KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN
- Hán dịch: Căn
cứ bản dịch của Tam Tạng Pháp sư
Đàm Vô Sấm,
Sa môn Tuệ Nghiêm, Tuệ Quán, và Tạ
Linh Vân sửa lại
- Đời Tống
- Việt dịch:
Tuệ Khai cư sĩ -
Phan Rang
Chứng nghĩa: Tỳ Kheo Thích Đỗng Minh
---o0o---
Quyển thứ
22
PHẨM THỨ HAI MƯƠI HAI :
BỒ TÁT QUANG MINH
BIẾN CHIẾU CAO QUÍ ÐỨC VƯƠNG
Phần thứ IV.
- Lại nữa,
này thiện nam tử ! Sao gọi là Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thành tựu công
đức thứ hai đầy đủ ? Này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thì cái
xưa chẳng được mà nay được, cái xưa chẳng thấy mà nay thấy, cái xưa chẳng
nghe mà nay nghe, cái xưa chẳng đến mà nay đến, cái xưa chẳng biết mà nay
biết. Sao gọi là cái xưa chẳng được mà nay được ? Ðó là thần thông, cái
xưa chẳng được mà nay mới được. Thần thông có hai thứ, môt là nội, hai là
ngoại. Cái gọi là ngoại thì cùng chung với ngoại đạo. Nội lại có hai, một
là thần thông của Nhị thừa, hai là thần thông của Bồ tát. Thần thông sở
đắc của Bồ tát tu hành Kinh Ðại Niết Bàn chẳng cùng chung với Thanh Văn,
Bích Chi Phật. Sao gọi là chẳng cùng chung với Thanh Văn, Bích Chi Phật ?
Sự tạo tác biến hóa thần thông của Nhị thừa là một tâm chỉ làm ra một,
chẳng làm được nhiều. Bồ tát chẳng vậy, ở trong một tâm thì có thể hiện
đầy đủ thân năm đưòng. Sở dĩ vì sao ? Vì do thế lực của Kinh Ðại Niết Bàn
như vậy. Ðó gọi là cái xưa chẳng được mà nay được. Lại nữa, sao gọi là cái
xưa chẳng được mà nay được? Ðó là thân được tự tại, tâm được tự tại. Vì
sao vậy ? Vì việc có thân tâm của tất cả phàm phu chẳng được tự tại mà
hoặc tâm theo thân, hoặc thân theo tâm. Sao gọi là tâm theo thân ? Ví như
người say thì rượu ở trong thân, bấy giờ thân động thì tâm cũng động theo.
Cũng như thân lười thì tâm cũng lười theo. Ðó gọi là tâm theo thân. Lại
như, đứa trẻ con, thân nó trẻ nhỏ thì tâm cũng nhỏ theo, còn người lớn thì
thân lớn nên tâm cũng lớn theo. Lại như có người, thân thể thô ráp, lòng
thường suy nghĩ muốn được dầu mỡ thấm nhuần làm cho mềm mại. Ðó gọi là tâm
tùy theo thân. Sao gọi là thân tùy theo tâm. Ðó là đi, lại, ngồi, nằm, tu
hành Thí, Giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn. Thân người sầu não thì gầy còm, tiều
tụy. Thân người hoan hỷ béo mập, tươi tốt. Thân thể người kinh sợ run rẩy,
chao động. Người chuyên tâm nghe pháp thì thân tươi vui. Người buồn khổ
thì nước mắt tuông rơi. Ðó gọi là thân tùy theo tâm. Bồ tát chẳng vậy, ở
trong thân tâm đều được tự tại. Ðó gọi là cái xưa chẳng được mà nay được.
Lại nữa, này thiện nam tử ! Thân tướng thị hiện của Ðại Bồ tát giống như
vi trần. Do thân vi trần này nên đều có thể đến khắp vô lượng vô biên
những thế giới Phật nhiều như cát sông Hằng, không có sự ngăn ngại mà tâm
thường định chỗ ban đầu chẳng di động. Ðó gọi là tâm chẳng tùy theo thân.
Ðó cũng gọi là cái xưa chẳng đến mà nay có thể đến. Tất cả Thanh Văn, Bích
Chi Phật.v.v... đã chẳng thể đến, còn Bồ tát thì có thể đến (đáo). Vậy nên
gọi là cái xưa chẳng đến mà nay có thể đến. Tất cả Thanh Văn, Bích Chi
Phật.v.v... tuy dùng thần thông nhưng chẳng thể biến thân nhỏ như vi trần
đến khắp vô lượng những thế giới Phật nhiều như cát sông Hằng. Thân của
Thanh Văn, Duyên Giác nếu khi động thì tâm cũng động theo. Bồ tát chẳng
vậy, tâm tuy chẳng động nhưng thân thì không đâu chẳng đến. Ðó gọi là tâm
Bồ tát chẳng tùy theo thân. Lại nữa, này thiện nam tử ! Bồ tát hóa thân
giống như ba ngàn đại thiên thế giới, rồi dùng thân lớn này vào một thân
vi trần mà lòng Bồ tát ấy, bấy giờ cũng chẳng nhỏ theo. Thanh Văn, Duyên
Giác tuy có thể hóa thân khiến cho lớn như ba ngàn đại thiên thế giới
nhưng mà chẳng thể dùng thân lớn này vào thân vi trần. Ở trong việc này
còn tự chẳng thể được, huống là có thể khiến cho tâm chẳng động theo. Ðó
gọi là tâm Bồ tát chẳng tùy theo thân. Lại nữa, này thiện nam tử ! Ðại Bồ
tát dùng một âm thanh có thể khiến cho chúng sinh của ba ngàn đại thiên
thế giới đều nghe mà tâm chẳng nghĩ, làm cho âm thanh này khắp các thế
giới, khiến cho điều các chúng sinh xưa chẳng nghe mà nay được nghe. Bồ
tát này ban đầu cũng chẳng nói rằng, ta khiến cho chúng sinh, cái xưa
chẳng nghe mà nay được nghe. Bồ tát, nếu nói rằng, nhân ta nói pháp nên
khiến cho các chúng sinh chẳng nghe được nghe, thì phải biết người này
nhất định chẳng thể được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vì sao vậy ? Vì
tất cả chúng sinh chẳng nghe ta là người nói. Như tâm này là tâm sinh tử
thì tất cả Bồ tát tâm đó đã hết. Do nghĩa này nên thân tâm sở hữu của Ðại
Bồ tát chẳng theo đuổi nhau. Này thiện nam tử ! Thân tâm của tất cả phàm
phu theo nhau. Bồ tát chẳng vậy, vì hóa độ chúng sinh nên tuy hiện thân
nhỏ nhưng tâm cũng chẳng nhỏ. Vì sao vậy ? Vì tâm tính sở hữu của các Bồ
tát... thường rộng lớn nên tuy hiện thân lớn nhưng tâm cũng chẳng lớn. Sao
gọi là thân lớn ? Thân như ba ngàn đại thiên thế giới. Sao gọi là tâm nhỏ
? Làm hành động trẻ con. Do nghĩa này nên tâm chẳng tùy theo thân. Ðại Bồ
tát đã ở vô lượng atăngkỳ kiếp xa rượu chẳng uống mà tâm cũng động, lòng
không bi khổ mà thân cũng chảy nước mắt, thật không kinh sợ mà thân cũng
run lẩy bẩy. Do nghĩa này nên phải biết là, thân tâm của Bồ tát tự tại
chẳng theo đuổi nhau. Ðại Bồ tát chỉ hiện một thân mà các chúng sinh mỗi
mỗi đều thấy khác. Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi là Ðại Bồ tát tu Ðại
Niết Bàn thì điều xưa chẳng nghe mà nay được nghe ? Ðại Bồ tát trước tiên
chọn lấy tướng của tiếng như là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng
người, tiếng ốc, tiếng trống, tiếng tiêu, tiếng địch (sáo), tiếng ca,
tiếng khóc.v.v.. mà tu tập. Do tu tập nên Bồ tát có thể nghe âm thanh của
địa ngục sẵn có trong ba ngàn đại thiên thế giới. Bồ tát lại tu tập chuyển
đổi được nhĩ căn khác, khác với tai của Thanh Văn, Duyên Giác và trời. Vì
sao vậy ? Vì nhĩ căn thanh tịnh sở đắc của Nhị thừa nếu vương vào bốn đại
tịnh diệu của sơ thiền thì chỉ nghe sơ thiền, chẳng nghe Nhị thiền cho đến
Tứ thiền cũng lại như vậy. Họ tuy có thể cùng một lúc được nghe âm thanh
sở hữu của ba ngàn đại thiên thế giới mà chẳng thể nghe được âm thanh của
vô lượng vô biên hằng hà sa số thế giới. Do nghĩa này nên sở đắc của Bồ
tát khác với nhĩ căn của Thanh Văn, Duyên Giác. Do sự khác này nên điều
xưa chẳng nghe mà nay được nghe, tuy nghe âm thanh mà lòng bắt đầu không
nghe tướng của âm thanh, chẳng tạo tác tướng có, tướng thường, tướng lạc,
tướng ngã, tướng tịnh, tướng chủ, tướng y (nương), tướng tác, tướng nhân,
tướng định, tướng quả. Do nghĩa này nên các Bồ tát.v.v... điều xưa chẳng
nghe mà nay được nghe.
Ðại Bồ
tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương thưa rằng :
- Như
lời đức Phật nói, chẳng tạo tác tướng định, chẳng tạo tác tướng quả thì ý
nghĩa này chẳng đúng vậy ! Vì sao vậy ? Vì đức Như Lai trước đã nói rằng,
nếu ngươi chưa nghe được một câu, một chữ của Kinh Ðại Niết Bàn này thì
nhất định được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðức Như Lai hôm nay
sao lại nói rằng, không định, không quả ? Nếu được Vô Thượng Chánh Ðẳng
Chánh Giác thì tức là định tướng, tức là quả tướng thì sao mà nói rằng,
không định, không quả ? Nghe tiếng ác thì sinh tâm ác. Sinh tâm ác thì đến
tam đồ. Nếu đến tam đồ tức là định là quả thì sao nói rằng, không định
không quả ?
Lúc bấy
giờ, đức Như Lai khen rằng :
- Hay
thay ! Hay thay ! Này thiện nam tử ! Ông mới có thể hỏi câu hỏi này ! Nếu
giả sử, các đức Phật nói rằng, các âm thanh có tướng định quả, thì chẳng
phải là tướng của các đức Phật Thế Tôn mà là tướng ma vương, tướng sinh
tử, tướng xa Niết Bàn. Vì sao vậy ? Vì phàm là sự diễn nói của tất cả các
đức Phật thì không có tướng định, quả. Này thiện nam tử! Ví như trong lưỡi
dao soi dáng mặt người, dựng đứng dao thì thấy mặt người dài, cầm ngang
dao thì thấy mặt người rộng. Nếu có tướng định thì sao mà dựng đứng thì
thấy dài, cầm ngang thì thấy rộng ? Do nghĩa này nên phàm sự diễn nói của
các đức Phật Thế Tôn không có tướng định, quả. Này thiện nam tử ! Luận về
Niết Bàn thì chân thật chẳng phải là kết quả của âm thanh. Nếu giả sử Niết
Bàn là kết quả của âm thanh thì phải biết Niết Bàn chẳng phải là Thường
pháp. Này thiện nam tử ! Ví như thế gian, từ nhân duyên sinh ra pháp, có
nhân thì có quả, không nhân thì không quả. Nhân vô thường nên quả cũng vô
thường. Sở dĩ vì sao ? Vì nhân cũng làm ra quả mà quả cũng làm ra nhân. Do
nghĩa này nên tất cả các pháp không có định tướng. Nếu giả sử Niết Bàn từ
nhân sinh ra mà nhân vô thường thì quả cũng vô thường. Nhưng Niết Bàn này
chẳng từ nhân sinh ra nên thể của Niết Bàn này chẳng phải là quả. Vậy nên
Niết Bàn này là thường. Này thiện nam tử ! Do nghĩa này nên thể của Niết
Bàn không định không quả. Này thiện nam tử ! Luận về Niết Bàn thì cũng có
thể nói định, cũng có thể nói quả. Sao gọi là định ? Niết Bàn Thường - Lạc
- Ngã - Tịnh là sở hữu của tất cả các đức Phật. Vậy nên là định. Niết Bàn
không sinh, lão, hoại. Vậy nên là định. Nhất xiển đề, những kẻ phạm bốn
trọng cấm, bài báng Phương Ðẳng tạo tác tội ngũ nghịch mà trừ bỏ bản tâm
thì nhất định được Niết Bàn. Vậy nên là định ! Này thiện nam tử ! Như lời
ông nói, nếu người nghe ta nói một chữ, một câu của Ðại Niết Bàn thì được
Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ông đối với nghĩa lời nói này còn chưa
giải rõ. Ông hãy lắng nghe ! Ta sẽ vì ông lại phân biệt ! Này thiện nam tử
! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe một chữ, một câu của Kinh Ðại
Niết Bàn mà chẳng tác khởi tướng chữ, chẳng tác khởi tướng câu, chẳng tác
khởi tướng nghe, chẳng tác khởi tướng Phật, chẳng tác khởi tướng nói...
Nghĩa như vậy thì gọi là tướng Vô tướng. Do tướng vô tướng nên được Vô
Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử ! Như lời ông nói, nghe
tiếng ác nên đến ba đường, thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao vậy ? Vì chẳng
phải do tiếng ác mà đến ba đường. Ông phải biết, kết quả này chính là do
tâm ác. Sở dĩ vì sao ? Vì có thiện nam tử, thiện nữ nhân.v.v... tuy nghe
tiếng ác nhưng tâm chẳng sinh ra ác. Vậy nên ông phải rằng, chẳng phải
nhân tiếng ác mà sinh ra trong ba đường. Các chúng sinh nhân phiền não
kết, tâm ác nhiều thêm nên sinh ba đường ác, chẳng phải nhân tiếng ác. Nếu
tiếng có định tướng thì những người có nghe đều ứng sinh ra tâm ác, nhưng
lại có người sinh, có không sinh. Vậy nên phải biết rằng, tiếng không có
định tướng, tuy lại nhân vào đó nhưng chẳng sinh ra ác tâm.
- Thưa
đức Thế Tôn ! Tiếng nếu không định thì vì sao điều Bồ tát xưa chẳng nghe
mà nay được nghe ?
- Này
thiện nam tử ! Tiếng không định tưởng. Ðiều xưa chẳng nghe mà khiến cho
các Bồ tát nay được nghe. Do nghĩa này nên ta nói lời này, điều xưa chẳng
nghe mà nay được nghe. Này thiện nam tử ! Sao gọi là cái xưa chẳng thấy mà
nay được thấy ? Này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát tu tập Kinh Ðại Niết Bàn vi
diệu thì trước tiên chọn lấy tướng ánh sáng như là ánh sáng mặt trời, mặt
trăng, tinh tú, lửa sân nhà (đình liệu) đèn, đuốc, hỏa châu, dược
thảo.v.v... Do tu tập nên được nhãn căn khác, khác với sở đắc của Thanh
Văn, Duyên Giác. Những gì là khác ? Thiên nhãn thanh tịnh sở đắc của hàng
Nhị thừa, nếu nương vào Nhãn căn bốn đại của Dục giới thì chẳng thấy sơ
thiền, nếu nương sơ thiền thì chẳng thấy đất cõi trên, thậm chí mắt mình
còn chẳng thể thấy, như muốn thấy nhiều, đến cùng cực ba ngàn đại thiên
thế giới. Ðại Bồ tát chẳng tu thiên nhãn, thấy sắc thân đẹp đều là tướng
xương. Bồ tát tuy thấy sắc tướng của hằng hà sa số thế giới ở phương khác
nhưng chẳng tác khởi sắc tướng, chẳng tác khởi thường tướng, hữu tướng,
vật tướng, danh tự tướng, tướng tạo tác nhân duyên.v.v.. Chẳng tác khởi
tướng thấy, chẳng nói rằng, tướng mắt vi diệu thanh tịnh mà chỉ thấy tướng
nhân duyên chẳng phải nhân duyên. Sao gọi là nhân duyên ? Sắc là duyên của
mắt. Nếu giả sử sắc này chẳng phải nhân duyên thì tất cả phàm phu chẳng
ứng sinh ra tướng thấy sắc. Do nghĩa này nên sắc gọi là nhân duyên. Chẳng
phải nhân duyên là Ðại Bồ tát tuy lại thấy sắc nhưng chẳng sinh ra sắc
tướng. Vậy nên chẳng phải là duyên. Do nghĩa này nên thiên nhãn thanh tịnh
sở đắc của Bồ tát khác với sở đắc của Thanh Văn, Duyên Giác. Do sự khác
này nên cùng một lúc thấy khắp các đức Phật hiện tại của mười phương thế
giới. Ðó gọi là điều xưa Bồ tát chẳng thấy mà nay được thấy. Do sự khác
này nên có thể thấy vi trần, cái mà Thanh Văn, Duyên Giác chẳng thể thấy.
Do sự khác này nên tuy thấy nhưng mắt mình đầu tiên không thấy tướng, thấy
tướng vô thường, thấy thân phàm phu tràn đầy ba mươi sáu vật bất tịnh như
xem quả A ma lạc trong lòng bàn tay. Do nghĩa này nên nói điều xưa chẳng
thấy mà nay được thấy. Nếu thấy sắc tướng sở hữu của chúng sinh thì biết
căn người ấy đại thừa hay tiểu thừa. Nếu chạm vào áo cũng biết các căn sai
biệt thiện, ác của người đó. Do nghĩa này nên nói, điều xưa chẳng biết mà
nay được biết. Do sự biết này nên điều xưa chẳng biết mà nay được biết. Do
sự biết này nên điều xưa chẳng thấy mà nay được thấy. Lại nữa, này thiện
nam tử ! Sao gọi là điều xưa Bồ tát chẳng biết mà nay được biết ? Ðại Bồ
tát tuy biết lòng của phàm phu tham, sân, si nhưng ban đầu chẳng tác khởi
tướng tâm và tâm số, chẳng tác khởi tướng chúng sinh và cả tướng vật, tu
Ðệ nhất nghĩa rốt ráo không tướng. Vì sao vậy ? Vì tất cả Bồ tát thường
khéo tu tập tướng không tính. Do tu tập “không” nên điều xưa chẳng biết mà
nay được biết. Sao gọi là biết ? Biết không có ngã, không có ngã sở, biết
các chúng sinh đều có Phật tính. Do Phật tính nên Nhất xiển đề.v.v... lìa
bỏ bản tâm thì đều sẽ được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Những
điều này đều là điều chẳng thể biết của Thanh Văn, Duyên Giác. Do nghĩa
này nên nói, điều xưa chẳng biết mà nay được biết. Lại nữa, này thiện nam
tử ! Sao gọi là điều xưa chẳng biết mà nay được biết ? Ðại Bồ tát tu kinh
điển Ðại Niết Bàn vi diệu, nghĩ đến đời sống, dòng họ, cha mẹ, anh em, vợ
con, quyến thuộc, bạn bè, oán ghét của tất cả chúng sinh đời quá khứ. Ở
trong một niệm được trí khác lạ, khác với trí tuệ của Thanh Văn, Duyên
Giác. Sao gọi là khác ? Trí tuệ sở hữu của Thanh Văn, Duyên Giác nghĩ đến
dòng họ, cha mẹ... cho đến kẻ oán ghét của chúng sinh sở hữu trong đời quá
khứ mà tác khởi tướng chủng tính.... cho đến tướng oán ghét. Bồ tát chẳng
vậy, tuy nghĩ đến dòng họ, cha mẹ... cho đến kẻ oán ghét ở đời quá khứ
nhưng nhất định chẳng sinh ra tướng dòng họ, tướng cha mẹ... tướng oán
ghét.v.v... thường tác khởi pháp tướng, tướng không tịch. Ðó gọi là điều
xưa Bồ tát chẳng biết mà nay được biết. Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi
là điều xưa chẳng biết mà nay được biết ? Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết
Bàn vi diệu được trí Tha Tâm (trí biết tâm người khác) khác với sở đắc của
Thanh Văn, Duyên Giác. Sao gọi là khác ? Khi Thanh Văn, Duyên Giác dùng
một niệm trí để biết lòng người thì chẳng thể biết tâm của địa ngục, súc
sinh, ngã quỉ và trời. Bồ tát chẳng vậy, ở trong một niệm biết khắp lòng
của chúng sinh trong sáu đường. Ðó gọi là điều xưa Bồ tát chẳng biết mà
nay được biết. Lại nữa, này thiện nam tử ! Lại có sự biết khác. Ðại Bồ tát
ở trong một tâm, biết từ tâm đầu tiên của Tu đà hoàn, rồi lần lượt đến
mười sáu tâm. Do nghĩa này nên nói, điều xưa chẳng biết mà nay được biết.
Ðó là Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ hai.
Lại nữa,
này thiện nam tử ! Sao gọi là Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thành tựu đầy đủ
công đức thứ ba ? Này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn bỏ Từ được
Từ (Từ Bi), khi được Từ chẳng Từ nhân duyên. Sao gọi là bỏ Từ được Từ ?
Này thiện nam tử ! Từ là gọi thế đế. Ðại Bồ tát bỏ Từ thế đế, được đệ nhất
nghĩa từ. Ðệ nhất nghĩa Từ chẳng từ duyên mà được. Lại nữa, sao gọi là bỏ
Từ được Từ ? Từ nếu có thể bỏ thì gọi là Từ phàm phu. Từ nếu có thể được
thì tức là Từ không duyên của Bồ tát. Bỏ Từ nhất xiển đề, Từ phạm trọng
cấm, Từ bài báng Phương Ðẳng, Từ tạo ngũ nghịch để được Từ lân mẫn, được
Từ Như Lai, Từ Thế Tôn, Từ không nhân duyên. Sao lại gọi là bỏ Từ được Từ.
Bỏ Từ của bọn Huỳnh môn, Từ của người không căn, người hai căn, người nữ,
Từ của đồ tể, thợ săn, người nuôi dưỡng gà, heo.v.v... cũng bỏ Từ của
Thanh Văn, Bích Chi Phật để được Từ không nhân duyên của những Bồ tát.
Hành giả chẳng thấy Từ của mình, chẳng thấy từ của người khác, chẳng thấy
trì giới, chẳng thấy phá giới. Tuy tự thấy “bi” nhưng chẳng thấy chúng
sinh. Tuy có khổ thọ nhưng chẳng thấy người thọ. Vì sao vậy ? Vì do tu Ðệ
nhất chân thật nghĩa. Ðó gọi là Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thành tựu đầy đủ
công đức thứ ba.
Lại nữa,
này thiện nam tử ! Sao gọi là Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thành tựu đầy đủ
công đức thứ tư ? Này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thành tựu
đầy đủ công đức thứ tư thì có mười việc. Những gì là mười ? Một là rễ
(căn) sâu khó có thể nhổ bật. Hai là tự thân sinh quyết định tưởng. Ba là
chẳng quan sát phước điền và chẳng phải phước điền. Bốn là tu cõi Phật
thanh tịnh. Năm là diệt trừ “hữu dư”. Sáu là đoạn trừ nghiệp duyên. Bảy là
tu thân thanh tịnh. Tám là rõ biết các duyên. Chín là lìa các oán địch.
Mười là đoạn trừ nhị biên. Sao gọi là rễ sâu khó nhổ bật. Cái gọi là rễ
(căn) tức là gọi chẳng phóng dật. Chẳng phóng dật là căn gì ? Ðó là căn
của Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử ! Những căn bản
thiện của tất cả chư Phật đều là chẳng phóng dật. Chẳng phóng dật nên các
thiện căn khác đắp đổi thêm lớn. Do nó có thể làm tăng trưởng các thiện
căn nên ở trong các thiện, là tối thù thắng. Này thiện nam tử ! Như trong
các dấu chân thì dấu chân voi là trên hết. Pháp chẳng phóng dật cũng lại
như vậy, đối với các thiện pháp là tối thù thắng. Này thiện nam tử ! Như
trong các ánh sáng thì ánh sáng mặt trời là trên hết. Pháp chẳng phóng dật
cũng lại như vậy, đối với các thiện pháp là tối thù thắng. Này thiện nam
tử ! Như trong các vì vua thì vua Chuyển Luân Thánh là tối đệ nhất. Pháp
chẳng phóng dật cũng lại như vậy, đối với các pháp thiện là tối đệ nhất.
Này thiện nam tử ! Như trong các dòng chảy thì bốn dòng sông là trên hết.
Pháp chẳng phóng dật cũng lại như vậy, đối với các pháp thiện là trên hết.
Này thiện nam tử ! Như trong các núi thì núi vua Tu Di là tối đệ nhất.
Pháp chẳng phóng dật cũng lại như vậy, đối với các pháp thiện là tối đệ
nhất. Này thiện nam tử ! Như trong loài hoa sinh trong nước thì hoa sen
xanh là trên hết. Pháp chẳng phóng dật cũng lại như vậy, đối với các pháp
thiện là trên hết. Này thiện nam tử ! Như trong loài hoa sinh trên đất thì
hoa Bà Lợi Sư là tối thượng. Pháp chẳng phóng dật cũng lại như vậy, đối
với các pháp thiện là tối thượng. Này thiện nam tử ! Như trong các loài
thú thì sư tử là trên hết. Pháp chẳng phóng dật cũng lại như vậy, đối với
các thiện pháp là tối thượng. Này thiện nam tử ! Như trong loài chim bay
thì vua chim cánh vàng là tối thượng. Pháp chẳng phóng dật cũng lại như
vậy, đối với các thiện pháp là tối thượng. Này thiện nam tử ! Như trong
loài thân lớn thì vua A tu la La Hầu là tối thượng. Pháp chẳng phóng dật
cũng lại như vậy, đối với các thiện pháp là tối thượng. Này thiện nam tử !
Như trong tất cả chúng sinh, hoặc loài hai chân, bốn chân, nhiều chân hay
không không chân thì Như Lai là trên hết. Pháp chẳng phóng dật cũng lại
như vậy, ở trong các thiện pháp là tối thượng. Này thiện nam tử ! Như
trong các chúng thì Phật, Tăng là trên. Pháp chẳng phóng dật cũng lại như
vậy, ở trong các thiện pháp là tối thượng. Này thiện nam tử ! Như trong
Phật pháp thì pháp Ðại Niết Bàn này là tối thượng. Pháp chẳng phóng dật
cũng lại như vậy, đối với các pháp thiện, là tối thượng. Này thiện nam tử
! Do nghĩa này nên rễ (căn) chẳng phóng dật thâm sâu, bền chắc khó bứng
lên được. Sao gọi là chẳng phóng dật mà được tăng trưởng ? Như là tín căn,
giới căn, thí căn, tuệ căn, nhẫn căn, văn (nghe) căn, tấn căn, niệm căn,
định căn, thiện tri thức căn... Những căn như vậy mà chẳng phóng dật thì
được tăng trưởng. Do chúng tăng trưởng nên thâm sâu bền chắc khó bứng lên
được. Do nghĩa này nên gọi là Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thì căn thâm sâu
khó bứng lên được.
Sao gọi
là đối với thân tạo tác quyết định tưởng ? Ðối với tự thân đã sinh tâm
quyết định rằng : “Thân này của ta hôm nay ở đời vị lai, nhất định sẽ làm
pháp khí Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Tâm cũng như vậy, chẳng tác khởi
nhỏ hẹp, chẳng tác khởi biến dị, chẳng tác khởi tâm Thanh Văn, Bích Chi
Phật, chẳng tác khởi tâm ma và tâm tự lạc, tâm ưa sinh tử. Ta luôn vì
chúng sinh cầu tâm Từ Bi”. Ðó gọi là Bồ tát, ở trong tự thân, sinh ra tâm
quyết định “Ta ở đời vị lai sẽ làm pháp khí Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh
Giác”. Do nghĩa này nên Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thì ở trong tự thân
sinh ra quyết định tưởng.
Sao gọi
là Bồ tát chẳng quán phước điền (ruộng phước) và chẳng phải phước điền ?
Sao gọi là phước điền ? Kẻ ngoại đạo trì giới... lên đến các đức Phật thì
đó gọi là phước điền. Nếu có người nghĩ rằng, những bọn như vậy là chân
phước điền thì phải biết tâm này là hẹp hòi, hèn yếu. Ðại Bồ tát đều quán
tất cả vô lượng chúng sinh không chẳng phải phước điền. Vì sao vậy ? Vì do
khéo tu tập niệm xứ khác. Có niệm xứ khác khéo tu tập là : quán các chúng
sinh không có trì giới và cả hủy giới, thường quán lời nói của các đức
Phật Thế Tôn. Thí tuy có bốn thứ nhưng đều được quả báo thanh tịnh. Những
gì là bốn ? Một là thí chủ thanh tịnh, người thọ thí bất tịnh. Hai là thí
chủ bất tịnh, người thọ thí thanh tịnh. Ba là người thí, kẻ thọ thí đều
thanh tịnh. Bốn là cả hai đều bất tịnh. Sao gọi là thí chủ thanh tịnh,
người thọ thí bất tịnh ? Thí chủ có đủ giới, đa văn, trí tuệ, biết có huệ
thí và cả quả báo. Kẻ thọ thí phá giới, chuyên chấp trước tà kiến, không
huệ thí, không quả báo. Ðó gọi là thí chủ thanh tịnh, người thọ thí bất
tịnh. Sao gọi là người thọ thí thanh tịnh, thí chủ bất tịnh ? Thí chủ phá
giới, chuyên chấp trước tà kiến, nói rằng không huệ thí và cả quả báo. Kẻ
thọ thí trì giới, đa văn, trí tuệ, biết có huệ thí và quả báo thí. Ðó gọi
là thí chủ bất tịnh, người thọ thí thanh tịnh. Sao gọi là người thí, kẻ
thọ đều thanh tịnh ? Người thí, kẻ thọ đều có trì giới, đa văn, trí tuệ,
biết có huệ thí và quả báo thí. Ðó gọi là kẻ thí, người thọ cả hai đều
thanh tịnh. Sao gọi là cả hai đều bất tịnh ? Người thí, kẻ thọ đều phá
giới, tà kiến và nói rằng, không có thí và quả báo thí. Nếu như vậy thì
sao lại gọi rằng, được tịnh quả báo ? Do không thí, không quả báo nên gọi
là thanh tịnh. Này thiện nam tử ! Nếu có người chẳng thấy bố thí và quả
báo thí thì phải biết người này chẳng gọi phá giới, chuyên chấp trước tà
kiến. Nếu nương vào Thanh Văn mà nói rằng, chẳng thấy bố thí và quả báo
thí thì đó gọi là phá giới, tà kiến. Nếu y vào Kinh Ðại Niết Bàn như vậy
mà chẳng thấy huệ thí và quả báo thí thì đó gọi là trì giới, chánh kiến.
Ðại Bồ tát có niệm xứ khác để tu tập nên chẳng thấy chúng sinh trì giới,
phá giới, người thí, kẻ thọ và quả báo thí. Vậy nên được gọi là trì giới,
chánh kiến. Do nghĩa này nên Ðại Bồ tát chẳng quán phước điền và chẳng
phải phước điền.
Sao gọi
là đất nước Phật thanh tịnh ? Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu
vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì độ chúng sinh nên lìa khỏi tâm giết
hại. Rồi đem thiện căn này nguyện cùng chung với tất cả chúng sinh. Nguyện
cho các chúng sinh được thọ mạng lâu dài, có thế lực lớn, được đại thần
thông. Do sức của nhân duyên thệ nguyện này nên ở đời vị lai, khi thành
Phật thì tất cả chúng sinh sở hữu của đất nước được thọ mạng lâu dài, có
đại thế lực, được đại thần thông. Lại nữa, này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát
tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì
độ chúng sinh nên lìa khỏi tâm trộm cắp. Rồi đem thiện căn này nguyện cùng
chung với tất cả chúng sinh. Nguyện cho sở hữu đất đai của đất nước chư
Phật thuần là bảy báu, chúng sinh giàu có đầy đủ, sở dục thỏa lòng mình.
Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên ở đời vị lai, khi thành Phật thì
đất nước sở đắc thuần là bảy báu, chúng sinh giàu có đầy đủ, sở dục thỏa
lòng mình. Lại nữa, này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết
Bàn vi diệu vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì độ chúng sinh nên lìa
khỏi tâm dâm dục. Rồi đem thiện căn này nguyện cùng chung với tất cả chúng
sinh. Nguyện cho chúng sinh sở hữu của các cõi Phật không có tâm tham dục,
sân nhuế, ngu si, cũng không có hoạn nạn đói khát khổ não. Do lực của nhân
duyên thệ nguyện này nên ở đời vị lai, khi thành Phật thì chúng sinh trong
đất nước mình xa lìa tâm tham dâm, sân nhuế, ngu si và tất cả không có đói
khát khổ não. Lại nữa, này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết
Bàn vi diệu vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì độ chúng sinh nên lìa
khỏi tâm vọng ngữ. Rồi đem thiện căn này nguyện cùng chung với tất cả
chúng sinh. Nguyện cho các cõi Phật thường có rừng sum suê cây trái, hương
hoa, chúng sinh sở hữu được âm thanh vi diệu. Do lực của nhân duyên thệ
nguyện này nên vào đời vị lai, khi thành Phật thì đất nước sở hữu thường
có rừng sum suê cây trái, hương hoa. Chúng sinh trong cõi ấy đều được âm
thanh thượng diệu thanh tịnh. Lại nữa, này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát tu
kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì độ
chúng sinh nên xa lìa nói hai lưỡi. Rồi đem thiện căn này nguyện cùng
chung với tất cả chúng sinh. Nguyện cho chúng sinh sở hữu của các cõi Phật
thường chung hòa hợp giảng nói chánh pháp. Do lực của nhân duyên thệ
nguyện này nên khi thành Phật thì tất cả chúng sinh sở hữu của đất nước
mình đều chung hòa hợp giảng luận pháp yếu. Lại nữa, này thiện nam tử !
Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh
Giác, vì độ chúng sinh nên xa lìa ác khẩu. Rồi đem thiện căn này nguyện
cùng chung với tất cả chúng sinh. Nguyện cho đất của các cõi Phật bằng
phẳng như bàn tay, không cát đá, gai góc ác nhọn... Chúng sinh sở hữu của
những cõi ấy, lòng bình đẳng. Do lực nhân duyên của thệ nguyện này nên vào
đời vị lai, khi thành Phật thì đất đai của đất nước sở đắc bằng phẳng như
bàn tay, không có cát đá, gai gọc nhọn ác và chúng sinh sở hữu thì lòng họ
bình đẳng. Lại nữa, này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết
Bàn vi diệu vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì độ chúng sinh nên lìa
khỏi lời nói vô nghĩa. Rồi đem thiện căn này nguyện cùng chung với tất cả
chúng sinh. Nguyện cho chúng sinh sở hữu của các cõi Phật không có khổ
não. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên vào đời vị lai, khi thành
Phật thì tất cả chúng sinh sở hữu của đất nước không có khổ não. Lại nữa,
này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu vì Vô
Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì độ chúng sinh nên xa lìa tham tật (tham
lam ganh ghét). Ðem thiện căn này nguyện cùng chung với tất cả chúng sinh.
Nguyện cho tất cả chúng sinh của các cõi Phật không có tham tật, não hại,
tà kiến. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên vào đời vị lai, khi
thành Phật thì tất cả chúng sinh sở hữu của đất nước đều không tham tật,
não hại, tà kiến. Lại nữa, này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại
Niết Bàn vi diệu vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì độ chúng sinh nên
xa lìa não hại. Rồi đem thiện căn này nguyện cùng chung với tất cả chúng
sinh. Nguyện cho sở hữu của các cõi Phật đều chung tu tập đại từ đại bi;
được địa vị nhất tử. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên vào đời vị
lai, khi thành Phật thì tất cả chúng sinh sở hữu của thế giới đều chung tu
tập đại từ đại bi, được địa vị nhất tử. Lại nữa, này thiện nam tử ! Ðại Bồ
tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác,
vì độ chúng sinh nên xa lìa tà kiến. Rồi đem thiện căn này nguyện cùng
chung với tất cả chúng sinh. Nguyện cho chúng sinh sở hữu của các cõi Phật
đều được Ma Ha Bát Nhã Balamật. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên
vào đời vị lai, khi thành Phật thì chúng sinh của thế giới đều được thọ
trì Ma Ha Bát Nhã Balamật. Ðó gọi là Bồ tát tu tịnh Phật thổ.
Sao gọi
là Ðại Bồ tát diệt trừ hữu dư ?. Hữu dư có ba, một là phiền não dư báo,
hai là dư nghiệp, ba là dư hữu. Này thiện nam tử ! Sao gọi là phiền não dư
báo ? Nếu có chúng sinh quen gần tham dục mà quả báo này thành thục thì
đọa vào địa ngục. Từ địa ngục ra thì thọ thân súc sinh như là bồ câu, chim
sẻ, uyên ương, anh vũ, kỳ bà kỳ bà, chim Xá lợi dà, thanh tước, cá, rùa,
khỉ, nai... Nếu được thân người thì thọ hình dáng huỳnh môn, nữ nhân,
người hai căn hay không căn, dâm nữ. Nếu được xuất gia thì phạm giới nặng
đầu tiên. Ðó gọi là dư báo. Lại nữa, này thiện nam tử ! Nếu có chúng sinh
đem lòng ân trọng quen gần sân nhuế. Quả báo này thành thục nên rơi vào
địa ngục. Từ địa ngục ra thọ thân súc sinh như là rắn độc đủ bốn thứ độc :
thấy độc, chạm độc, cắn độc, lìa hơi độc, hoặc là sư tử, cọp, sói, gấu,
mèo, chồn, chim ưng, diều hâu.v.v... Nếu được thân người thì đầy đủ mười
sáu những luật nghi ác. Nếu được xuất gia thì phạm trọng giới thứ hai. Ðó
gọi là dư báo. Lại nữa, này thiện nam tử ! Nếu có người tu tập ngu si thì
khi quả báo này thành thục, rơi vào địa ngục. Từ địa ngục ra, thọ thân súc
sinh như là voi, heo, trâu, dê, trâu nước, rận, bọ chét, nhặng, kiến.v.v..
Nếu được thân người thì điếc, mù, câm, ngọng, tàn phế, lưng gù... các căn
chẳng đủ, chẳng thể thọ pháp. Nếu được xuất gia thì các căn ám độn, ưa
phạm trọng giới... cho đến tội thấp hèn. Ðó gọi là dư báo. Lại nữa, này
thiện nam tử ! Nếu có người tu tập kiêu mạn thì khi quả báo thành thục,
rơi vào địa ngục. Từ địa ngục ra, thọ thân súc sinh như là trùng phân, lạc
đà, lừa, chó, ngựa. Nếu sinh ra trong loài người thì thọ thân nô tỳ, nghèo
cùng, ăn xin. Hoặc được xuất gia thì thường bị sự khinh miệt của chúng
sinh và phá giới thứ tư. Ðó gọi là dư báo. Những điều như vậy.v.v... gọi
là phiền não dư báo. Những dư báo như vậy, Ðại Bồ tát nhờ tu tập Kinh Ðại
Niết Bàn nên đều được trừ diệt. Sao gọi là dư nghiệp ? Ðó là gọi nghiệp
của tất cả phàm phu, nghiệp của tất cả Thanh Văn, người Tu đà hoàn thọ bảy
hữu nghiệp, người Tư đà hàm thọ hai hữu nghiệp, người A na hàm thọ sắc hữu
nghiệp. Ðó gọi là dư nghiệp. Những dư nghiệp như vậy, Ðại Bồ tát nhờ khả
năng tu tập Kinh Ðại Niết Bàn nên đều được đoạn trừ. Sao gọi là dư hữu ? A
la hán được quả A la hán, Bích Chi Phật được quả Bích Chi Phật, không
nghiệp không kết mà chuyển thành hai quả. Ðó gọi là dư hữu. Ba thứ pháp
hữu dư này, Ðại Bồ tát tu tập kinh Ðại Thừa Ðại Niết Bàn nên được diệt
trừ. Ðó gọi là Ðại Bồ tát diệt trừ hữu dư.
Sao gọi
là Bồ tát tu thanh tịnh thân ? Ðại Bồ tát tu giới bất sát có năm thứ tâm
là hạ, trung, thượng, thượng trung và thượng thượng... cho đến tu Chánh
kiến cũng lại như vậy. Năm mươi thứ tâm này gọi là tâm sơ phát (tâm phát
đầu tiên). Ðầy đủ quyết định thành năm mươi tâm thì gọi là mãn túc (đủ
đầy). Một trăm như vậy gọi là một trăm phước đức. Ðầy đủ một trăm phước
đức thì thành được một tướng. Cứ như vậy đắp đổi thành tựu đầy đủ ba mươi
hai tướng thì gọi thân thanh tịnh. Sở dĩ vì sao lại tu tám mươi vẻ đẹp ?
Ðời có chúng sinh thờ tám mươi vị thần. Những gì là tám mươi ? Ðó là mười
hai mặt trời, mười hai đại thiên, năm vì tinh tú lớn là sao Bắc Ðẩu, sao
Mã thiên, sao Hành Ðạo thiên, sao Bà La Ðọa Bạt Xà thiên, sao Công Ðức
thiên, hai mươi tám vì sao, Ðịa thiên, Phong thiên, Thủy thiên, Hỏa thiên,
Phạm thiên, Lâu Ðà thiên, Nhân Ðề thiên, Câu Ma La thiên, Bát Tý thiên, Ma
Ê Thủ La thiên, Bán Xà La thiên, Quỷ Tử Mẫu thiên, Tứ Thiên Vương thiên,
Tạo Trú thiên, Bà Tẩu thiên, (18 trời). Ðó gọi là tám mươi. Bồ tát vì
chúng sinh này tu tám mươi vẻ đẹp để tự trang nghiêm. Ðó gọi là thân Bồ
tát thanh tịnh. Vì sao vậy ? Vì tám mươi trời đó được sự tín phục của tất
cả chúng sinh. Vậy nên Bồ tát tu tám mươi vẻ đẹp mà thân ấy chẳng động
khiến cho chúng sinh theo sự tin ấy, mỗi mỗi đều được thấy. Thấy rồi họ
đều tôn kính và phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do nghĩa này nên
Ðại Bồ tát tu thân thanh tịnh. Này thiện nam tử ! Ví như có người muốn
thỉnh vị vua lớn thì cần phải trang nghiêm nhà cửa sở hữu cho cực kỳ thanh
tịnh, bày biện đủ thứ trăm món ăn ngon lành, rồi nhiên hậu mới thỉnh vua
đến. Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, muốn thỉnh vua Pháp Luân Vô Thượng Chánh
Ðẳng Chánh Giác thì trước phải sửa thân cho cực kỳ thanh tịnh, rồi vua
pháp Vô thượng mới sẽ đến ở đó. Do nghĩa này nên Ðại Bồ tát cần phải tu
thân thanh tịnh. Này thiện nam tử ! Ví như có người muốn uống cam lộ thì
trước phải tịnh thân. Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, muốn uống pháp vị cam
lộ Vô thượng Bát Nhã Balamật thì cần phải trước dùng tám mươi vẻ đẹp mà
thanh tịnh thân ấy. Này thiện nam tử! Ví như bảo khí bằng vàng bạc tốt đẹp
đựng nước sạch thì trong ngoài đều sạch. Thân thanh tịnh ấy của Ðại Bồ tát
cũng lại như vậy, đựng nước Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì trong
ngoài đều thanh tịnh. Này thiện nam tử ! Như áo lụa trắng Ba la nại dễ
chịu nhuộm màu. Vì sao vậy ? Vì tính bạch tịnh vậy. Ðại Bồ tát cũng lại
như vậy, do thân thanh tịnh nên mau chóng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh
Giác. Do nghĩa này nên Ðại Bồ tát tu thân thanh tịnh. Sao gọi là Ðại Bồ
tát rõ biết các duyên ? Ðại Bồ tát chẳng thấy sắc tướng, chẳng thấy sắc
duyên, chẳng thấy sắc thể, chẳng thấy sắc sinh, chẳng thấy sắc diệt, chẳng
thấy một tướng, chẳng thấy dị tướng (tướng khác), chẳng thấy người thấy,
chẳng thấy tướng mạo, chẳng thấy người thọ. Vì sao vậy ? Vì rõ nhân duyên
vậy. Như sắc, tất cả pháp cũng như vậy. Ðó gọi là Bồ tát rõ biết các
duyên.
Sao gọi
là Bồ tát loại các oán địch ? Tất cả phiền não là oán của Bồ tát nên đại
Bồ tát thường xa lìa. Ðó gọi là Bồ tát hoại các oán địch. Bồ tát ngũ trụ
nhìn thấy các phiền não chẳng gọi là oán địch. Sở dĩ vì sao ? Vì nhân
phiền não nên Bồ tát có sinh, do có sinh nên có thể đắp đổi giáo hóa chúng
sinh. Do nghĩa này nên chẳng gọi là oán. Những gì là oán ? Ðó là người bài
báng Kinh Phương Ðẳng Bồ tát tùy theo chỗ sinh ra, chẳng sợ địa ngục, súc
sinh, ngã quỹ mà chỉ sợ người bài báng Phương Ðẳng như vậy. Tất cả Bồ tát
có tám thứ ma gọi là oán gia, xa lìa tám ma này gọi là lìa khỏi oán gia.
Ðó gọi là Bồ tát lìa các oán địch.
Sao gọi
là Bồ tát xa lìa nhị biên ? Nói nhị biên là gọi hai mươi lăm cõi hữu và ái
phiền não. Bồ tát thường lìa khỏi hai mươi lăm cõi hữu và ái phiền não thì
đó gọi là Bồ tát lìa nhị biên. Ðó gọi là Ðại Bồ tát tu Ðại Niết bàn thành
tựu đầy đủ công đức theo thứ tự.
Lúc bấy
giờ, Ðại Bồ tát Quanh Minh Biến Chiếu Cao Quý Ðức Vương bạch rằng :
- Như
lời đức Phật nói, nếu có Bồ tát tu tập Kinh Ðại Niết Bàn thì đều tạo tác
mười việc công đức. Như vậy thì sao đức Như Lai chỉ tu chín việc mà chẳng
tu tịnh thổ (Cõi thanh tịnh) ?
Ðức Phật
dạy rằng :
- Này
thiện nam tử ! Ta, vào thuở xưa, cũng thường tu đủ mười việc như vậy. Tất
cả Bồ tát và các đức Như Lai không ai chẳng tu đủ mười việc như vậy. Nếu
giả sử thế giới bất tịnh mà tràn đầy các đức Phật Thế Tôn xuất hiện trong
đó thì không có việc này. Này thiện nam tử ! Ông nay cho rằng, các đức
Phật xuất hiện ở thế giới bất tịnh. Ông phải biết tấm lòng này chẳng tốt,
hẹp hòi, hèn yếu. Ông nay phải biết, Ta thật chẳng xuất hiện ở cõi Diêm
Phù Ðề. Ví như có người nói rằng, cõi này độc nhất có mặt trời, mặt trăng,
thế giới phương khác không có mặt trời, mặt trăng. Lời nói như vậy không
có nghĩa lý. Nếu có Bồ tát phát ngôn như vầy : “Thế giới Phật này uế ác
bất tịnh, cõi Phật phương khác thanh tịnh trang nghiêm thì cũng lại như
vậy”. Này thiện nam tử ! Phương Tây, cách thế giới Ta bà này độ ba mươi
hai lần cát sông Hằng những cõi Phật, tại đó có thế giới tên là Vô Thắng.
Cõi đó vì sao tên là Vô Thắng ? Vì việc trang nghiêm sở hữu của cõi ấy đều
bình đẳng, không có sai biệt giống như thế giới An Lạc ở phương Tây, cũng
như thế giới Mãn Nguyệt ở phương Ðông. Ta ở cõi Vô Thắng đó xuất hiện ở
đời. Vì hóa độ chúng sinh nên ta ở trong cõi Diêm Phù Ðề này thị hiện
chuyển bánh xe pháp. Chẳng phải chỉ độc một mình thân ta, ở trong cõi này,
thị hiện chuyển pháp luân. Tất cả các đức Phật cũng ở trong cõi này mà
chuyển bánh xe pháp. Do nghĩa này nên các đức Phật Thế Tôn chẳng phải
chẳng tu hành mười việc như vậy. Này thiện nam tử ! Bồ tát Từ Thị do thệ
nguyện nên đời đương lai sẽ khiến cho thế giới này thanh tịnh trang
nghiêm. Do nghĩa này nên tất cả thế giới sở hữu của chư Phật không đâu
chẳng nghiêm tịnh.
Lại nữa,
này Thiện nam tử ! Sao gọi là Ðại Bồ tát tu Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu
thành tựu đầy đủ công đức thứ năm? Này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát tu Kinh
Ðại Niết bàn thành tựu đầy công đức thứ năm thì có năm việc. Những gì là
năm ? Một là các căn đầy đủ, hai là chẳng sinh ra ở vùng biên địa, ba là
chư Thiên ái niệm, bốn là thường được sự cung kính của trời, ma, samôn,
sát lợi, Bàlamôn.v.v..., năm là được trí túc mạng. Bồ tát do lực của nhân
duyên Ðại Niết Bàn này nên đầy đủ năm việc công đức như vậy.
Bồ tát
Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Ðức Vương bạch rằng :
- Như
lời đức Phật nói, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân tu bố thí thì được
thành tựu đầy đủ năm việc công đức, thì sao hôm nay Ngài nói rằng : Nhân
Ðại Niết Bàn được năm việc này ?
Ðức Phật
dạy rằng :
- Hay
thay ! Hay thay ! Này thiện nam tử ! Việc như vậy, ý nghĩa của nó đều
khác. Hôm nay ta sẽ vì ông phân biệt, giải nói. Bố thí được năm việc là
chẳng định, chẳng thường, chẳng tịnh, chẳng thắng và chẳng khác. Ðó chẳng
phải là vô lậu, chẳng thể lợi ích, an lạc, thương xót tất cả chúng sinh.
Nếu nương vào Kinh Ðại Niết Bàn như vậy thì năm việc sở đắc là định, là
thường , là tịnh, là thắng là khác. Ðó là vô lậu có thể lợi ích, an lạc,
thương xót tất cả chúng sinh. Này thiện nam tử ! Luận về bố thí thì được
lìa khỏi đói khát. Kinh Ðại Niết Bàn có thể khiến cho chúng sinh đều được
lìa khỏi bệnh khát ái (khao khát ái dục) của hai mươi lăm cõi hữu. Nhân
duyên bố thí khiến cho sinh tử nối tiếp nhau. Kinh Ðại Niết Bàn có khiến
cho sinh tử đoạn trừ, chẳng nối tiếp nhau. Nhân sinh tử nên chịu pháp phàm
phu, nhân đại Niết Bàn được làm Bồ tát. Nhân duyên bố thí có thể đoạn trừ
tất cảbần cùng khổ não, Kinh Ðại Niết Bàn có thể đoạn trừ tất cả sự nghèo
thiện pháp. Nhân duyên bố thí có phân biệt, có quả báo, nhân duyên Ðại
Niết Bàn được Vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, không phân biệt, không quả
báo. Ðều gọi là Ðại Bồ tát tu Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu thành tựu đầy
đủ công đức thứ năm.
Này
thiện nam tử ! Sao gọi là Bồ tát tu Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu thành
tựu đầy đủ công đức thứ sáu ? Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn được Kim Cương
tam muội. Bồ tát an trụ trong tam muội này đều có thể phá tan tất cả các
pháp, thấy tất cả pháp đều là Vô thường, đều là động tướng, nhân duyên của
khủng bố, bệnh khổ, trộm cướp, từng niệm từng niệm diệt hoại không có chân
thật, tất cả đều là cảnh giới của ma, không thể thấy tướng. Ðại Bồ tát trụ
ở tam muội này, tuy bố thí cho chúng sinh nhưng thậm chí chẳng thấy một
chúng sinh thật. Vì chúng sinh nên tinh cần tu tập Thi Balamật (trì giới
độ vô cực)... cho đến tu tập Bát nhã Balamật cũng lại như vậy, nếu Bồ tát
thấy có một chúng sinh chẳng thể rốt ráo thành tựu đầy đủ Ðàn Balamật cho
đến Bát nhã Balamật. Này thiện nam tử ! Ví như chỗ mô phỏng theo Kim
cương. Không gì chẳng tan nát mà chính Kim cương không có gẫy tổn. Kim
cương tam muội cũng lại như vậy, pháp không theo không gì chẳng tan nát mà
chính tam muội không có gẫy tổn. Này thiện nam tử ! Như trong các báu Kim
cương là tối thắng. Kim cương tam muội sở đắc của Bồ tát cũng lại như vậy,
đối với các tam muội là tối đệ nhất. Vì sao vậy ? Vì đại Bồ tát tu tam
muội này thì tất cả tam muội đều đến qui thuộc. Này thiện nam tử ! Như
các tiểu vương đều đến qui thuộc Chuyển luân Thánh vương. Tất cả tam muội
cũng lại như vậy đều đến qui thuộc Kim cương tam muội. Này thiện nam tử !
Ví như có người là oán thù của nước, là sự chán ghét tai họa của người.
Nếu có người giết hắn thì tất cả người đời không ai chẳng xưng tán công
đức người này. Kim cương tam muội cũng lại như vậy, Bồ tát tu tập có thể
hoại oán địch của tất cả chúng sinh. Vậy nên thường được tôn kính của tất
cả tam muội. Này thiện nam tử! Ví như có người mà sức rất mạnh mẽ không ai
đương cự được. Nhưng lại có người mà sức có thể hàng phục được người đó
thì phải biết người này được đời khen ngợi. Kim cương tam muội cũng lại
như vậy, sức có thể tiêu diệt, hàng phục pháp khó hàng phục. Do nghĩa này
nên tất cả tam muội đều đến qui thuộc. Này thiện nam tử ! Ví như có người
tắm ở tại biển lớn thì phải biết người này đã sử dụng nước của những dòng
sông, dòng suối và ao. Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, tu tập Kim cương tam
muội như vậy thì phải biết là đã tu tập tất cả các tam muội còn lại. Này
thiện nam tử ! Như trong núi Hương Sơn có một dòng nước suối tên là A nậu
đạt. Suối ấy đầy đủ nước tám vị. Có người uống nước suối ấy thì không có
các bệnh khổ. Kim cương tam muội cũng lại như vậy, đủ tám chánh đạo mà Bồ
tát tu tập thì đoạn trừ những trọng bệnh ghẻ lở phiền não. Này thiện nam
tử ! Như người cúng dường trời Ma ê thủ la thì phải biết người này đã là
cúng dường tất cả chư thiên. Kim cương tam muội cũng lại như vậy, nếu có
người tu tập thì phải biết người này đã tu tập tất cả các tam muội còn
lại. Này thiện nam tử ! Nếu có Bồ tát an trụ ở Kim cương tam muội như vậy
thì thấy tất cả pháp không có chướng ngại như xem quả Amalặc ở trong lòng
bàn tay. Bồ tát tuy lại được thấy như vậy nhưng nhất định chẳng tác khởi
tư tưởng thấy tất cả pháp. Này thiện nam tử ! Ví như có người ngồi ngã tư
đường thấy các chúng sinh đi, lại, ngồi, nằm. Kim cương tam muội cũng lại
như vậy, thấy tất cả pháp sinh, diệt, hiện ra, mất đi. Này thiện nam tử !
Ví như núi cao, có người leo lên đó, trông xa các phương đều tỏ rõ. Núi
định Kim cương cũng lại như vậy, Bồ tát leo lên đó xa trông các pháp,
không pháp nào chẳng sáng tỏ. Này thiện nam tử ! Ví như tháng mùa Xuân
trời tuông mưa ngọt. Những giọt mưa ấy đan xen không chỗ trống, người mắt
sáng thấy chúng rõ ràng. Bồ tát cũng vậy, được mắt thanh tịnh Kim cương
định, thấy từ xa những thế giới sở hữu của phương Ðông. Trong số ấy, hoặc
có đất nước thành hay hoại... tất cả đều thấy rõ ràng không ngăn ngại...
cho đến mười phương cũng lại như vậy. Này thiện nam tử ! Như núi Do Càn
Ðà, khi bảy mặt trời đồng thời xuất hiện thì cây cối, rừng rậm sở hữu của
núi ấy, tất cả đều cháy hết. Bồ tát tu tập Kim cương tam muội cũng lại như
vậy, tất cả rừng rậm phiền não sở hữu tức thời tiêu diệt. Này thiện nam
tử! Ví như Kim cương tuy có thể diệt phá tất cả vật nhưng nhất định chẳng
sinh ra ý niệm : “Ta có thể diệt phá”. Kim cương tam muội cũng lại như
vậy, Bồ tát tu rồi có thể phá phiền não nhưng nhất định chẳng sinh ý niệm
: “Ta có thể hoại tan kết sử”. Này thiện nam tử ! Ví như đại địa có thể
trì giữ vạn vật, nhưng nhất định chẳng sinh ý niệm : “Sức ta có thể trì
giữ”. Lửa cũng chẳng nghĩ : “Ta có thể đốt cháy vật”. Nước cũng chẳng nghĩ
: “Ta có thể thấm nhuần”. Gió cũng chẳng nghĩ : “Ta có thể lay động vật”.
Không cũng chẳng nghĩ : “Ta có thể dung thọ hết”. Niết bàn cũng lại chẳng
sinh ra ý nghĩ rằng : “Ta khiến cho chúng sinh được diệt độ”. Kim Cương
tam muội cũng lại như vậy, tuy có thể diệt trừ tất cả phiền não mà đầu
tiên không có lòng nói rằng : “Ta có thể diệt”. Nếu có Bồ tát an trụ ở Kim
Cương tam muội như vậy thì ở trong một niệm, biến thân Phật mà số ấy không
lường, đầy khắp hằng hà sa số thế giới chư Phật trong mười phương. Bồ tát
này tuy làm sự biến hóa này nhưng tâm Bồ tát ấy đầu tiên không có tư tưởng
kiêu mạn. Vì sao vậy ? Vì Bồ tát thường nghĩ: “Ai có định này thì có thể
làm sự biến hóa đó ? Chỉ có Bồ tát an trụ ở Kim Cương tam muội như vậy mới
có thể làm vậy”. Ðại Bồ tát an trụ ở Kim Cương tam muội như vậy thì ở
trong một niệm, đi đến khắp mười phương hằng hà sa số thế giới của chư
Phật, rồi trở lại chỗ cũ của mình. Bồ tát tuy có lực này nhưng cũng chẳng
nghĩ rằng : “Ta có thể như vậy”. Vì sao vậy ? Vì do lực của nhân duyên tam
muội vậy. Ðại Bồ tát an trụ ở Kim Cương tam muội như vậy thì ở trong một
niệm, có thể đoạn trừ phiền não sở hữu của chúng sinh trong mười phương
hằng hà sa số thế giới mà tâm đầu tiên không có tư tưởng đoạn trừ phiền
não của các chúng sinh. Vì sao vậy ? Vì do lực của nhân duyên tam muội này
vậy. Bồ tát trụ ở Kim Cương tam muội này thì dùng một âm thanh sở hữu diễn
nói mà tất cả chúng sinh tùy theo chủng loại đều được giải rõ, thị hiện
một sắc mà tất cả chúng sinh mỗi mỗi đều thấy đủ thứ sắc tướng, an trụ một
chỗ thân chẳng di dịch mà có thể khiến cho chúng sinh tùy theo phương diện
của mình, mỗi mỗi đều thấy, diễn nói một pháp hoặc là giới hay nhập thì
tất cả chúng sinh đều tùy theo sự lý giải của mình mà được nghe hết. Bồ
tát an trụ ở tam muội như vậy, tuy thấy chúng sinh mà tâm ban đầu không có
tướng chúng sinh, tuy thấy nam nữ mà không tướng nam nữ, tuy thấy sắc pháp
mà không có tướng sắc... cho đến thấy thức cũng không tướng thức, tuy thấy
ngày đêm mà không tướng ngày đêm, tuy thấy tất cả mà không có tướng tất
cả, tuy thấy các kết của tất cả phiền não mà cũng không có tướng của tất
cả phiền não, tuy thấy tám Thánh đạo mà không tướng Thánh đạo, tuy thấy Bồ
Ðề mà không tướng Bồ Ðề, tuy thấy Niết bàn mà không tướng Niết Bàn. Vì sao
vậy ? Này thiện nam tử ! Vì tất cả các pháp vốn không có tướng vậy. Bồ tát
do lực của tam muội này nên thấy tất cả pháp như vốn không tướng. Vì sao
gọi là Kim Cương tam muội ? Này thiện nam tử ! Ví như Kim Cương ở tại
trong ngày thì màu sắc chẳng định. Kim Cương tam muội cũng lại như vậy, ở
tại đại chúng thì sắc cũng chẳng định. Vậy nên gọi là Kim Cương tam muội.
Này thiện nam tử ! Ví như Kim Cương thì tất cả người đời chẳng thể đánh
giá (bình giá). Kim Cương tam muội cũng lại như vậy, công đức sở hữu của
tam muội này thì tất cả người, trời chẳng thể đánh giá, đo lường. Vậy nên
lại gọi là Kim Cương tam muội. Này thiện nam tử ! Ví như người nghèo được
báu Kim Cương thì được xa lìa bần cùng khốn khổ, ác quỷ tà độc. Ðại Bồ tát
cũng lại như vậy, được tam muội này thì có thể xa lìa phiền não, các khổ,
các ma tà độc. Vậy nên lại gọi là Kim Cương tam muội. Ðó gọi là Bồ tát tu
Ðại Niết Bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ sáu.
KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN
- Quyển thứ hai mươi hai hết -
--- o0o ---
Mục Lục
01 |
02 |
03 | 04 |
05 |
06 | 07 |
08 |
09 | 10 |
11 |
12
13 |
14 | 15 |
16 |
17 | 18 |
19 |
20 | 21 |
22 |
23 | 24
25 |
26 | 27 |
28 |
29 | 30 |
31 | 32 |
33 |
34 | 35 |
36
--- o0o ---
|
Thư
Mục Tác Giả |
--- o0o ---
Vi tính: Thọ Huệ
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật ngày:
01-2-2003