vị Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý; trong trường
hợp này tôi thấy rằng nhân đó mà sanh khởi lậu bất thiện, khiến cho đến
đời sau. Này Đại Mục-kiền-liên, giả sử có ai ở đời trước hành bất thiện
hạnh, người ấy do đó mà sanh khởi lậu bất thiện khiến cho đến đời sau”.
Lúc đó
Đức Thế Tôn đang tĩnh tọa ở chỗ vắng vẻ; bằng thiên nhĩ thanh tịnh siêu
việt loài người, nghe Tôn giả Đại Mục-kiền-liên và Thích Hòa-phá đệ tử
của Ni-kiền cùng bàn luận như thế.
Đức Thế Tôn nghe
xong, vào lúc xế chiều, rời chỗ tĩnh tọa, đi đến giảng đường, trải chỗ
và ngồi trước chúng Tỳ-kheo. Sau khi ngồi, Đức Thế Tôn hỏi rằng:
“Này Đại
Mục-kiền-liên, vừa rồi ông cùng đệ tử của Ni-kiền Thích Hòa-phá bàn luận
về việc gì? Lại có việc gì mà tập họp ngồi tại giảng đường?”
Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, hôm nay con cùng với chúng Đại Tỳ-kheo sau giờ ăn trưa, vì
có việc nên tập họp ngồi tại giảng đường. Lúc bấy giờ đệ tử Ni-kiền
thuộc Thích Hòa-phá này, sau giờ ăn trưa, thong thả đi đến chỗ con; cùng
chào hỏi nhau rồi ngồi sang một bên. Con hỏi như vầy: ‘Này Hòa-phá, ý
ông nghĩ sao? Giả sử có Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý; trong trường hợp
này, ông có thấy vị ấy nhân đó mà sanh khởi lậu bất thiện, khiến cho đến
đời sau chăng?’ Hòa-phá trả lời con rằng: ‘Này Đại Mục-kiền-liên, giả sử
có Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý; trong trường hợp này tôi thấy rằng
nhân thế mà sanh khởi lậu bất thiện, khiến cho đến đời sau. Này Đại
Mục-kiền-liên, giả sử có ai ở đời trước hành bất thiện hạnh, người ấy do
đó mà sanh khởi lậu bất thiện khiến cho đến đời sau’. Bạch Thế Tôn, vừa
rồi con cùng Thích Hòa-phá đệ tử Ni-kiền bàn luận như vậy. Vì việc đó mà
ngồi tập họp tại giảng đường”.
Lúc đó Đức Thế Tôn
bảo Thích Hòa-phá, đệ tử của Ni-kiền rằng:
“Nếu những gì ta
nói là đúng, ông trả lời là đúng; nếu không đúng ông nên trả lời là
không đúng. Ông có điều gì nghi ngờ thì nên hỏi ta như vầy: ‘Sa-môn
Cù-đàm, cái này có sự gì? Cái này có ý nghĩa gì?’ Tùy những điều Ta nói
mà ông có thể tiếp nhận được thì Ta với ông có thể bàn luận điều ấy”.
Hòa-phá trả lời
rằng:
“Sa-môn Cù-đàm,
nếu điều Ngài nói là đúng, tôi sẽ nói là đúng. Nếu không đúng tôi sẽ nói
là không đúng. Nếu có điều nào nghi ngờ tôi sẽ hỏi Cù-đàm: ‘Thưa Cù-đàm,
điều này có sự gì? Điều này có nghĩa gì?’ Tùy theo những điều Sa-môn
Cù-đàm nói, tôi tiếp nhận. Vậy, Sa-môn Cù-đàm hãy cùng tôi bàn luận việc
ấy”.
Đức Thế Tôn hỏi
rằng:
“Ý Hòa-phá nghĩ
sao? Giả sử có Tỳ-kheo sanh khởi thân hành bất thiện, lậu, nóng bức, ưu
sầu.
Vị ấy sau đó thân hành bất thiện được diệt trừ, không tạo thêm những
nghiệp mới, vứt bỏ nghiệp cũ, tức thời ngay trong đời hiện tại liền đạt
đến cứu cánh, không còn bị nóng bức, thường trụ bất biến, tức điều được
nói là được thấy bởi Thánh tuệ, được biết bởi Thánh tuệ. Nếu thân hành
bất thiện, khẩu hành bất thiện, ý hành bất thiện, vô minh hành, lậu,
nóng bức và ưu sầu,
người ấy sau đó diệt trừ vô minh hành bất thiện, không tạo thêm những
nghiệp mới, vứt bỏ nghiệp cũ, ngay trong đời này liền chứng được cứu
cánh, không còn nóng bức, thường trú bất biến, tức điều được nói là được
thấy bởi Thánh tuệ, được biết bởi Thánh tuệ. Thế nào, này Hòa-phá
Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý như vậy, trong trường hợp này ông có thấy
vị đó nhân mà sanh khởi lậu bất thiện, khiến cho đến đời sau chăng?”
Hòa-phá trả lời
rằng:
“Thưa Cù-đàm, giả
sử có vị Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý như vậy, trong trường hợp này tôi
không thấy vị ấy do đó mà sanh khởi lậu bất thiện khiến cho đến đời
sau”.
Đức Thế Tôn khen
rằng:
“Lành thay,
Hòa-phá, thế nào, này Hòa-phá, nếu có Tỳ-kheo vô minh đã dứt hết, minh
đã sanh khởi. Vị ấy vô minh đã dứt hết, minh đã sanh khởi; cảm giác về
hậu thân
sanh khởi thì biết là cảm giác về hậu thân sanh khởi; khi cảm giác về
hậu mạng
sanh khởi thì biết là cảm giác về hậu mạng sanh khởi. Khi thân hoại mạng
chung, tuổi thọ đã kết thúc, ngay trong đời này, tất cả mọi cảm giác đã
ngưng bặt, tự thân mình biết sẽ đi đến chỗ lãnh đạm hoàn toàn.
“Này Hòa-phá, cũng
như nhân cây mà có bóng. Giả sử có người mang búa thật bén đến chặt đứt
rễ cây, chặt nát ra thành nhiều khúc, phá làm mười phần, hoặc trăm phần,
đốt cháy thành tro, rồi hoặc để gió thổi bay đi, hoặc mang bỏ vào trong
nước. Ý Hòa-phá nghĩ sao? Bóng nhân cây mà có; bóng ấy do đó mà mất hẳn
cái nhân của nó, nên tuyệt diệt không còn sanh nữa chăng?”
Hòa-phá trả lời
rằng:
“Đúng như thế,
thưa Cù-đàm”.
“Này Hòa-phá, nên
biết vị Tỳ-kheo kia lại cũng như vậy. Vô minh đã dứt hết, minh đã sanh
khởi. Vị kia vô minh đã dứt hết, minh đã sanh khởi; cảm giác về hậu thân
sanh khởi thì biết là cảm giác về hậu thân sanh khởi; khi cảm giác về
hậu mạng sanh khởi thì biết là cảm giác về hậu mạng sanh khởi. Khi thân
hoại mạng chung, tuổi thọ đã kết thúc, ngay trong đời này, tất cả mọi
cảm giác đã ngưng bặt, tự thân mình biết sẽ đi đến chỗ lãnh đạm hoàn
toàn. Này Hòa-phá, vị Tỳ-kheo với tâm giải thoát chơn chánh
như vậy, liền được sáu trụ xứ thiện.
Sáu trụ xứ đó là gì? Này Hòa-phá, Tỳ-kheo mắt thấy sắc mà không hỷ,
không ưu, xả cầu, vô vi, chánh niệm, chánh trí. Này Hòa-phá, vị Tỳ-kheo
chánh tâm giải thoát như vậy, đó gọi là được trú xứ thiện thứ nhất. Cũng
vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý biết pháp mà không hỷ không ưu, xả cầu, vô
vi, chánh niệm, chánh trí. Này Hòa-phá, vị Tỳ-kheo chánh tâm giải thoát
như vậy, đó gọi là được trụ xứ thứ sáu.
Hòa-phá bạch rằng:
“Đúng như vậy,
thưa Sa-môn Cù-đàm!”
“Đa văn Thánh đệ
tử chánh tâm giải thoát như vậy, được sáu trụ xứ thiện. Sáu trụ xứ thiện
là những gì?”
“Thưa Cù-đàm, Đa
văn Thánh đệ tử khi mắt thấy sắc, không hỷ, không ưu, xả cầu,
vô vi, chánh niệm, chánh trí”.
“Này Hòa-phá,
Tỳ-kheo với tâm giải thoát chơn chánh như vậy, được nói là đạt được trụ
xứ thiện thứ nhất. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý biết pháp mà không
hỷ, không ưu, xả cầu, vô vi, chánh niệm, chánh trí. Này Hòa-phá, Tỳ-kheo
với tâm giải thoát chơn chánh như vậy được nói là đạt được trụ xứ thiện
thứ sáu. Này Hòa-phá, Tỳ-kheo với tâm giải thoát chơn chánh như vậy,
được sáu trú xứ thiện này”.
Hòa-phá bạch rằng:
“Đúng như thế,
thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử với tâm giải thoát chơn chánh như vậy,
được sáu trú xứ thiện. Thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử khi mắt thấy sắc,
không hỷ, không ưu, xả cầu, vô vi, chánh niệm, chánh trí. Thưa Cù-đàm,
Đa văn Thánh đệ tử với tâm giải thoát chơn chánh như vậy, được nói là
đạt được trụ xứ thiện thứ nhất. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý biết
pháp mà không hỷ, không ưu, xả cầu, vô vi, chánh niệm, chánh trí. Thưa
Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử với tâm giải thoát chơn chánh như vậy được
nói là đạt được trụ xứ thiện thứ sáu. Như vậy, Thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh
đệ tử với tâm giải thoát chơn chánh như vậy, được sáu trụ xứ thiện này”.
Rồi thì, Hòa-phá
bạch Thế Tôn rằng:
“Bạch đức Cù-đàm,
con đã biết. Bạch Đức Thiện Thệ, con đã hiểu. Bạch Đức Cù-đàm, cũng như
người có mắt sáng, cái gì bị úp thì lật lên; cái gì bị che đậy thì giở
ra; đối với người mê thì chỉ đường cho; trong tối tăm thì cho ánh sáng
để ai có mắt thì thấy ánh sáng màu sắc. Sa-môn Cù-đàm cũng giống như
vậy, vì con mà dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp và hiển hiện nghĩa
lý, theo đạo thậm thâm.
“Bạch Thế Tôn, hôm
nay con xin tự quy y với Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo, duy nguyện Thế Tôn
nhận cho con làm Ưu-bà-tắc; kể từ hôm nay trọn đời xin tự quy y, cho đến
mạng chung.
“Bạch Thế Tôn,
cũng như người nuôi con ngựa dở mà mong có lợi ích. Bạch Thế Tôn, con
cũng như vậy. Ni-kiền ngu si kia không khéo hiểu rõ, không thể giải
biết, không biết được ruộng tốt, không suy xét mà cung kính, lễ bái,
phụng sự trong một thời gian dài, mong được lợi ích, nhưng chỉ luống
nhọc khổ, vô ích. Bạch Thế Tôn, con nay lần nữa xin tự quy y Phật, Pháp
và Chúng Tỳ-kheo, duy nguyện Thế Tôn nhận cho con làm Ưu-bà-tắc; kể từ
hôm nay, trọn đời xin tự quy y, cho đến mạng chung.
“Bạch Thế Tôn, con
vốn không biết nên đối với Ni-kiền ngu si kia mà có tín, có kính, từ nay
dứt hẳn. Vì sao thế? Vì phỉnh gạt con vậy. Bạch Thế Tôn, nay lần thứ ba
xin tự quy y với Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo, duy nguyện Thế Tôn nhận
lời cho con làm Ưu-bà-tắc; hôm nay, trọn đời xin tự quy y, cho đến khi
mạng chung”.
Phật thuyết như
vậy. Thích Hòa-phá và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ
phụng hành.