KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN
- Hán dịch: Căn
cứ bản dịch của Tam Tạng Pháp sư
Đàm Vô Sấm,
Sa môn Tuệ Nghiêm, Tuệ Quán, và Tạ
Linh Vân sửa lại
- Đời Tống
- Việt dịch:
Tuệ Khai cư sĩ -
Phan Rang
Chứng nghĩa: Tỳ Kheo Thích Đỗng Minh
---o0o---
Quyển thứ 11
PHẨM THÁNH HẠNH
PHẦN
XIX/1.
Lúc
bấy giờ, đức Phật bảo Bồ tát Ca Diếp rằng :
- Này thiện
nam tử ! Ðại Bồ tát cần phải đối với kinh Ðại Bát Niết Bàn này, chuyên tâm
suy nghĩ về năm thứ hạnh. Những gì là năm ? Một là Thánh hạnh, hai là Phạm
hạnh, ba là Thiên hạnh, bốn là Anh nhi hạnh (hạnh trẻ con), năm là Bệnh
hạnh (hạnh người bệnh). Này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát thường phải tu tập
năm thứ hạnh này. Lại có một hạnh nữa là hạnh Như Lai, đó là Kinh Ðại thừa
Ðại Niết Bàn. Này Ca Diếp ! Sao gọi là việc tu Thánh hạnh của Ðại Bồ tát ?
Ðại Bồ tát hoặc theo Thanh Văn, theo Như Lai, được nghe Kinh Ðại Niết Bàn
như vậy mà nghe rồi thì sinh ra lòng tin, tin rồi thì nên làm theo suy
nghĩ như vầy : “Các đức Phật Thế Tôn có đạo Vô thượng, có đại chánh pháp,
có đại chúng chánh hạnh, lại có Kinh điển Ðại Thừa Phương Ðẳng. Ta nay vì
yêu thích tham cầu Kinh Ðại thừa nên lìa bỏ sự yêu vợ con, quyến thuộc,
chỗ ở, nhà cửa, vàng, bạc trân báu, chuỗi ngọc vi diệu, hương hoa, kỹ
nhạc, nô bộc, cấp sứ, trai gái lớn nhỏ, voi, ngựa, xe cộ, trâu dê, gà,
chó, heo lợn.v.v...” Ðại Bồ tát lại nghĩ rằng : “Gia cư bức bách giống như
lao ngục. Tất cả phiền não do đó mà sinh ra. Xuất gia ở nơi nhàn tịnh
khoáng đãng giống như hư không. Tất cả thiện pháp nhân đó mà tăng trưởng.
Nếu tại gia cư thì chẳng được trọn đời tịnh tu phạm hạnh. Ta nay cần phải
cạo bỏ râu tóc, xuất gia học đạo !” Họ lại nghĩ rằng : “Ta nay nhất định
phải xuất gia tu học đạo Bồ Ðề chân chính Vô thượng”. Khi Bồ tát muốn xuất
gia như vậy thì thiên ma Ba Tuần phát sinh đại khổ não, nói rằng : “Bồ tát
này lại phải cùng ta dấy cuộc chiến tranh lớn rồi !” Này thiện nam tử ! Bồ
tát như vậy thì sao gọi là sẽ lại cùng người chiến tranh ? Lúc đó Bồ
tát liền đi đến Tăng phường, nếu thấy Như Lai và đệ tử của Phật uy nghi
đầy đủ, các căn tịch tịnh thì lòng Bồ tát ấy nhu hòa, thanh tịnh, tịch
diệt, liền đến chỗ ấy mà xuất gia cầu đạo, cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y.
Ðã xuất gia rồi thì Bồ tát phụng trì cấm giới, oai nghi chẳng khiếm
khuyết, tiến lùi an tường, không có sự xúc chạm, thậm chí tội dù nhỏ lòng
cũng sinh kinh sợ. Lòng hộ giới giống như Kim cương. Này thiện nam tử ! Ví
như có người đeo giữ phao nổi muốn qua biển cả. Bấy giờ, trong biển có một
quỉ la sát liền theo người này đòi xin cái phao nổi. Người ấy nghe rồi
liền nghĩ rằng : “Ta nay nếu cho thì nhất định chìm chết” nên đáp rằng :
“Này La sát ! Người thà giết ta, chớ phao nổi chẳng thể cho được !” La sát
lại nói rằng : “Ngươi nếu chẳng thể cho hết thì có thể cho nửa cái phao
ấy”. Người đó do dự chẳng chịu cho. La sát lại nói rằng : “Ngươi nếu chẳng
thể cho ta một nửa thì nguyện xin cho ta một phần ba”. Người đó chẳng
chịu, quỉ La sát lại nói rằng : “Nếu chẳng thể thì cho ta chỗ bằng cánh
tay”. Người đó chẳng chịu, La sát lại nói rằng : “Ngươi nay nếu lại chẳng
thể cho ta chỗ như cánh tay thì ta nay đói cùng cực, mọi khổ bức bách.
Nguyện xin ngươi sẽ cứu giúp ta một chỗ nhỏ như vi trần”. Người đó lại nói
rằng : “Sự đòi hỏi của ngươi nay quả thật chẳng nhiều, nhưng hôm nay ta
phải đi qua biển mà chẳng biết đường trước gần xa như thế nào ? Nếu ta cho
ngươi thì hơi sẽ thoát ra dần, nạn biển cả do đâu được thoát qua, có thể
giữa đường chìm xuống nước mà chết”. Này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát hộ trì
cấm giới cũng lại như vậy, như người qua biển kia tiếc giữ cái phao nổi.
Khi Bồ tát thủ hộ giới như vậy thường có các ác La sát phiền não nói với
Bồ tát rằng : “Ông phải tin ta, nhất định chẳng lừa dối nhau ! Ông chỉ phá
bốn trọng cấm, hộ trì những giới còn lại. Do nhân duyên này khiến cho ông
yên ổn được vào Niết Bàn”. Bấy giờ, Bồ tát nên nói rằng:“Ta nay thà trì
cấm giới như vậy mà vào ngục A Tỳ, nhất định chẳng chịu hủy phạm để mà
sinh lên trời !” La sát phiền não lại nói rằng : “Ông nếu chẳng thể phá
bốn trọng cấm thì có thể phá Tăng tàn ! Do nhân duyên này khiến cho ông
yên ổn được vào Niết Bàn !” Bồ tát cũng nên chẳng theo lời nói ấy. La sát
lại nói rằng : “Ông nếu chẳng thể phạm Tăng tàn thì cũng có thể nên phạm
tội Thâu La Già. Do nhân duyên này khiến cho ông yên ổn được vào Niết Bàn
!” Bồ tát bấy giờ cũng lại chẳng theo. La sát lại nói rằng : “Ông nếu
chẳng thể phạm Thâu Lan Già thì có thể phạm xả đọa. Do nhân duyên này ông
có thể yên ổn được vào Niết Bàn !” Bồ tát bấy giờ cũng lại chẳng theo, La
sát lại nói rằng : “Ông nếu chẳng thể phạm xả đọa thì có thể phá Ba Dạ Ðề.
Do nhân duyên này khiến ông yên ổn được vào Niết Bàn !” Bồ tát bấy giờ
cũng lại chẳng theo, La sát lại nói rằng : “Ông nếu chẳng thể phạm Ba Dạ
Ðề thì may mắn có thể hủy phá giới Ðột Cát La. Do nhân duyên này ông có
thể được yên ổn vào với Niết Bàn !” Bồ tát bấy giờ, lòng tự nghĩ rằng :
“Ta nay nếu phạm tôi Ðột Cát La mà chẳng phát lồ sám hối thì chẳng thể qua
bờ kia của sinh tử để mà được Niết Bàn”. Ðại Bồ tát ở trong những giới
luật vi tiểu (nhỏ mọn) hộ trì kiên cố, lòng như Kim cương. Ðại Bồ tát hộ
trì bốn trọng cấm và Ðột Cát La thì kính trọng, kiên cố, bình đẳng không
sai khác. Bồ tát nếu có thể kiên trì như vậy thì tức là đầy đủ năm chi các
giới. Ðó là đầy đủ : Bồ tát căn bản nghiệp thanh tịnh giới, tiền hậu quyến
thuộc dư thanh tịnh giới, Phi chư ác giác giác thanh tịnh giới, hộ trì
chánh niệm niệm thanh tịnh giới, hồi hướng A nậu đa la tam miệu tam Bồ Ðề
giới.
Này Ca Diếp !
Ðại Bồ tát này lại có hai thứ giới. Một là Thọ thế giáo giới, hai là được
Chánh pháp giới. Bồ tát nếu được Chánh pháp giới thì nhất định chẳng làm
ác. Thọ thế giới (giới răn của đời) là bạch bốn Yết-ma, rồi nhiên hậu mới
được. Lại nữa, này thiện nam tử ! Có hai thứ giới. Một là Tính trọng giới,
hai là giới chấm dứt chê bai hiềm khích của đời. Tính trọng giới là bốn
trọng cấm, dứt thế kỵ hiềm giới là chẳng làm những việc buôn bán, khinh
trọng, nhỏ lớn, lừa dối... đối với người, nhân thế lực người khác mà lấy
tài vật của người, lòng hại trói buộc, phá hoại thành công, thắp sáng mà
nằm, ruộng đất gieo trồng, gia nghiệp bày ra. Chẳng nuôi voi, ngựa, xe cộ,
trâu dê, lạc đà, lừa, gà, chó, khỉ đột, công (khổng tước) anh vũ, chim
cộng mạng và chim câu chỉ la, sài lang, cọp báo, mèo, chồn, heo lợn... và
những ác thú khác, đồng nam, đồng nữ, trai lớn, gái lớn, nô tỳ, đồng
bộc... Chẳng tích trữ vàng, bạc, lưu ly, pha lê, chân châu, xa cừ, mã não,
san hô, bích ngọc, kha cụ (ngọc kha)... các thứ báu. Chẳng chứa đồng đỏ,
bạch lạp, du thạch (hợp kim đồng-kẽm), chén bát, đồ đựng, thảm lông, chiếu
lông, áo cắm lông vũ, tất cả lúa gạo, đậu mì lớn nhỏ, gạo tẻ, gạo nếp, mè,
đồ ăn sống hay chín... Bồ tát thường thọ một bửa ăn trong ngày, chưa từng
ăn lần hai, nếu đi khất thực và ăn trong tăng chúng, Bồ tát thường biết
dừng đủ, chẳng nhận lời mời khác, chẳng ăn thịt, chẳng uống rượu, năm vật
cay nồng đều chẳng ăn. Vậy nên thân người ấy không có mùi xú uế. Bồ tát
thường được sự cung kính, cúng dường, tôn trọng, khen ngợi của chư thiên
và tất cả người đời. Ði chân xin mà ăn, nhất định chẳng nhận đồ ăn lâu
dài. Việc nhận quần áo chỉ đủ che thân. Tiến, dừng thường cùng ba y bát là
đủ nhất định chẳng lìa bỏ như hai cánh chim. Chẳng nuôi căn tử (rễ, con),
hành tử (hành :thân thảo), tiếp tử (nối liền), tiếp tử, tử tử (con con)
(?), chẳng chứa bảo tàng hoặc vàng, hoặc bạc, đồ ăn, thức uống, nhà bếp,
kho lẫm, quần áo, phục sức. Giường lớn cao rộng, giường ngà voi, giường
vàng đan xen đủ màu đều chẳng ngồi, nằm. Chẳng chứa tất cả những loại
chiếu nằm mềm mại. Chẳng ngồi lên cỏ voi, cỏ ngựa (cỏ của voi ngựa ăn).
Chẳng dùng y phục thượng diệu mềm mại để trải giường nằm. Giường nghỉ ngơi
ấy chẳng đặt hai gối ? Cũng chẳng nhận chứa gối đỏ diệu hảo, an đặt gối gỗ
vàng (huỳnh mộc). Nhất định chẳng nhìn xem đấu voi, đấu ngựa, đấu xe, đấu
binh, hoặc nam, hoặc nữ, trâu, dê, gà, trĩ, anh vũ.v.v... đánh nhau. Cũng
chẳng cố đến nhìn xem quân trận. Cũng chẳng cố nghe thổi vỏ sò, tù và,
đánh trống, đàn cầm, đàn sắt, đàn không hầu, đàn tranh, sáo, tiếng ca
xướng kỹ nhạc, trừ khi cúng dường Phật. Trò chơi sư bồ (một trò đánh bạc),
cờ vay, ba la tắc, sư tử tượng đấu, cờ đạn, sáu cách đánh bạc, đá cầu, ném
đá, quăng túi, dắt đường, tám đường đi thành... Tất cả sự vui chơi đều
chẳng nên làm. Nhất định chẳng xem tướng tay, chân, mặt, mắt. Chẳng dùng
chân súc vật, gương, cỏ chi, cành liễu, bát chén, đầu lâu mà làm bói quẻ.
Cũng chẳng ngước xem hư không tinh tú, trừ khi muốn giải sự hôn thụy (ngủ
mê). Chẳng làm sứ mạng qua lại của vương gia, đem đây nói cho đó, đem đó
nói cho đây. Nhất định chẳng dua nịnh, tà mạng nuôi sống mình. Cũng
chẳng tuyên nói việc vua tôi, đạo tặc, đấu tranh, ăn uống, đất nước đói
kém kinh sợ hay giàu thịnh an vui. Này thiện nam tử ! Ðó gọi là giới của
Ðại Bồ tát chấm dứt sự chê bai hiềm khích ở đời (Tức thế kỵ hiềm giới).
Này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát kiên trì giới cấm ngăn chận như vậy
cùng tính trọng giới bình đẳng không sai biệt.
Này thiện nam
tử ! Ðại Bồ tát thọ trì những cấm giới như vậy rồi thì phát nguyện rằng :
“Thà đem thân này gieo vào hầm sâu lửa cháy rực, nhất định chẳng hủy phạm
việc chế cấm giới của chư Phật quá khứ, vị lai và hiện tại cùng con gái
của sát lợi, bà la môn, cư sĩ.v.v... mà làm việc bất tịnh”. Lại nữa, này
thiện nam tử ! Ðại Bồ tát lại phát nguyện này : “Thà dùng sắt nóng bó buộc
giáp vòng thân thể, nhất định chẳng dám đem thân phá giới mà nhận lấy quần
áo của đàn việt tín tâm”. Lại nữa, này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát lại phát
nguyện này : “Thà dùng miệng này nuốt hòn sắt nóng, nhất định chẳng dám
dùng miệng hủy giới mà ăn đồ ăn, thức uống của đàn việt tín tâm”. Lại nữa,
này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát lại phát nguyện này : “Thà thân này nằm trên
sắt rất nóng, nhất định chẳng dám dùng thân phá giới thọ đồ trải giường
nằm của đàn việt tín tâm”. Lại nữa, này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát lại phát
nguyện này : “Thà đem thân này chịu ba trăm giáo nhọn đâm, nhất định chẳng
dám đem thân hủy giới mà nhận thuốc chữa bệnh của đàn việt tín tâm”. Lại
nữa, này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát lại phát nguyện này : “Thà đem thân này
gieo vào vạc sắt nóng, nhất định chẳng dám đem thân phá giới nhận phòng xá
nhà cửa của đàn việt tín tâm”. Lại nữa, này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát lại
phát nguyện này : “Thà dùng chùy sắt đánh nát thân này từ đầu đến chân
khiến cho như vi trần, chẳng đem thân phá giới nhận sự cung kính lễ bái
của những Sát lợi, Bà la môn, cư sĩ”. Lại nữa, này thiện nam tử ! Ðại Bồ
tát lại phát nguyện này : “Thà dùng que sắt nóng móc đôi mắt của mình,
chẳng dùng nhiễm tâm nhìn sắc đẹp người khác”. Lại nữa, này thiện nam tử !
Ðại Bồ tát lại phát nguyện này : “Thà dùng dùi sắt đâm khắp cùng tai,
chẳng dùng nhiễm tâm nghe âm thanh hay”. Lại nữa, này thiện nam tử ! Ðại
Bồ tát lại phát nguyện này : “Thà dùng dao bén cắt bỏ mũi của mình; chẳng
dùng nhiễm tâm ham ngữi các mùi thơm”. Lại nữa, này thiện nam tử ! Ðại Bồ
tát lại phát nguyện này : “Thà dùng dao bén cắt nát lưỡi của mình, chẳng
dùng nhiễm tâm tham trước vị ngon”. Lại nữa, này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát
lại phát nguyện này : “Thà dùng búa bén chém đứt thân mình, chẳng dùng
nhiễm tâm tham trước những chạm xúc”. Vì sao vậy ? Vì do nhân duyên này có
thể khiến cho hành giả đọa vào địa ngục, ngã quỉ, súc sinh. Này Ca Diếp !
Ðó gọi là Ðại Bồ tát hộ trì cấm giới. Ðại Bồ tát hộ trì cấm giới như vậy
rồi thì đều đem bố thí cho tất cả chúng sinh. Do nhân duyên này
nguyện khiến cho chúng sinh hộ trì cấm giới được giới thanh tịnh, giới
thiện, giới chẳng khuyết, giới chẳng chiết (gẩy), giới Ðại Thừa, giới
chẳng thoái, giới tùy thuận, giới rốt ráo (tất cảnh) và thành tựu đầy đủ
giới Ba la mật. Này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát khi tu trì giới thanh tịnh
như vậy thì liền được trụ ở Bất động địa đầu tiên. Sao gọi là Bất động địa
vậy ? Bồ tát trụ trong Bất động địa này thì chẳng động, chẳng đọa, chẳng
thoái, chẳng tan. Này thiện nam tử! Ví như núi Tu Di, gió mạnh Tùy Lam
chẳng thể làm cho lay động, rơi rớt, thoái, tan. Ðại Bồ tát trụ trong địa
này cũng lại như vậy, chẳng bị sự lay động của sắc, thanh, hương, vị,
chẳng đọa vào địa ngục, súc sinh, ngã quỉ, chẳng thoái lui địa vị Thanh
Văn, Bích Chi Phật, chẳng bị tan theo gió tà kiến khác mà tạo tác tà mạng.
Lại nữa, này thiện nam tử ! Chẳng động lại là chẳng bị sự lay động của
tham dục, sân nhuế, ngu si. Lại chẳng đọa là chẳng rơi vào bốn trọng cấm.
Lại chẳng thoái là chẳng lui lại nhà. Lại chẳng tán là chẳng bị sự tan
hoại theo người trái nghịch Kinh điển Ðại Thừa. Lại nữa, này thiện nam tử
! Ðại Bồ tát cũng vậy chẳng bị sự khuynh động của các phiền não ma, chẳng
bị sự đày đọa của ấm ma... cho đến ngồi ở dưới cây Bồ Ðề Ðạo Tràng, tuy có
thiên ma nhưng chẳng thể làm cho Bồ tát ấy thoái lui Vô Thượng Chánh Ðẳng
Chánh Giác, cũng lại chẳng bị việc làm tan hoại của tử ma (ma chết). Này
thiện nam tử ! Ðó gọi là Ðại Bồ tát tu tập Thánh hạnh. Này thiện nam tử !
Sao gọi là Thánh hạnh ? Thánh hạnh là sở hạnh của Phật và Bồ tát. Vậy nên
gọi là Thánh hạnh. Do những gì mà gọi Phật, Bồ tát là Thánh nhân vậy ?
Những người như vậy có pháp Thánh, thường quán các pháp tánh không tịch.
Do nghĩa này nên gọi là Thánh nhân. Người đó có giới Thánh nên gọi là
Thánh nhân, có định huệ Thánh nên gọi là Thánh nhân. Người đó có bảy
của cải Thánh là tín, giới, tàm quí, đa văn, trí tuệ, xả, ly nên gọi là
Thánh nhân. Người đó có bảy Thánh giác nên gọi là Thánh nhân. Do nghĩa này
nên lại gọi là Thánh hạnh.
Lại nữa, này
thiện nam tử ! Hạnh Thánh của Ðại Bồ tát là quan sát thân này từ đầu đến
chân, trong ấy chỉ có tóc, lông, móng, răng chẳng sạch cấu bẩn, da, thịt,
gân, xương, tỳ, thận, tim, phổi, gan, mật, ruột, bao tử sống chín hai
tạng, đại tiểu tiện, nước mũi nước dãi, nước mắt, mỡ, mô não, tủy xương,
mũ, máu, sọ não, các mạch. Khi Bồ tát chuyên tâm quán như vậy thì có cái
gì là ta ? Ta thuộc cái gì ? Trụ ở chỗ nào ? Cái gì thuộc về ta ? Bồ tát
lại nghĩ rằng : “Xương là ta ư ? Lìa khỏi xương là gì vậy ?” Khi Bồ tát
trừ khử da thịt, chỉ quán xương trắng thì lại khởi ý niệm này : “Màu xương
khác như là màu xanh, vàng, trắng, màu chim câu. Như vậy tướng xương cũng
lại chẳng phải là ta. Vì sao vậy ? Vì ta cũng chẳng phải màu xanh, vàng,
trắng và cả màu chim câu”. Khi Bồ tát buộc lòng tác khởi sự quan sát này
thì liền được đoạn trừ tất cả sắc dục. Bồ tát lại tác khởi ý niệm này :
“Như vậy xương là từ nhân duyên sinh ra. Nương nhờ xương bàn chân để chống
đỡ xương gót chân. Nương nhờ xương gót chân để chỗng đỡ xương ống chân.
Nương nhờ xương ống chân để chống đỡ xương đầu gối. Nương nhờ xương đầu
gối để chống đỡ xương đùi vế. Nương nhờ xương đùi vế để chống đỡ xương
mông. Nương nhờ xương mông để chống đỡ xương lưng (eo). Nương nhờ xương
lưng để chống đỡ xương sống. Nương nhờ xương sống để chống đỡ xương sườn.
Lại nhân trên xương sống chống đỡ xương cổ. Nương nhờ xương cổ để chống đỡ
xương hàm. Nương nhờ xương hàm để chống đỡ răng. Trên có đầu lâu. Lại nhân
xương cổ để chống đỡ xương vai. Nương nhờ xương vai để chống đỡ xương cánh
tay. Nương nhờ xương cánh tay để chống đỡ xương cổ tay. Nương nhờ xương
cổ tay để chống đỡ xương bàn tay. Nương nhờ xương bàn tay để chống đỡ
xương ngón tay. Khi Ðại Bồ tát quan sát như vậy thì số xương sở hữu của
thân thể tất cả đều chia lìa. Bồ tát được cái quán này rồi thì liền đoạn
trừ ba dục, một là hình mạo dục, hai là tư thái dục, ba là tế xúc dục. Khi
Ðại Bồ tát quán xương xanh thì thấy đại địa này khắp Ðông, Tây, Nam, Bắc,
bốn phương bàng, phương trên, phương dưới đều là tướng màu xanh. Như quán
màu xanh, màu vàng, màu trắng, màu chim câu cũng lại như vậy. Khi Ðại Bồ
tát tác khởi sự quan sát này thì vùng chân mày liền phát ra ánh sáng màu
xanh, vàng, đỏ, trắng, màu chim câu.v.v... Ở trong mỗi một những ánh sáng
này Bồ tát thấy có tượng Phật. Thấy rồi Bồ tát liền hỏi rằng : “Như thân
này là bất tịnh, do nhân duyên hòa hợp chung thành mà sao lại được ngồi,
dậy, đi, đứng, co, duỗi, cúi, ngước, nhìn, ngắm, hít thở, buồn khóc, vui
cười ? Trong việc này không có chủ thì ai sai khiến vậy ?” Hỏi thế rồi thì
các đức Phật trong ánh sáng bỗng nhiên biến mất. Bồ tát lại tác khởi ý
niệm này : “Hoặc thức chính là ta nên khiến cho các đức Phật chẳng vì ta
nói”. Bồ tát lại quan sát thức này theo thứ lớp sinh diệt giống như nước
chảy thì cũng lại chẳng phải là ta. Bồ tát lại tác khởi ý niệm này: “Nếu
thức chẳng phải là ta thì thở ra, hít vào hoặc có thể là ta”. Bồ tát lại
tác khởi ý niệm này : “Thở ra hít vào này chính là tính của gió mà tính
gió đó mới là tứ đại thì trong tứ đại cái gì là ta. Tính của đất chẳng
phải là ta. Tính của nước, lửa, gió cũng lại chẳng phải là ta”. Bồ tát lại
tác khởi ý niệm này : “Thân này tất cả đều không có ta. Chỉ có gió
tâm nhân duyên hòa hợp, thị hiện ra đủ thứ nghiệp sở tác, ví như sức chú
thuật làm ra điều huyễn hóa, cũng như đàn không hầu (giống đàn sắt) theo ý
phát ra âm thanh. Vậy nên thân này bất tịnh như vậy. Giả sử mọi nhân duyên
hòa hợp chung thành thì sẽ ở chỗ nào mà sinh ra tham dục ? Nếu bị mắng
chửi hủy nhục thì lại ở chỗ nào mà sinh ra sân nhuế ? Như thân này của ta
gồm ba mươi sáu vật bất tịnh dơ bẩn hôi thối thì có chỗ nào nhận sự mạ
nhục. Nếu nghe lời mạ nhục ấy thì Bồ tát liền suy nghĩ rằng : “Do âm thanh
gì mà thấy mạ nhục vậy ? Mỗi một âm thanh riêng rẻ chẳng thể thấy mạ nhục
mà nếu một chẳng thấy thì nhiều cũng vậy thôi. Do nghĩa này nên chẳng nên
sinh ra sân giận. Nếu người khác đánh đập thì cũng nên suy nghĩ rằng :
“Như vậy đánh từ đâu mà sinh ra ?” Bồ tát lại tác khởi ý niệm này : “Nhân
có tay, dao gậy và cả thân ta nên được gọi là đánh. Ta nay vì duyên gì mà
ngang ngược sân giận với người khác ? Chính thân ta tự chuốc lấy lỗi lầm
đó là do ta thọ tấm thân năm ấm này. Ví như nhân vào cái đích thì mới có
trúng tên, thân ta cũng vậy, có thân thì có đánh. Ta nếu chẳng nhẫn thì
lòng tán loạn. Nếu lòng tán loạn thì mất chánh niệm. Nếu mất chánh niệm
thì chẳng thể quan sát nghĩa thiện và chẳng thiện. Nếu chẳng thể quan sát
nghĩa thiện và chẳng thiện thì làm ác pháp. Nhân duyên ác pháp thì rơi vào
địa ngục, súc sinh, ngã quỉ. Khi Bồ tát tác khởi sự quan sát đó rồi thì
được Tứ niệm xứ. Ðược Tứ niệm xứ rồi thì được trụ ở Kham nhẫn địa. Ðại Bồ
tát trụ ở địa này rồi thì có thể kham nhẫn tham dục, sân nhuế, ngu si,
cũng có thể kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, ruồi, muỗi, rận, rệp, gió
bão, va chạm việc dữ, đủ thứ dịch bệnh, ác khẩu, mắng chửi, đánh đập, đánh
bằng gậy... Thân tâm khổ não, tất cả đều có thể nhịn chịu. Vậy nên đó gọi
là trụ ở Kham nhẫn địa.
Bồ tát Ca
Diếp bạch đức Phật rằng :
- Thưa đức
Thế Tôn ! Bồ tát chưa được trụ ở Bất Ðộng Ðịa, khi tịnh trì giới, như có
nhân duyên thì có được phá giới không ?
- Này thiện
nam tử ! Bồ tát chưa trụ ở Bất Ðộng địa nếu có nhân duyên thì có thể được
phá giới.
Ngài Ca Diếp
thưa rằng :
- Kính thưa
đức Thế Tôn ! Thế nào là được vậy ?
Ðức Phật dạy
rằng :
- Này Ca Diếp
! Nếu có Bồ tát biết dùng nhân duyên phá giới thì có thể khiến cho người
thọ trì, yêu thích Kinh điển Ðại Thừa. Lại có thể khiến cho người ấy đọc
tụng thông lợi, ghi chép kinh quyển, rộng vì người khác diễn nói chẳng
thoái chuyển đối với Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vì như vậy nên Bồ
tát được phá giới. Bấy giờ, Bồ tát nên khởi ý niệm này : “Ta thà một kiếp
hay giảm một kiếp, rơi vào địa ngục A tỳ thọ tội báo này chỉ cần khiến cho
người đó chẳng thoái chuyển Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác !” Này Ca Diếp
! Do nhân duyên này nên Ðại Bồ tát được hủy phạm tịnh giới !
Lúc bấy giờ,
Bồ tát Văn Thù Sư Lợi bạch đức Phật rằng :
- Thưa đức
Thế Tôn ! Như có Bồ tát nhiếp lấy hộ trì người như vậy khiến cho chẳng
thoái chuyển tâm Bồ Ðề mà vì sự hủy giới đó nếu đọa địa ngục A Tỳ thì
không có điều này.
Bấy giờ đức
Phật khen ngài Văn Thù Sư Lợi rằng :
- Hay thay !
Hay thay ! Ðúng như lời nói của ông ! Ta nhớ thuở xa xưa, ở cõi Diêm phù
đề, ta làm đại quốc vương tên là Tiên Dự, yêu thích kính trọng Kinh điển
Ðại Thừa. Tâm vua ấy thuần thiện, không có thô ác, tật đố, san lận. Miệng
vua thường tuyên nói ái ngữ, thiện ngữ. Thân vua thường nhiếp hộ kẻ bần
cùng, cô độc, bố thí tinh tấn không có ngưng bỏ. Thời thế không có Phật,
Thanh Văn, Duyên Giác. Ta vào lúc bấy giờ yêu thích Kinh điển Ðại Thừa
Phương Ðẳng, trong mười hai năm phụng sự Bà la môn, cung cấp sự cần dùng
cho họ. Qua mười hai năm bố thí yên ổn xong rồi, taliền nói rằng : “Thưa
các thầy, hôm nay các thầy nên phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác !”
Bà la môn nói rằng : “Này Ðại vương ! Tính Bồ Ðề là không sở hữu. Kinh
điển Ðại Thừa cũng lại như vậy thì tại sao đại vương lại muốn khiến cho
con người đồng với hư không”. Này thiện nam tử ! Vào lúc bấy giờ, lòng ta
trọng Ðại Thừa mà nghe Bà la môn bài báng Phương Ðẳng nên nghe xong ta tức
thời giết chết người ấy. Này thiện nam tử ! Do nhân duyên này nên từ đó về
sau ta chẳng rơi vào địa ngục.
Này thiện nam
tử ! Ủng hộ nhiếp trì Kinh điển Ðại Thừa mới có thế lực không lường như
vậy. Lại nữa, này Ca Diếp ! Lại có Thánh hạnh, gọi là bốn Thánh đế,
Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Này Ca Diếp ! Khổ là tướng bức bách. Tập là tướng
năng sinh trưởng (có năng lực sinh trưởng). Diệt là tướng tịch diệt. Ðạo
là tướng Ðại Thừa. Lại nữa, này thiện nam tử ! Khổ là hiện tướng. Tập là
chuyển tướng. Diệt là trừ tướng. Ðạo là năng trừ tướng (tướng có khả năng
trừ diệt). Lại nữa, này thiện nam tử ! Khổ thì có ba tướng là tướng khổ
khổ, tướng hành khổ, tướng hoại khổ. Tập là hai mươi lăm cõi hữu. Diệt là
diệt hai mươi lăm cõi hữu. Ðạo là tu Giới, Ðịnh, Tuệ. Lại nữa, này thiện
nam tử ! Pháp hữu lậu có hai thứ là có Nhân, có Quả. Pháp vô lậu cũng có
hai thứ là có Nhân, có Quả. Quả hữu lậu thì gọi là Khổ. Nhân hữu lậu thì
gọi là Tập. Quả vô lậu thì gọi là Diệt. Nhân vô lậu thì gọi là Ðạo. Lại
nữa, này thiện nam tử ! Tám tướng gọi là khổ như là : Sinh khổ, già khổ,
bệnh khổ, chết khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ
ấm xí thạnh khổ. Có khả năng sinh ra tám khổ như vậy thì gọi là Tập. Không
có tám điều khổ như vậy thì đó gọi là Diệt. Mười lực, bốn vô sở úy, ba
niệm xứ (?), Ðại bi... đó gọi là Ðạo. Này thiện nam tử ! Sinh là tướng
hiện ra, có năm thứ, một là sơ xuất, hai là chí chung (đến cuối cùng), ba
là tăng trưởng, bốn là xuất thai (ra khỏi thai), năm là chủng loại sinh.
Những gì là Lão ? Lão có hai thứ, một là niệm niệm lão, hai là chung thân
lão. Lại có hai thứ lão nữa, một là tăng trưởng lão, hai là diệt hoại lão.
Ðó gọi là lão. Sao gọi là bệnh ? Bệnh là gọi rắn độc bốn đại đắp đổi nhau
chẳng điều hòa thích hợp, cũng có hai thứ, một là thân bệnh, hai là tâm
bệnh. Thân bệnh có năm, một là nhân nước, hai là nhân gió, ba là nhân
nóng, bốn là tạp bệnh, năm là khách bệnh. Khách bệnh (bệnh do nguyên nhân
khách quan) có bốn, một là chẳng phải phận mà cưỡng làm, hai là quên lầm
rơi rụng, ba là dao gậy gạch đá, bốn là sự bám lấy của quỉ mị. Tâm bệnh
cũng có bốn thứ, một là nhảy nhót, hai là sợ hãi, ba là ưu sầu, bốn là ngu
si. Lại nữa, này thiện nam tử ! Bệnh của thân tâm thường có ba thứ. Những
gì là ba ? Một là nghiệp báo, hai là chẳng được lìa xa các ác đối tác, ba
là thời tiết thay đổi. Chúng sinh ra những nhân duyên như vậy với tên gọi
và sự phân biệt thọ bệnh. Nhân duyên của bệnh là gió.v.v... các bệnh. Tên
gọi là lòng buồn bực, phổi trướng, khí lên, ho, tâm nghịch, đi lị... Thọ
phân biệt là đau đầu, đau mắt, đau tay chân.v.v... Ðó gọi là bệnh. Những
gì là chết ? Chết là bỏ sự thọ thân. Bỏ sự thọ thân cũng có hai thứ , một
là chết do mạng hết, hai là chết do ngoại duyên. Chết do mạng tận (hết)
cũng có ba thứ, một là mạng hết chẳng phải là phước hết, hai là phước hết
chẳng phải làmạng hết, ba là phước mạng đều hết. Chết do ngoại duyên cũng
có ba thứ, một là chẳng phải số phận mà tự hại chết, hai là ngang ngược vì
người khác mà chết, ba là đều chết. Lại có ba thứ chết, một là chết phóng
dật (buông lung), hai là chết phá giới, ba là chết hoại mạng căn. Những gì
gọi là chết phóng dật ? Nếu có bài báng Ðại Thừa Phương Ðẳng Bát Nhã Ba la
mật thì gọi là chết phóng dật. Sao gọi là chết phá giới ? Hủy phạm sự chế
cấm giới của chư Phật quá khứ, vị lai và hiện tại thì đó gọi là chết phá
giới. Sao gọi là chết hoại mạng căn ? Bỏ thân năm ấm thì đó gọi là chết
hoại mạng căn. Như vậy gọi rằng chết là đại khổ. Sao gọi là ái biệt ly khổ
? Vật yêu thích bị phá hoại lìa tan. Vật yêu thích bị phá hoại lìa tan
cũng có hai thứ, một là trong người năm ấm hoại, hai là trong trời năm ấm
hoại. Như vậy sự yêu thích năm ấm của người trời phân biệt tính kể có vô
lượng thứ. Ðó gọi là ái biệt ly khổ. Sao gọi là oán tắng hội khổ ? Việc
chẳng yêu thích mà chung tụ tập. Việc chẳng yêu thích mà chung tụ tập cũng
có ba thứ. Ðó là địa ngục, ngã quỉ, súc sinh. Như vậy ba đường phân biệt
tính kể có vô lượng thứ. Như vậy thì gọi là oán tắng hội khổ. Sao gọi là
cầu bất đắc khổ ? Khổ cầu chẳng được cũng có hai thứ, một là điều
mình hy vọng mà cầu chẳng thể được, hai là dùng nhiều công lực mà chẳng
được quả báo. Như vậy thì gọi là cầu bất đắc khổ. Sao gọi là ngũ thịnh ấm
khổ ? Ngũ thịnh ấm khổ là sinh khổ, bịnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, oán
tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ. Vậy nên gọi là ngũ tịnh ấm khổ. Này Ca Diếp
! Căn bản của sinh thường có bảy thứ khổ như vậy. Lão khổ... cho đến ngũ
thịnh ấm khổ, này Ca Diếp ! Bàn về lão suy thì chẳng phải tất cả có mà
Phật và chư thiên nhất định là không còn trong loài người thì bất định,
hoặc có, hoặc không. Này Ca Diếp ! Thọ thân trong ba cõi không loài nào
chẳng có sinh mà già thì chẳng nhất định. Vậy nên tất cả sinh là căn bản.
Này Ca Diếp ! Chúng sinh trong thế gian bị điên đão che tâm mà tham trước
tướng sinh, chán hoạn sinh tử. Bồ tát chẳng vậy, quan sát lúc mới sinh, đã
thấy có lỗi hoạn. Này Ca Diếp ! Như có người con gái vào ở nhà người khác.
Người có gái này đoan chính, nhan mạo đẹp đẽ, trang nghiêm thân bằng chuỗi
ngọc đẹp. Người chủ nhà thấy rồi liền hỏi rằng : “Nàng tên gì ? Hệ thuộc
ai ?” Người con gái đáp rằng : “Thân ta tức là trời lớn Công Ðức (Công Ðức
Ðại Thiên)”. Người chủ hỏi rằng : “Nàng làm gì chỗ nàng đến ?” Trời nữ (nữ
thiên đáp rằng : “Chỗ ta đến, ta có thể ban cho đủ thứ vàng, bạc, lưu ly,
pha lê, chân châu, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não, voi, ngựa, xe cộ, nô
tỳ, bộc sứ...” Người chủ nghe rồi, lòng sinh vui mừng, nhảy nhót không
lường mà nói rằng : “Ta nay có phước đức nên khiến cho nàng đi đến nhà cửa
của ta!” Người chủ liền đốt hương, tung hoa cúng dường, cung kính lễ bái.
Lại ở ngoài cửa, người ấy lại thấy một người con gái hình dung xấu xí,
quần áo rách rưới, nhiều những cấu bẩn, da dẻ nứt nẻ mà màu trắng bệch.
Thấy rồi, người chủ hỏi rằng : “Nàng tên gì ? Hệ thuộc với ai ?” Người con
gái đáp rằng : “Tôi tên là Hắc Ám !” Người chủ lại hỏi : “Vì sao tên là
Hắc Ám ?” Người con gái đáp rằng : “Chỗ ta đến có thể khiến cho của báu sở
hữu của nhà ấy, tất cả bị suy hao”. Người chủ nghe rồi liền cầm dao bén mà
nói rằng : “Nàng nếu chẳng đi ta sẽ giết nàng !” Người con gái đáp rằng :
“Ông rất ngu si, không có trí tuệ !” Người chủ hỏi rằng : “Vì sao gọi ta
ngu si, không trí tuệ ?”Người con gái đáp rằng : “Người trong nhà của ông
tức là chị của ta. Ta thường cùng chị tiến, dừng chung cùng.
Nếu ông đuổi ta thì cũng sẽ đuổi chị đó!” Người chủ quay lại vào hỏi trời
Công Ðức rằng : “Bên ngoài có một người con gái nói là chị của nàng ! Có
thật thế không ?” Trời Công Ðức nói rằng : “Quả thật là em của ta ! Ta
cùng người em này đi, đứng chung, chưa từng rời nhau theo chỗ sở trụ. Ta
thường tạo tác cái tốt, người đó thường tạo tác cái xấu. Ta làm lợi ích,
người đó làm suy tổn. Nếu ông yêu ta thì cũng nên yêu người đó. Nếu ông
cung kính ta thì cũng nên cung kính người đó !” Người chủ liền nói rằng :
“Nếu có sự tốt xấu như vậy thì ta đều chẳng dùng ! Các nàng đều tùy ý mà
đi!” Lúc đó hai người con gái liền cùng đem nhau trở về chỗ ở của họ. Bấy
giờ người chủ thấy họ đã đi trở về, lòng sinh vui mừng, nhảy nhót không
lường. Lúc đó, hai người con gái lại cùng nhau theo đến một nhà nghèo.
Người nghèo thấy rồi, lòng phát sinh vui mừng, liền mời họ rằng : “Hai
nàng đã đến, từ nay nguyện xin hai nàng hãy thường trụ ở nhà tôi !” Trời
Công Ðức nói rằng : “Trước đây, chúng ta đã bị người khác xua đuổi vì nhân
duyên gì ông lại đều mời chúng tôi ở ?” Người nghèo đáp rằng : “Nàng nay
nghĩ đến tôi ! Tôi nhờ nàng nên lại phải cung kính nàng kia. Vậy nên tôi
đều thỉnh hai vị trụ ở nhà tôi”. Này Ca Diếp ! Ðại Bồ tát cũng lại như
vậy, chẳng nguyện sinh lên trời vì có sinh thì sẽ có lão, bệnh, chết vậy.
Do đó đều bỏ hết, từng không có thọ tâm (lòng thọ nhận). Người phàm phu
ngu si chẳng biết những lỗi hoạn của già, bệnh, chết.v.v... nên tham thọ
hai pháp sinh tử. Lại nữa, này Ca Diếp ! Như đứa trẻ con ấu trĩ Bà la môn
bị sự bức bách của đói khát, thấy trong phân người có trái cây Am La, liền
thủ lấy. Có người trí nhìn thấy liền quở trách rằng : “Này Bà la môn !
Ngươi chủng tính thanh tịnh mà vì sao thủ lấy trái cây bẩn chứa trong phân
này ?” Ðứa trẻ nghe rồi đỏ mặt thẹn tùng, liền đáp rằng : “Tôi thật chẳng
ăn, muốn rửa sạch rồi lại bỏ nó đi !” Người trí nói rằng : “Ngươi rất ngu
si! Nếu lại bỏ đi thì trước chẳng nên lấy !” Này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát
cũng lại như vậy, đối với phần sinh này chẳng nhận, chẳng bỏ như người trí
kia quở trách đứa trẻ. Người phàm phu mừng sinh, ghét chết như đứa trẻ kia
lấy quả, lại bỏ đi. Lại nữa, này Ca Diếp ! Ví như có người ở đầu ngã tư
đường lớn với dụng cụ đựng đầy đồ ăn sắc hương mỹ vị mà muốn bán. Có người
từ xa đến, đói rỗng gầy yếu thấy đồ sắc hương vị của đồ ăn người ấy liền
chỉ mà hỏi rằng : “Ðây là vật gì ?” Người chủ đồ ăn đáp rằng : “Ðây là đồ
ăn sắc hương vị thượng hạng ! Nếu ăn món ăn này thì được sắc, được lực, có
thể trừ đói khát, được thấy chư thiên, chỉ có bị một hoạn nạn là mạng
chung”. Người đó nghe rồi liền nghĩ rằng : “Ta nay chẳng cần sắc lực hay
thấy trời, cũng chẳng cần chết”. Hắn liền nói rằng : “Ăn món ăn này rồi
nếu mạng chung thì ông hôm nay làm gì bán nó ở đây ?” Người chủ đồ ăn đáp
rằng : “Người có trí nhất định chẳng chịu mua, chỉ có người ngu chẳng biết
việc này khen giá trị đồ ăn của ta, tham mà ăn đó thôi !” Này thiện nam tử
! Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, chẳng nguyện sinh lên trời, được sắc, được
lực và thấy chư thiên. Vì sao vậy ? Vì những điều ấy chẳng khỏi được các
khổ não. Kẻ phàm phu ngu si theo chỗ có sinh, đều tham ái vì họ chẳng thấy
già, bệnh, chết vậy. Lại nữa, này thiện nam tử ! Ví như cây độc, rễ
có thể giết người, cành, gốc, thân, đốt, vỏ, lá, hoa, trái đều cũng có thể
giết. Này thiện nam tử ! Việc thọ năm ấm ở chỗ thọ sinh của hai mươi lăm
cõi hữu cũng lại như vậy, tất cả có thể giết hại. Lại nữa, này Ca Diếp !
Ví như phân bẩn dù ít hay nhiều đều thối. Này thiện nam tử ! Sinh cũng
thế, giả sử sống lâu tám vạn xuống đến mười năm thì đều thọ khổ. Lại nữa,
này Ca Diếp ! Ví như trên bờ hiểm có cỏ che phủ. Ở bên bờ đó có nhiều cam
lộ mà nếu có người ăn thì sống lâu một ngàn tuổi, vĩnh viễn tiêu trừ các
bệnh, yên ổn khoái lạc. Người phàm phu ngu si tham ăn vị ấy nên chẳng biết
bên dưới bờ ấy có hầm rất sâu, liền trước muốn lấy mà chẳng hay sa chân
rơi vào hầm mà chết. Kẻ trí biết rồi lìa bỏ đi xa. Này thiện nam tử ! Ðại
Bồ tát cũng lại như vậy, còn chẳng muốn thọ món ăn thượng diệu của trời,
huống lại là của trong loài người. Người phàm phu mới ở địa ngục nuốt hòn
sắt nóng, huống lại là món ăn ngon lành thượng diệu của người trời mà có
thể chẳng ăn. Này Ca Diếp ! Do những thí dụ như vậy và vô lượng vô biên
thí dụ khác nên ông phải biết là sinh quả thật là Ðại Khổ. Này Ca Diếp !
Ðó gọi là Bồ tát trụ ở Kinh Ðại thừa Ðại Niết Bàn mà quan sát sinh khổ !
Này Ca Diếp !
Sao gọi là Ðại Bồ tát trụ ở Kinh Ðại thừa Ðại Niết Bàn này mà quan sát lão
khổ ? Lão thì có thể bị ho, khí lên ngược, có thể hủy hoại dũng lực, nhớ
nghĩ, tiến giữ những khoái lạc, kiêu mạn cống cao, yên ổn, mặc ý mình của
thời trai tráng, có thể làm lưng còng, giải đãi lười biếng, bị sự khinh
thường của người khác. Này Ca Diếp ! Ví như trong ao nước đầy hoa sen nở
phô bày vẻ tươi đẹp rất đáng yêu thích thì gặp phải trời mưa đá đều bị tan
nát. Này thiện nam tử ! Lão cũng như vậy, đều có thể phá hoại sắc đẹp của
thời trai tráng. Lại nữa, này Ca Diếp ! Ví như vị quốc vương có một bề tôi
trí tuệ (trí thần) giỏi biết binh pháp. Có vua nước địch chống cự lại
chẳng thuận theo. Nhà vua sai vị bề tôi giỏi này đến hỏi tội (thảo phạt)
vị vua địch đó, và ông liền bắt được đem về cho vua. Già cũng như vậy, bắt
giữ được hình sắc tráng kiện đem giao cho vua chết. Lại nữa, này Ca Diếp !
Ví như cái trục xe gẫy không sao lại dùng được. Lão cũng như vậy, không
sao lại dùng. Lại nữa, này Ca Diếp ! Ví như đại phú gia có nhiều của báu
như vàng, bạc, lưu ly, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não... có những oán
tặc, nếu chúng vào nhà người ấy thì liền có thể cướp đọat khiến cho rỗng
không hết. Này thiện nam tử ! Sắc đẹp trai trẻ cũng lại như vậy, thường bị
sự cướp đọat của giặc Già (lão tặc) Lại nữa, này Ca Diếp ! Ví như người
ngèo tham trước món ăn ngon, áo quần êm dịu. Tuy họ lại hy vọng nhưng mà
chẳng thể được. Này thiện nam tử! Lão cũng như vậy, tuy có lòng tham muốn
thọ giàu có an vui, năm dục thỏa lòng mình nhưng mà chẳng thể được. Lại
nữa, này Ca Diếp ! Lòng rùa đất thường nghĩ đến nước. Này thiện nam
tử ! Người cũng như vậy, đã bị sự khô héo của lão suy thì lòng thường nhớ
nghĩ khi tráng kiện đã hưởng thụ niềm vui năm dục. Lại nữa, này Ca Diếp !
Vào mùa thu, những hoa sen vốn đã được sự ưa ngắm nhìn của tất cả thì nay
những hoa ấy héo vàng bị sự khinh ghét của mọi người. Này thiện nam tử !
Tuổi trẻ tráng kiện cũng lại như vậy, đều được sự yêu thích của tất cả,
khi Lão ấy đến thì bị sự khinh ghét của mọi người. Lại nữa, này Ca Diếp !
Ví như cây mía đã bị ép lấy nước rồi thì không còn vị nữa. Tuổi trẻ tráng
kiện cũng lại như vậy, đã bị lão (già) ép rồi thì không còn ba thứ vị, một
là vị xuất gia, hai là vị đọc tụng, ba là vị ngồi thiền. Lại nữa, này Ca
Diếp ! Ví như đêm trăng tròn nhiều ánh sáng, ngày thì chẳng vậy. Này thiện
nam tử ! Người cũng như vậy, trai tráng thì đoan nghiêm, hình mạo đẹp đẽ,
già thì suy yếu, hình mạo, thần thái khô héo, tiều tụy. Lại nữa, này Ca
Diếp ! Ví như có vị vua thường dùng chính pháp trị nước, an dân, chân thật
không quanh co, thương xót ưa bố thí. Nhà vua vì sự phá hoại của nước địch
lưu ly trốn chạy đến nước khác. Nhân dân nước khác thấy mà thương xót
ngài, đều nói rằng : “Ðại vương thuở trước dùng Chính pháp trị nước, chẳng
ép uổng bá tính (vạn tính) mà sao một sớm phải lưu ly đến đây ?” Này thiện
nam tử ! Con người cũng như vậy, đã bị sự bại hoại của lão suy rồi thì
thường khen việc tạo lập sự nghiệp thời trai tráng. Lại nữa, này Ca Diếp !
Ví như bấc đèn chỉ nhờ dầu mỡ, dầu mỡ đã hết thì chẳng bao lâu phải dừng.
Này thiện nam tử ! Con người cũng như vậy, chỉ nhờ cậy vào mỡ tráng kiện,
mỡ tráng kiện đã hết thì bấc đèn lão suy chẳng bao lâu sẽ dừng. Lại nữa,
này Ca Diếp ! Ví như dòng sông khô chẳng thể lợi ích cho người và chẳng
phải người, chim bay, thú chạy. Này thiện nam tử ! Con người cũng như vậy,
bị sự khô cạn của lão thì chẳng thể lợi ích cho tất cả những tác nghiệp.
Lại nữa, này Ca Diếp ! Cây đại thọ đứng bên bờ sông lâm nguy nếu gặp gió
dữ thì ắt ngã đổ. Này thiện nam tử ! Con người cũng như vậy, đến bờ lão
hiểm nguy mà gió chết đã đến thì thế chẳng được trụ. Lại nữa, này Ca Diếp
! Như trục xe gẫy thì chẳng đủ sức chở nặng. Này thiện nam tử ! Lão cũng
như vậy, chẳng thể hỏi han, thính thọ tất cả thiện pháp. Lại nữa, này Ca
Diếp ! Ví như đứa trẻ con bị sự rẻ rúng của con người. Này thiện nam tử !
Lão cũng như vậy, thường bị sự khinh chê của tất cả. Này Ca Diếp ! Do
những ví dụ đó và còn vô lượng vô biên ví dụ nữa nên ông phải biết rằng,
lão thật là đại khổ. Này Ca Diếp ! Ðó gọi là Ðại Bồ tát tu hành Kinh Ðại
thừa Ðại Niết Bàn, quan sát Lão khổ.
Này Ca Diếp !
Sao gọi là Ðại Bồ tát tu hành Kinh Ðại thừa Ðại Niết Bàn, quan sát bịnh
khổ. Sở dĩ gọi bệnh là có thể hoại tan tất cả những việc vui yên ổn, ví
như mưa đá làm thương tổn hủy hoại cây lúa. Lại nữa, này Ca Diếp ! Như
người có oán cừu, lòng thường lo buồn mà ôm lấy sợ hãi. Này thiện nam tử !
Tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, thường sợ bệnh khổ, lòng ôm lo rầu.
Lại nữa, này Ca Diếp ! Ví như có người hình mạo đoan chính bị lòng dục của
vợ vua ái mộ, đưa tin ép gọi đến cùng chung giao thông. Vị vua bắt được,
liền sai người móc một mắt, cắt một tai, chặt một tay, một chân của người
ấy. Người đó, bấy giờ hình dung đổi khác, bị người khinh ghét. Này thiện
nam tử ! Con người cũng vậy, trước tuy đoan chính, tai mắt đầy đủ, nhưng
đã bị sự trói buộc bức bách của bệnh khổ rồi thì bị sự gớm ghiếc của mọi
người. Lại nữa, này Ca Diếp ! Ví như cây chuối, tre trúc, lau sậy và con
La (loa) hễ có con thì chết. Này thiện nam tử ! Con người cũng như vậy, hễ
có bệnh thì chết. Lại nữa, này Ca Diếp ! Như đại thần chủ binh của vua
Chuyển Luân thường ở trước dẫn đường, còn vua theo sau mà đi. Cũng như vua
cá, vua kiến, vua ốc, vua trâu, thương chủ đi ở trước thì như vậy các
chúng đều đi theo, không rời bỏ. Này thiện nam tử ! Vua Tử Chuyển Luân
cũng lại như vậy, thường theo bệnh thần, chẳng lìa bỏ nhau. Vua bệnh cá,
kiến, ốc, trâu, thương chủ cũng lại như vậy, thường bị sự theo đuổi của tử
chúng. Này Ca Diếp ! Bệnh nhân duyên là gọi sự khổ não, sầu lo, bi thán,
thân tâm chẳng yên, hoặc là sự bức hại của oán tặc, phá hoại phao nổi,
triệt phá cầu, cũng có thể cướp đoạt chánh niệm căn bản. Lại có thể là sự
phá hoại sắc đẹp thịnh tráng, thế lực an lạc, trừ bỏ tàm quí. Có thể là vì
thân tâm bị thiêu nóng rực cháy. Do những ví dụ này và còn vô lượng vô
biên ví dụ khác nên ông phải biết, bệnh khổ chính là đại khổ. Này Ca Diếp
! Ðó gọi là Ðại Bồ tát tu hành Kinh Ðại thừa Ðại Niết Bàn, quan sát bệnh
khổ.
Này Ca Diếp !
Sao gọi là Bồ tát tu hạnh Kinh Ðại thừa Ðại Niết Bàn, quan sát tử khổ. Sở
dĩ gọi tử (chết) là có thể thiêu diệt vậy. Này Ca Diếp ! Như tai họa lửa
khởi lên thì có thể đốt cháy tất cả, chỉ trừ Nhị thiền sức lửa chẳng đến
được. Này thiện nam tử ! Lửa tử cũng vậy, có thể đốt cháy tất cả, chỉ trừ
Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn thì thế lửa tử chẳng bì kịp. Lại
nữa, này Ca Diếp ! Như tai họa nước khởi lên thì tất cả trôi dạt chìm mất,
chỉ trừ Tam Thiền, sức nước chẳng đến. Này thiện nam tử ! Nước tử cũng
vậy, làm trôi dạt chìm mất tất cả, chỉ trừ Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát
Niết Bàn. Lại nữa, này Ca Diếp ! Như tai họa gió khởi lên thì có thể thổi
tất cả khiến cho tan diệt hết, chỉ trừ Tứ thiền thì sức gió chẳng đến
được. Này thiện nam tử ! Gió tử cũng vậy, có thể thổi diệt tất cả sỡ hữu,
chỉ trừ Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn.
Bồ tát Ca
Diếp bạch đức Phật rằng :
- Thưa đức
Thế Tôn ! Thiền thứ tư kia vì nhân duyên gì mà gió chẳng thể thổi, nước
chẳng thể nổi, lửa chẳng thể cháy ?
Ðức Phật bảo
ngài Ca Diếp rằng :
- Này thiện
nam tử ! Thiền thứ tư đó, lỗi hoạn trong ngoài tất cả đều không có. Này
thiện nam tử ! Lỗi hoạn của Sơ thiền, bên trong có giác quán, bên ngoài có
tai họa lửa. Lỗi hoạn của Nhị thiền, bên trong có hoan hỷ, bên ngoài có
tai họa nước. Lỗi hoạn của Tam thiền, bên trong có hít thở, bên ngoài có
tai họa gió. Này thiện nam tử ! Ðệ Tứ thiền kia, lỗi hoạn trong ngoài, tất
cả đều không. Vậy nên các tai họa chẳng thể theo kịp. Này thiện nam tử !
Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, an trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn
thì lỗi hoạn trong ngoài, tất cả đều hết. Vậy nên vua Tử chẳng thể theo
kịp. Lại nữa, này thiện nam tử ! Như con chim cánh vàng có thể nuốt ăn, có
thể tiêu hóa tất cả rồng, cá, vàng, bạc, các báu.v.v... chỉ trừ Kim cương
nó chẳng thể khiến cho tiêu hóa. Này thiện nam tử ! Con chim cánh vàng tử
cũng lại như vậy, có thể ăn nuốt, có thể tiêu hóa tất cả chúng sinh, chỉ
chẳng thể tiêu hóa được Ðại Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn. Lại
nữa, này Ca Diếp! Ví như cỏ cây sẵn có ở bờ sông, gặp nước lớn lênh láng
thì nổi trôi theo vào với biển cả, chỉ trừ cây dương liễu vì cây ấy mềm
mại. Này thiện nam tử ! Tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, đều trôi xuôi
vào với tử hải, chỉ trừ Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn. Lại nữa,
này Ca Diếp ! Như Na la diên có thể tiêu diệt, hàng phục tất cả lực sĩ,
chỉ trừ gió lớn. Vì sao vậy ? Vì không ngăn ngại vậy. Này thiện nam tử !
Tử Na la diên cũng lại như vậy, có thể tiêu diệt hàng phục hết tất cả
chúng sinh, chỉ trừ Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn. Vì sao vậy ?
Vì không ngăn ngại vậy. Lại nữa, này Ca Diếp ! Ví như có người ở trong oán
ghét mà trá hiện sự thân thiện, thường truy đuổi nhau như bóng theo hình
để dò tìm thuận tiện mà giết chết kẻ oán đó. Kẻ oán kia cẩn thận tự phòng
bị chắc chắn nên khiến cho người đó chẳng thể giết được. Này thiện
nam tử ! Tử oán cũng vậy, thường theo dõi chúng sinh mà muốn giết hại họ,
chỉ chẳng thể giết Ðại Bồ tát trụở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn. Vì sao vậy ?
Vì Bồ tát đó chẳng buông lung vậy. Lại nữa, này Ca Diếp ! Ví như mưa
đá bỗng nhiên tuông xuống Kim cương lớn, phá hoại hết cây thuốc, cây cối,
núi rừng, đất cát, gạch, đá, vàng, bạc, lưu ly... tất cả mọi vật, chỉ
chẳng thể hủy hoại chân bảo Kim cương. Này thiện nam tử ! Mưa Kim cương tử
cũng lại như vậy, có thể phá hoại hết tất cả chúng sinh, chỉ trừ Bồ tát
Kim Cương trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn. Lại nữa, này Ca Diếp ! Như chim
cánh vàng có thể ăn nuốt các rồng, chỉ chẳng thể ăn nuốt con đã thọ tam
qui. Này thiện nam tử ! Chim cánh vàng tử cũng lại như vậy, có thể ăn nuốt
tất cả vô lượng chúng sinh, chỉ trừ Bồ tát trụ ở ba Ðịnh. Sao gọi là ba
Ðịnh ? Ðó là Không, Vô tướng, Vô nguyện. Lại nữa, này Ca Diếp! Phàm nọc
độc của con rắn độc Ma La, tuy có chú hay, thuốc tốt thượng diệu nhưng
không làm gì được ? Chỉ có chú A yết la tinh mới có khiến cho độc trừ
khỏi. Này thiện nam tử ! Nọc độc của tử độc cũng lại như vậy, tất cả
phương thuốc trị độc không gì hiệu nghiệm, chỉ trừ Bồ tát trụ ở chú Ðại
Thừa Ðại Bát Niết Bàn. Lại nữa, này Ca Diếp ! Ví như có người bị vua giận.
Người ấy, hoặc có thể dùng lời êm ái tốt lành hay cống dâng của báu thì có
thể được thoát khỏi. Này thiện nam tử ! Tử vương (vua chết) chẳng vậy, tuy
dùng lời êm ái hay tiền của trân bảo mà cống dâng lên, nhưng cũng chẳng
được thoát. Này thiện nam tử ! Phàm người chết thì ở chỗ hiểm nạn không có
của cải lương thực, đi đến chỗ xa mờ mà không có bạn bè, ngày đêm đi mãi
chẳng biết bờ cõi, sâu thẳm tối tăm không có đèn sáng. Vào không cửa nẻo
mà không có xứ sở, tuy không chỗ đau nhưng chẳng thể trị liệu, qua không
ngăn chặn, đến chẳng được thoát, không có sự phá hoại, người thấy sầu độc,
chẳng phải là ố sắc (màu sắc xấu bẩn) mà khiến cho người sợ, bầy ở bên
thân mà chẳng thể hay biết. Này Ca Diếp ! Do những thí dụ này và còn vô
lượng vô biên thí dụ khác nên ông phải biết là, tử quả thật là Ðại Khổ.
Này Ca Diếp ! Ðó gọi là Bồ tát tu hành Kinh Ðại thừa Ðại Niết Bàn, quan
sát tử khổ.
Này Ca Diếp !
Sao gọi là Bồ tát trụ ở Kinh Ðại thừa Ðại Niết Bàn quan sát ái biệt ly khổ
? Ái biệt ly khổ có thể là căn bản của tất cả mọi khổ, như kệ nói rằng :
Nhân ái sinh lo
Ø Nhân
ái sinh sợ
Với ái nếu lìa Có gì lo sợ.
Nhân duyên ái
thì sinh ra ưu khổ. Do ưu khổ nên khiến cho chúng sinh sinh ra suy lão. Ái
biệt ly khổ như là mạng chung. Này thiện nam tử ! Do biệt ly nên có thể
sinh ra đủ thứ những khổ vi tế. Nay ta sẽ vì ông phân biệt và hiển thị cho
! Này thiện nam tử ! Ðời quá khứ, khi con người thọ mạng không lường thì
đời có vị vua tên là Thiện Trụ. Bấy giờ, vị vua ấy thời gian làm thân đồng
tử, làm thái tử lo liệu việc và lên ngôi vua đều trải qua tám muôn bốn
ngàn năm. Trên đỉnh đầu của vua sinh ra một nốt phỏng thịt. Nốt phỏng ấy
mềm mại như lụa Ðâu La, mịn màng như Kiếp Bối, dần dần tăng trưởng mà
chẳng gây ra hoạn. Ðủ tròn mười tháng nốt phỏng ấy liền mở banh sinh ra
một đồng tử. Hình dung đồng tử ấy đoan chính kỳ lạ vô song. Sắc tướng phân
minh số một trong loài người. Vua cha vui mừng đặt tên là Ðỉnh Sanh. Vua
Thiện Trụ liền đem quốc sự giao phó cho Ðỉnh Sanh, xả bỏ cung điện, vợ
con, quyến thuộc, vào núi học đạo trọn tám muôn bốn ngàn năm. Bấy giờ,
Ðỉnh Sanh vào ngày mười lăm, ở tại lầu cao tắm gội, thọ trai thì tức thời
ở phương Ðông có Kim Luân Bảo. Bánh xe ấy đầy đủ ngàn nan hoa, bầu, vành
mà chẳng do thợ mộc chế tạo, tự nhiên thành tựu ứng đến. Ðại vương Ðỉnh
Sanh liền nghĩ rằng : “Ta xưa từng nghe tiên ngũ thông nói, nếu vua Sát
Lợi vào ngày mười lăm ở tại cao lâu, tắm gội, thọ trai, nếu có bánh xe
vàng ngàn nan hoa chẳng giảm, đầy đủ bầu, vành mà chẳng do thợ mộc làm, tự
nhiên thành tựu ứng đến thì phải biết là vua này liền sẽ được làm Chuyển
Luân Thánh Ðế”. Vua lại nghĩ rằng : “Ta nay sẽ thử !” Ông liền dùng tay
trái nâng bánh xe báu này, tay phải cầm lư hương, quì gối phải xuống đất
mà phát thệ rằng : “Kim Luân Bảo này nếu chân thật chẳng hư dối thì nên
như việc làm đạo pháp của Chuyển Luân Thánh Vương đời quá khứ !” Nói lời
thề này rồi, Kim Luân Bảo đó bay lên hư không, đi khắp mười phương, rồi
trở lại trụ ở tay trái của vua Ðỉnh Sanh. Lúc bấy giờ Vua Ðỉnh Sanh, lòng
phát sinh vui mừng, nhảy nhót không lường, lại nghĩ rằng : “Ta nay nhất
định làm Chuyển Luân Thánh Vương. Sau ấy chẳng bao lâu, lại có tượng bảo,
hình dáng đoan nghiêm như hoa sen trắng với bảy chi chống đất. Vua Ðỉnh
Sanh thấy rồi lại nghĩ rằng : “Ta thuở xưa từng nghe tiên ngũ thông nói
rằng, nếu vua Chuyển Luân vào ngày mười lăm, ở tại lầu cao, tắm gội, thọ
trai mà nếu có tượng bảo hình dáng đoan nghiêm như hoa sen trắng, bảy chi
chống đất ứng đến thì phải biết rằng, vị vua này tức là Thánh đế”. Vua lại
nghĩ rằng : “Ta nay sẽ thử !” Ông liền nâng lư hương, quì gối phải xuống
đất mà phát thệ rằng : “Bạch tượng bảo này nếu chân thật, chẳng hư dối thì
nên như việc làm đạo pháp của Chuyển Luân Thánh Vương đời quá khứ”. Nói
lời thề này rồi thì Bạch tượng bảo từ sáng đến chiều đi khắp cùng tám
phương, đến tận bờ cõi biển cả, rồi trở về chỗ cũ. Lúc bấy giờ, vua Ðỉnh
Sanh, lòng rất vui mừng, nhảy nhót không lường, lại nghĩ rằng : “Ta nay
nhất định là Chuyển Luân Thánh Vương”. Sau ấy chẳng bao lâu, tiếp theo có
mã bảo, sắc ngựa ấy xanh biếc đẹp đẽ, bờm, đuôi màu vàng, Vua Ðảnh Sanh
thấy vậy liền nghĩ rằng : Ta nghe thuở xưa Tiên Ngũ Thông nói, nếu
Vua Chuyển Luân Vương ngày rằm ở trên lầu cao tắm gội, trai tịnh, có ngựa
báu sắc xanh, bờm, lông đuôi màu vàng tía đến, thì nên biết đó là Thánh
Ðế. Vua lại nghĩ rằng : “Ta nay sẽ thử!” Ông liền cầm lư hương, quì gối
phải xuống đất mà phát thệ rằng : “Mã bảo xanh biếc này nếu chân thật,
chẳng hư dối thì nên như việc làm đạo pháp của Chuyển Luân Thánh Vương đời
quá khứ”. Nói lời thề này rồi thì con Mã bảo xanh biếc đó, từ sáng đến
chiều chạy cùng khắp tám phương, đến tận bờ cõi biển cả, rồi trở về ở chỗ
cũ. Lúc bấy giờ vua Ðảnh Sanh, lòng rất vui mừng, nhảy nhót không lường,
lại nói rằng : “Ta nay nhất định là Chuyển Luân Thánh Vương”. Sau ấy chẳng
bao lâu, lại có nữ bảo, hình dung đoan chính vi diệu đệ nhất, chẳng dài,
chẳng ngắn, chẳng trắng, chẳng đen, các lỗ chân lông trên thân thể tỏa ra
mùi hương chiên đàn, hơi miệng thơm sạch như hoa sen xanh, mắt nữ bảo ấy
nhìn thấy xa một do tuần, tai nghe, mũi ngữi cũng lại như vậy. Lưỡi của nữ
bảo ấy rộng to, lè ra có thể che cả mặt, hình sắc mịn màng mong manh như
lá đồng đỏ, tâm thức thông triết có trí tuệ lớn, đối với các chúng sinh
thường có lời nói dịu dàng. Người con gái ấy khi dùng tay chạm vào áo vua
thì liền biết thân vua an vui hay bệnh hoạn, cũng biết lòng vua duyên vào
đâu. Lúc bấy giờ, vua Ðỉnh Sanh lại nghĩ rằng: “Nếu có người con gái có
thể biết được lòng vua tức là nữ bảo”. Sau ấy chẳng bao lâu, ở trong cung
vua, tự nhiên mà có ngọc bảo Ma ni, thuần màu xanh lưu ly, lớn như cái bầu
của bánh xe, có thể ở trong tối chiếu xa đến một do tuần. Nếu trời tuông
mưa mà giọt mưa lớn như trục bánh xe thì thế lực của ngọc này có thể tạo
thành táng che lớn che được một do tuần, ngăn trận mưa lớn này, chẳng cho
nước mưa lọt qua. Lúc bấy giờ, vua Ðỉnh Sanh lại nghĩ rằng : “Nếu vua
Chuyển Luân được ngọc báu này thì nhất định là Thánh Ðế”. Sau ấy chẳng bao
lâu, có chủ tạng thần tự nhiên mà xuất hiện với nhiều của báu, giàu to
không lường, kho tàng đầy ắp, không gì thiếu thốn. Chủ tạng thần này được
nhãn căn mà sức nhìn có thể thấy suốt tất cả kho tàng ẩn chứa sẵn có trong
lòng đất, theo sở niệm của vua đều có thể bày biện cho vua. Lúc bấy giờ,
vua Ðỉnh Sanh lại muốn thử thách ông ấy, liền ngồi chung thuyền đi vào
biển cả và bảo tạng thần rằng : “Ta nay muốn được kỳ trân dị bảo !” Tạng
thần nghe rồi liền dùng hai tay khoáy nước biển cả thì mười đầu ngón tay
xuất hiện mười bảo tàng, đem dâng lên Thánh vương mà bạch với vua rằng :
“Tâu Ðại vương ! Cái ngài cần thì ngài tùy ý sử dụng đi ! Của ấy còn lại
thì phải ném trả cho biển cả”. Lúc bấy giờ, vua Ðỉnh Sanh, lòng rất vui
mừng, nảy nhót không lường, lại nghĩ rằng : “Ta nay nhất định là Chuyển
Luân Thánh Vương”. Sau ấy chẳng bao lâu, có Chủ Binh thần tự nhiên mà xuất
hiện. Ông ấy dũng mãnh, thao lược, kế sách, mưu mô đệ nhất, giỏi biết bốn
binh chủng. Nếu ông ấy gánh vác việc chiến đấu thì xuất hiện Thánh vương.
Nếu ông chẳng gánh vác, thoái lui thì Thánh vương chẳng hiện. Kẻ chưa bị
tiêu diệt hàng phục thì ông có thể tiêu diệt, hàng phục. Người đã tiêu
diệt hàng phục thì sức có thể thủ hộ. Lúc bấy giờ, vua Ðỉnh Sanh lại nghĩ
rằng : “Nếu vua Chuyển Luân được Binh bảo này thì phải biết nhất định là
Chuyển Luân Thánh Vương”. Lúc đó, Chuyển Luân Thánh Ðế Ðỉnh Sanh bảo các
đại thần rằng : “Các ông phải biết rằng, cõi Diêm Phù Ðề này yên ổn, giàu
thịnh, vui sướng. Ta nay đã có bảy báu thành tựu, một ngàn đứa con trai
đầy đủ. Ta lại đi đâu, làm gì ?” Các bề tôi đáp rằng : “Thưa vâng! Thưa
Ðại vương ! Cõi Phất Bà Ðề ở phương Ðông còn chưa qui đức, đại vương nay
nên đi đến !”. Lúc bấy giờ, Thánh Vương liền cùng với bảy báu, tất cả quân
doanh tháp tùng, bay lên không mà đi đến cõi Phất Bà Ðề ở phương Ðông.
Nhân dân cõi đó vui mừng qui hóa. Vua lại bảo các đại thần rằng : “Cõi
Diêm Phù Ðề và Phất Bà Ðề của ta yên ổn, giàu thịnh, vui sướng, nhân dân
đông đúc đều đến qui hóa, bảy báu thành tựu, ngàn con đầy đủ. Ta lại làm
gì? Ở đâu nữa ?” Các bề tôi đáp rằng : “Thưa vâng ! Thưa đạivương ! Cõi Cù
Ðà Ni ở phương Tây còn chưa qui đức”. Bấy giờ, Thánh Vương lại cùng với
bảy báu, tất cả quân doanh tháp tùng, bay lên hư không mà đi đến cõi Cù Ðà
Ni. Nhà vua đã đến đó thì nhân dân cõi đó cũng lại qui phục. Vua lại bảo
các đại thần rằng : “Cõi Diêm Phù Ðề, Phất Bà Ðề và Cù Ðà Ni này của ta
yên ổn, giàu thịnh, vui sướng, nhân dân đông đúc đều đã qui hóa, bảy báu
thành tựu, ngàn con đầy đủ. Ta lại làm gì ? Ở đâu ?”. Các bề tôi tâu rằng
: “Thưa vâng ! Thưa Ðại vương ! Cõi Uất Ðan Việt ở phương Bắc còn chưa qui
hóa !” Bấy giờ, Thánh Vương lại cùng với bảy báu, tất cả quân doanh tháp
tùng, bay lên hư không mà đi đến cõi Uất Ðan Việt ở phương Bắc. Vua đã đến
đó thì nhân dân cõi đó vui mừng qui đức. Vua lại bảo các đại thần rằng :
“Bốn thiên hạ của ta yên ổn, giàu thịnh, vui sướng, nhân dân đông đúc đều
đã qui đức, bảy báu thành tựu, ngàn con đầy đủ. Ta lại làm gì ? Ở đâu?”
Các bề tôi đáp rằng : “Thưa vâng ! Thưa Thánh Vương ! Cõi trời Ba Mươi Ba
thọ mạng rất dài, yên ổn, khoái lạc. Thân hình của trời đó đoan nghiêm
không gì sánh, cung điện chỗ ở, giường, ngọa cụ... đều là bảy báu. Trời ấy
tự thị thiên phước chưa đến qui hóa. Nay nhà vua nên đến hỏi tội, khiến
cho họ qui phục”. Bấy giờ Thánh Vương lại cùng bảy báu, tất cả quân doanh
tháp tùng, bay lên hư không lên cõi trời Ðao Lợi. Vua thấy có một cây mà
màu xanh biếc. Thánh vương thấy rồi liền hỏi đại thần rằng : “Ðây là sắc
gì ?” Ðại thần đáp rằng : “Ðây là cây Ba Lợi Chất Ða La, vào những ngày
tháng ba mùa hạ, chư thiên của trời Ðao Lợi thường ở dưới cây ấy vui sướng
hưởng thụ lạc”. Vua lại thấy sắc trắng giống như mây trắng, lại hỏi đại
thần rằng : “Ðó là sắc gì ?” Ðại thần đáp rằng : “Ðó là Thiện Pháp Ðường,
chư thiên trời Ðao Lợi thường tập họp trong ấy, bàn luận việc nhân thiên”.
Ðến đây, thiên chúa Thích Ðề Hoàn Nhân biết vua Ðỉnh Sanh đã đến ở bên
ngoài, liền ra nghênh đón, gặp nhau rồi, nắm tay nhau thăng lên Thiện Pháp
Ðường, chia tòa mà ngồi. Lúc đó, hai vua hình dung, tướng mạo như nhau,
không có sai biệt, chỉ có cái nhìn là sai khác. Lúc này, Thánh Vương liền
sinh ý niệm rằng : “Ta nay chắc có thể đẩy lùi vị vua kia tức là trụ trong
cõi trời ấy làm vua trời chăng ?” Này thiện nam tử ! Lúc bấy giờ, Ðế Thích
thọ trì, đọc tụng Kinh điển Ðại Thừa, khai thị, phân biệt vì người khác
diễn nói, chỉ có đối với ý nghĩa sâu xa chưa thông đạt hết. Do sức nhân
duyên đọc tụng, thọ trì, phân biệt, vì người khác diễn nói rộng rãi này
nên có uy đức lớn. Này thiện nam tử ! Vua Ðỉnh Sanh đó đối vị Ðế Thích này
sinh ra ác tâm xong liền đọa lạc trở lại cõi Diêm Phù Ðề cùng với sự ái
niệm, người trời ly biệt, phát sinh ra đại khổ não. Nhà vua lại gặp bệnh
dữ, liền mạng chung. Ðế Thích lúc bấy giờ là đức Phật Ca Diếp đó ! Vị
Chuyển Luân Thánh Vương là thân ta đó ! Này thiện nam tử ! Ông phải biết,
ái biệt ly như vậy thì rất là khổ lắm (đại khổ). Này thiện nam tử ! Ðại Bồ
tát còn nhớ sự ái biệt ly khổ của những bậc như vậy đời quá khứ, huống gì
là Bồ tát trụ ở Kinh Ðại thừa Ðại Bát Niết Bàn mà sẽ chẳng quan sát sự ái
biệt ly khổ của đời hiện tại.
Này thiện nam
tử ! Sao gọi là Bồ tát tu hành Kinh Ðại thừa Ðại Niết Bàn, quan sát oán
tắng hội khổ ? Này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát này quan sát ở địa ngục, súc
sinh, ngã quỉ, trong loài người, trên cõi trời đều có oán tắng hội khổ như
vậy. Ví như người quan sát lao ngục, trói buộc, giam giữ, cùm khóa, xiềng
xích... lấy làm khổ lớn. Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, quan sát năm đường,
tất cả loài thọ sinh đều là oán ghét hợp hội rất khổ. Lại nữa, này thiện
nam tử ! Ví như có người thường sợ sự cùm khóa, xiềng xích của oán gia mà
rời bỏ cha mẹ, vợ con, quyến thuộc, trân bảo, sản nghiệp... trốn chạy xa.
Này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, kinh sợ sinh tử mà tu hành
đầy đủ sáu Ba la mật, vào với Niết Bàn. Này Ca Diếp ! Ðó gọi là Bồ tát tu
hành Kinh Ðại thừa Ðại Bát Niết Bàn, quan sát oán tắng hội khổ.
Này thiện nam
tử ! Sao gọi là Bồ tát tu hành Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn, quan sát cầu bất
đắc khổ ? Cầu là tất cả cầu hết. Cầu hết có hai thứ, một là cầu thiện
pháp, hai là cầu bất thiện pháp. Thiện pháp chưa được thì khổ. Ác pháp
chưa lìa khỏi là khổ. Ðó là lược nói về năm thịnh ấm khổ. Này Ca Diếp ! Ðó
gọi là khổ đế.
Lúc bấy giờ,
Ðại Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng :
- Thưa đức
Thế Tôn ! Như lời nói của đức Phật thì nghĩa này của năm thịnh ấm khổ,
chẳng phải vậy. Vì sao vậy ? Như đức Phật thuở xưa bảo ông Thích Ma Nam
rằng, nếu sắc khổ thì tất cả chúng sinh chẳng nên cầu sắc. Nếu có người
cầu thì chẳng gọi là khổ. Như đức Phật bảo các Tỳ kheo rằng, có ba thứ thọ
là thọ khổ, thọ lạc và thọ chẳng khổ chẳng lạc. Như đức Phật trước đã vì
các Tỳ kheo nói rằng, nếu có người có thể tu hành thiện pháp thì được
hưởng thọ lạc. Lại như đức Phật nói rằng, ở trong thiện pháp, sáu thứ tiếp
xúc hưởng thọ lạc, như mắt thấy sắc đẹp thì đó gọi là vui (lạc), tai...,
mũi..., lưỡi..., thân..., ý nghĩ pháp tốt cũng lại như vậy. Như đức Phật
đã nói kệ :
Trì giới được
lạc an Ø Thân chẳng thọ mọi khổ
Ngủ nghĩ được
bình yên Thức dậy lòng
hoan hỷ
Nếu khi thọ
mặc ănKinh hành mà tu tập
Một mình ở
núi rừng Như vậy là tối lạc.
Có thể với
chúng sinh Ngày đêm luôn từ ái
Nhân đó được
vui thường Chẳng não hại người khác.
Vui thiểu
dục, tri túc Vui phân biệt đa văn
Không trước A
la hán (chấp trước) Cũng gọi thọ lạc an.
Bồ tát Ma ha
tát Ðến bờ kia rốt cùng
Mọi việc đã
làm xong Ðó gọi là Tối lạc.
Thưa đức Thế
Tôn ! Như lời nói trong các Kinh thì hình tướng của Lạc, nghĩa nó là như
vậy. Như lời đức Phật hôm nay thì làm sao sẽ cùng với nghĩa này tương ứng
?
Ðức Phật bảo
ngài Ca Diếp rằng :
- Hay thay !
Hay thay ! Này thiện nam tử ! Ông có thể khéo léo hỏi han Như Lai ý nghĩa
này ! Này thiện nam tử ! Tất cả chúng sinh ở trong hạ khổ (khổ ở tầng dưới
cùng) mà ngược lại sinh ra lạc tưởng. Vậy nên lời nói của ta hôm nay về
khổ tướng cùng với lời nói cũ chẳng khác.
Bồ tát Ca
Diếp bạch đức Phật rằng :
- Như lời nói
của đức Phật, ở trong hạ khổ sinh ra lạc tưởng thì hạ sinh, hạ lão, hạ
bệnh, hạ tử, hạ ái biệt ly, hạ cầu bất đắc, hạ oán tắng hội, hạ ngũ thịnh
ấm, những khổ như vậy.v.v.. cũng nên có lạc (vui). Thưa đức Thế Tôn ! Hạ
sinh là gọi ba đường ác, trung sinh là gọi trong loài người, thượng sinh
là gọi trên trời. Nếu lại có người hỏi như vầy : “Nếu ở hạ lạc sinh ra khổ
tưởng, ở trong trung lạc sinh ra vô khổ lạc tưởng, ở trong thượng lạc sinh
ra lạc tưởng thì phải đáp ra sao ? Thưa đức Thế Tôn ! Nếu trong hạ khổ
sinh ra lạc tưởng thì con chưa thấy có người phải chịu một nghìn hình phạt
mà ngay khi lần hạ khổ đầu tiên đã sinh ra lạc tưởng. Nhưng nếu chẳng sinh
thì sao nói rằng, ở trong hạ khổ mà sinh ra lạc tưởng ?
Ðức Phật bảo
ngài Ca Diếp rằng :
- Ðúng vậy !
Ðúng vậy ! Ðúng như lời nói của ông ! Do nghĩa này nên không có lạc tưởng.
Vì sao vậy ? Vì giống như người kia phải chịu một ngàn hình phạt mà đã
chịu một lần hạ khổ rồi liền được thoát thì người đó bấy giờ liền sinh ra
lạc tưởng. Vậy nên ông phải biết, ở trong vô lạc (không vui) vọng sinh ra
lạc tưởng.
Ngài Ca Diếp
nói rằng :
- Thưa đức
Thế Tôn ! Người đó chẳng do một lần hạ khổ sinh ra lạc tưởng mà do được
thoát nên sinh ra lạc tưởng.
- Này Ca Diếp
! Vậy nên lúc xưa ta vì Thích Ma Nam nói rằng, lạc (vui) trong năm ấm là
thật chẳng phải hư dối vậy. Này Ca Diếp ! Có ba thọ, ba khổ. Ba thọ là thọ
lạc, thọ khổ, thọ chẳng khổ chẳng lạc. Ba khổ là khổ khổ, khổ hành, khổ
hoại. Này thiện nam tử ! Thọ khổ thì gọi là ba khổ, đó là khổ khổ, khổ
hành, khổ hoại. Còn hai thọ là gọi khổ hành và khổ hoại. Này thiện nam tử
! Do nhân duyên đó nên trong sinh tử thật có thọ lạc. Ðại Bồ tát vì tính
của khổ lạc chẳng rời bỏ nhau nên nói rằng, tất cả đều khổ. Này thiện nam
tử ! Trong sinh tử thật không có lạc mà chỉ những Phật, Bồ tát vì thuận
theo thế gian nên nói rằng có Lạc.
Bồ tát Ca
Diếp bạch đức Phật rằng :
- Thưa đức
Thế Tôn ! Các đức Phật Bồ tát nếu nói thuận theo thế tục thì tức là hư
vọng chăng ? Như lời nói đức Phật, người tu hành thiện thì thọ quả báo
lạc, trì giới thì an lạc, thân chẳng thọ khổ... cho đến mọi việc đã biện
thành thì đó là tối lạc. Như vậy việc nói hưởng thọ lạc của các Kinh là hư
dối chăng ? Nếu là hư vọng thì các đức Phật Thế Tôn từ lâu, ở trong vô
lượng trăm ngàn vạn ức atăngkỳ kiếp, tu đạo Bồ Ðề, đã lìa khỏi vọng ngữ mà
hôm nay nóilời nói đó, ý nghĩa ấy ra sao ?
Ðức Phật dạy
rằng :
- Này thiện
nam tử ! Như bài kệ nói về những thọ lạc ở trên tức là căn bản của đạo Bồ
Ðề, cũng có thể nuôi lớn Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do nghĩa này nên
ở trong Kinh trước nói về tướng lạc này. Này thiện nam tử! Ví như của cải
sinh sống cần thiết của thế gian có thể là nguyên nhân của Lạc nên gọi là
Lạc. Ðó là đắm say nữ sắc, uống rượu, đồ ăn ngon, vị ngọt... khi khát được
nước, khi lạnh gặp lửa, quần áo, chuỗi ngọc, voi, ngựa, xe cộ, nô tỳ, đồng
bộc, vàng, bạc, lưu ly, san hô, chân châu, kho tàng, lúa gạo.v.v... Những
vật cần dùng của thế gian như vậy.v.v... có thể là nguyên nhân của Lạc. Ðó
gọi là Lạc. Này thiện nam tử ! Những vật như vậy cũng có thể sinh ra khổ.
Nhân vào nữ nhân sinh ra khổ của nam tử, ưu sầu buồn khóc thậm chí mất cả
mạng sống. Nhân rượu, vị ngon... cho đến kho tàng, lúa gạo cũng có thể
khiến cho con người sinh ra ưu bi, khổ não lớn. Do nghĩa này nên tất cả
đều khổ, không có tướng vui. Này thiện nam tử ! Ðại Bồ tát đối với tám cái
khổ này giải thoát khổ, không có khổ. Này thiện nam tử ! Tất cả Thanh Văn,
Bích Chi Phật.vv... chẳng biết nguyên nhân của Lạc. Vì những người như
vậy, ở trong hạ khổ nói có tướng của lạc, chỉ có Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại
Bát Niết Bàn mới có thể biết nhân của khổ, nhân của lạc này.
KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN
- Quyển
thứ mười một hết -
--- o0o ---
Mục Lục
01 |
02 |
03 | 04 |
05 |
06 | 07 |
08 |
09 | 10 |
11 |
12
13 |
14 | 15 |
16 |
17 | 18 |
19 |
20 | 21 |
22 |
23 | 24
25 |
26 | 27 |
28 |
29 | 30 |
31 | 32 |
33 |
34 | 35 |
36
--- o0o ---
|
Thư
Mục Tác Giả |
--- o0o ---
Vi tính: Thọ Huệ
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật ngày:
01-2-2003