Nhập
pháp giới
lược giải
Rừng Thệ Ða trong vườn họ Cấp
Năm trăm người hội nhập diệu quang.
Thanh văn, quyến thuộc hàng hàng
Cúi đầu phủ phục đạo tràng từ bi.
Ðất chấn động mười phương Bồ Tát
Hạnh Phổ Hiền rực sáng bửu đài,
Thanh văn ngã, pháp phân hai,
Nên không thấu được Như Lai hạnh từ.
Ðịnh thần quang vào trong tam muội,
Tướng bạch hào mở lối hoằng dương.
Trang nghiêm vi diệu mười phương,
Hào quang chiếu rạng đức ân một trời.
Ðãnh lễ Phật, Văn Thù Sư Lợi,
Cùng chư tăng phát khởi từ tâm
Nhân gian hóa độ về Nam,
Mở mười hạnh nguyện, phát tâm tu hành.
Hạnh thứ nhất, thiện căn tụ tích
Hạnh thứ nhì, cung kính Như Lai
Thứ ba, học Phật đêm ngày
Thứ tư, lục độ, cửu đài liên hoa.
Hạnh thứ năm, tựu thành tam muội
Cõi Trời, người, tạm gởi báo thân.
Mười phương nghiêm tịnh, trong ngần
Hóa hoằng đạo pháp, huyền âm vang trời.
Hạnh thứ chín, đi vào tam giới,
Bồ Tát nguyền tự lợi, lợi tha.
Sanh thân vào chốn ta bà
Trên đồng chư Phật, dưới là phàm nhân.
Hạnh thứ mười, hoàn thành thập lực
Vô lượng thân cũng tức một thân.
Hằng sa hay một vi trần,
Sánh cùng núi Thái, non Tần viên thông.
Lòng cầu đạo, Thiện Tài Ðồng Tử,
Thanh tịnh tâm, thất bửu là tên.
Vào đời cũng tại thiện duyên
Hằng cầu vô thượng đạo huyền Như Như.
Trong rừng hạnh, khấu đầu lễ bái,
Ngài Văn Thù chỉ dạy pháp môn.
Thiện Tri Thức, đó là nguồn
Học Bồ Tát đạo, lòng luôn khẩn cầu.
Ði về Nam, đến miền Thắng Lạc
Núi Diệu Phong, Bồ Tát Ðức Vân
Thiện Tài chiêm ngưỡng ân cần,
Một lòng từ tạ đi dần về Nam.
Lòng khát ngưỡng, bảy ngày mong đợi,
Ngọn Diệu Phong, mây nổi phù du.
Ðịnh tâm, thấy vị chân tu,
Từ trên đỉnh núi, nhàn du kinh hành.
Nầy nam tử, mười phương chư Phật,
Tưởng nhớ luôn, như nhất chẳng rời.
Trí quang chiếu diệu, rạng ngời
Trì tâm niệm Phật, cũng thời pháp môn.
Ðắc tam muội, nhãn căn thông suốt
Thấy mười phương cõi nước hiện ra.
Ức niệm, nhất thiết Phật Ðà,
Nhất tâm niệm Phật, chính là diệu tâm.
Qua biển nam, Hải Vân tên gọi
Như mây trời, dệt bởi thiện căn
Hải Vân, biển ấy khôn ngăn
Chứa dung vạn pháp vào trong tâm nầy.
Như biển rộng muôn ngàn hải lý
Biển tâm ta, khó nghĩ, khó suy
Nở ra nghìn cánh lưu ly
Pháp môn Phổ Nhãn, ma ni kết thành.
Hơn ngàn năm quán sâu đại hải
Nhập thần quang vô ngại quang minh.
Vô biên phẩm hạnh tựu hình
Ðà-la-ni tạng, hóa thành bửu quang.
Thân đãnh lễ, tâm hằng tán thán
Ði về nam, Hải Ngạn tìm phương
Tìm người Thiện Trụ đưa đường
Học Bồ Tát hạnh, cúng dường Như Lai.
Vô trụ ấy gọi là thiện trụ,
Giữa hư không hiện bửu diệm vân.
Ðứng, đi, ẩn, hiện, ngồi, nằm
Xuyên qua tường vách, hiện thân đủ đầy.
Hoặc đưa tay chạm vào nhật, nguyệt
Khắp mười phương bất khả thuyết bàn.
Trời Phạm Cung, giữa đạo tràng
Thân cao nghìn dặm, hai hàng Sắc, Không.
Nhớ tất cả, thọ trì tất cả
Pháp huyền vi chư Phật thuyết ra.
Chúng sinh trong cõi ta bà
Sanh thân giáo hóa, hiện đà-la-ni.
Nhiễu quanh vòng, Thiện Tài từ tạ,
Về nam tìm Ðạt Lý Tỹ Trà.
Diệu âm vang động Di Già,
Pháp môn luân tự, trên tòa hoằng khai.
Dưới đài báu, khấu đầu lễ bái
Giữa chợ thành Tự Tại chuyển luân.
Cầu xin chỉ dạy pháp môn,
Sinh trong các cõi, vững tâm Bồ Ðề.
Giữ được ý Như Như kiên cố,
Làm thế nào hằng nhớ đại bi.
Quang minh phát hiện diệu vi,
Thần thông vô ngại, thọ trì pháp luân.
Diệu nghĩa tạng, thậm thâm vấn đáp
Nơi muôn loài thuyết pháp độ sanh.
Tịnh đạo, diệu lực viên thành
Trí huệ khai mở, quang minh đại từ.
Ngài Di Già hỏi cùng Ðồng Tử:
‘Bồ Ðề Tâm hằng giữ chẳng sai?’.
Dưới chân quỳ lạy Thiện Tài,
Chiên đàn, hương phấn phủ ngoài thiên y.
Từ trên mặt phóng muôn tia sáng
Khắp Ðại Thiên tán thán thiện tâm.
Trên tòa khai thị pháp âm,
Trang nghiêm luân tự thậm thâm mật truyền.
Luân tự phẩm, diệu năng phân biệt
Từng ngữ ngôn khắp hết Ðại thiên.
Ðà-la-ni tạng diệu huyền,
Mật thâm pháp cú, sở duyên ba đời.
Mười hai năm tìm ngài Giải Thoát,
Thành Trụ Lâm, Bồ Tát nhập thần.
Dựa vào quá khứ thiện căn,
Văn Thù niệm lực, oai thần Thế Tôn.
Thấy được cả Như Lai, Bồ Tát,
Cùng được nghe đại nguyện, thuyết ngôn.
Thiên Cung Ðâu Suất, Phật đường
Nhập tam muội hải, mười phương đạo tràng.
Thiện Tài thấy hằng sa chư Phật,
Lại dạy rằng: Xuất nhập vô biên,
Tùy tâm, khởi ý thấy liền
Di Ðà Cực Lạc, hoặc miền diệu hương.
Nầy nam tử, Như Lai như mộng,
Cùng tâm ta, huyễn vọng đó thôi.
Ba mươi hai vẻ tuyệt vời,
Gồm trong chữ hóa, vậy thời do tâm.
Như hóa hiện, tịnh tu Phật pháp,
Như âm vang, giải thoát chúng sinh.
Như mây, điều phục, viên thành,
Chân Tâm biến hiện, quang minh độ đời.
Vì lẽ đó, phải dùng thiện pháp,
Cùng trí minh, khai sáng tự tâm.
Nhẫn nhục, tinh tấn thấm nhuần,
Chiếu soi, khai phát, chưa từng phóng tâm.
Ði về Nam, nước tên Ma Lợi,
Có Tỳ kheo, tên gọi Hải Tràng
Thiện Tài ứa lệ tán dương,
Diêm phù cõi ấy, tìm đường tiến tu.
Thiện Tài thấy tỳ kheo tĩnh tọa,
Thân và tâm bất động, im hơi.
Dưới chân, từ chỗ ngài ngồi,
Hằng muôn đại chúng đồng thời hiện ra.
Tự nghiêm sức bằng muôn chuỗi ngọc,
Cùng hương hoa, y phục nghiêm thân.
Như mưa cứu giúp cùng bần,
Dẹp trừ khổ não, đức ân sáng ngời.
Sát-Ðế-Lợi hiện muôn ngàn ức,
Bà-la-môn cũng bậc huệ thông.
Từ hai gối hiện lạ lùng,
Lại dùng ái ngữ nhiếp tâm muôn loài.
Nơi eo lưng hiện ra vô số
Hàng tiên nhân áo cỏ, hài cây.
Tay cầm bình bát oai nghi,
Du hành thế giới, thiên y rợp trời.
Từ hư không, diệu âm ca ngợi
Ðấng Thế Tôn cùng giới tịnh căn.
Hoặc là nói pháp thế gian,
Khuyến tu phạm hạnh, luận bàn nghiệp duyên.
Hai bên hông cũng thời xuất hiện
Bất tư nghì thần biến chư long.
Trang nghiêm mây báu vạn tầng,
Cúng dường thế giới mười phương đạo tràng.
Ngay giữa ngực, từ trong chữ Vạn,
Lại hiện ra muôn ức ma vương.
Thiên cung phong tỏa ma quân,
Dứt tâm kiêu mạn, phá sân, dẹp phiền.
Từ trên lưng hiện ra Ðộc giác,
Cùng Thanh Văn nói pháp vô thường.
Tùy người nói diệu pháp môn,
Mở bày diệu hạnh khắp cùng căn cơ.
Từ hai vai hiện ra vô số,
Dạ Xoa cùng La Sát chư vương.
Hộ trì chuyển chánh pháp luân,
Xa rời sinh tử, trụ thân Bồ Ðề.
Từ nơi bụng cũng thời xuất hiện,
Khẩn-na-la, Càn-thát-bà vương.
Ca ngâm, tán thán thiện căn,
Pháp môn vi diệu, phát tâm đại từ.
Từ trên mặt hiện muôn ngàn ức
Chuyển-luân-vương nghiêm sức bửu quang.
Nghìn muôn thể nữ đài trang,
Khác gì mây nổi, trăng vàng đáy khe.
Như ảnh hiện, lòng xa dâm loạn,
Ðại từ bi chẳng đoạn nơi tâm.
Ái hòa, ngôn ngữ thật chân,
Nhân duyên sanh khởi, có ngần ấy thôi.
Từ hai mắt, nhật luân chiếu suốt,
Hàng thú cầm, cõi nước A tỳ.
Muôn nghìn tia sáng lưu ly,
Tối tăm, cùng khổ, mê si phá trừ.
Từ trong tướng bạch hào thần biến,
Hằng muôn nghìn Ðế Thích hiện ra.
Ma ni, trân bửu chói lòa,
Giác mê, trì chí trên tòa Thiên cung.
Khiến Thiên chúng niệm tu chánh pháp,
Cảnh thế gian nhàn chán tử sinh.
Hàng ma, dứt bỏ thế tình,
Bảo trì chánh tạng, trí minh vẹn tuyền.
Từ trên trán tỳ kheo xuất hiện
Hằng trăm ngàn, muôn ức Phạm thiên.
Hiện ra thân tướng đoan nghiêm,
Tán dương chư Phật, thuyết minh đạo mầu.
Lại cũng thấy trên đầu, Bồ Tát
Hiện hằng muôn Phật sát vi trần.
Trang nghiêm tướng hão nơi thân
Vô biên công hạnh, phóng quang độ đời.
Từ trên đảnh Như Lai hiện tướng
Thân chói vàng vô lượng quang minh.
Mười phương phát diệu âm thanh,
Như mưa, lớp lớp chúng sanh thấm nhuần.
Quang minh võng, lưới châu thị hiện
Cảnh vô biên, sắc tướng vô biên.
Hằng sa diệu dụng trang nghiêm,
Hằng sa Phật sát uyên nguyên tỏ bày.
Sau nhiều ngày từ tam muội xuất,
Ngài Thiện Tài rất mực ngợi khen
Thưa rằng : Lợi ích vô biên,
Khiến cho sanh chúng không quên Bồ Ðề.
Ði về nam, tìm ngài Hưu Xã
Ưu-bà-Di ngự chốn viên lâm.
Bồ Ðề Tâm. Bồ Ðề Tâm.
Phát ra đại nguyện đi trong cảnh đời.
Nầy nam tử, dùng phương tiện hạnh
Ðến khi nào nghiêm tịnh thế gian.
Chúng sinh dứt hết não phiền,
Xa rời kiến chấp đảo điên ái hà.
Ði về Nam, đến Na-la-Tố
Tìm tiên nhân Tỳ-Mục-Cù-Sa.
Hương trầm thủy, thanh liên hoa
Hiện ra y báo, một tòa trang nghiêm.
‘Bồ Tát Vô Thắng Tràng Giải Thoát,
Là hạnh môn ta đạt đã lâu’.
Nói xong tay hữu xoa đầu,
Thiện Tài Ðồng Tử vào sâu định thiền.
Liền được thấy mười phương thế giới
Liền được nghe mỗi mỗi diệu âm.
Thấy rằng vì chúng sinh tâm,
Nên chư Phật hiện sắc thân giả bày.
Thấy chư Phật đủ đầy hạnh nguyện
Khi nguyện sinh, thập lực phát sinh.
Trí huệ vô ngại quang minh,
Tùy nghi sanh chúng, thuyết trình pháp môn.
A-Ty-La phương Nam tìm đến,
Bà-la-Môn Thắng Nhiệt là tên.
Núi đao trong lửa dựng nên,
Thấy người khổ hạnh từ trên gieo mình.
Lại dạy cùng Thiện Tài Ðồng Tử :
Nếu như người đã giữ nhất tâm,
Khẩn cầu đạo hạnh chẳng lầm,
Giữa lòng đao, lửa xã thân khó gì.
Thiện Tài bỗng khởi nghi tự hỏi :
Ðược thân người cũng bởi thiện duyên.
Xa rời mọi sự đảo điên,
Ðủ căn, nghe pháp, gặp người hiền dễ đâu.
Vừa suy nghĩ, hư không hiện tướng
Nghìn Phạm Thiên đồng xướng diệu âm :
Chớ nghi hoặc, chớ mê lầm,
Kim cang tam muội quang minh đã thành.
Lửa trí huệ đốt thiêu tà kiến,
Ðộ người tu, không luyến, không tham.
Dứt trừ kiến chấp mê lầm,
Sợ già, sợ chết, thâm tâm não phiền.
Nầy nam tử, Phạm Thiên cũng vậy,
Nếu cho mình tự tại tối cao,
Tâm kiêu mạn, ý tự hào
Sa vào thân chấp, khác nào vô minh.
Lại thấy cả thiên ma, thiên tử
Hóa-lạc-thiên cùng với Dạ xoa,
Rằng : lửa tam muội chói lòa
Khiến cho cung điện hóa trò bể dâu!.
Lòng vui mừng, Thiện Tài đãnh lễ
Bà-la-môn nói kệ đáp rằng :
Lấy Thiện Tri Thức trì tâm,
Xa rời loạn động, tọa thân Bồ Ðề.
Trong chánh niệm, gieo mình vào lửa
Thân vừa khi rơi xuống nửa chừng
Chứng liền thiện trụ thần thông
Bồ Tát tịch tịnh trong vòng lửa, đao.
Liền đãnh lễ, tạ từ cất bước
Thân tâm lìa chấp trước có, không.
Nhận ra chư Phật tâm đồng,
Chúng sanh vô ngã, Chân Tâm vô cùng.
Nhìn thanh sắc như vang, như bóng
Hội đạo tràng cũng có, cũng không.
Phá trừ vọng tưởng viễn vông
Tâm vô phân biệt, giữ lòng chẳng sai.
Ði về Nam, đến thành Sư Tử
Từ-Hạnh là đồng nữ, con vua
Ngự trong điện báu Tỳ Lô
Năm trăm thể nữ dưới tòa thánh cung.
Tỳ Lô tạng, lưu ly làm đất
Lưới báu châu, cung thất làm màn
Vách rào, tường đúc kim cang
Ma ni tối thượng thế gian chẳng đồng.
Nầy nam tử, pháp môn Bát Nhã
Là Ba-La-Mật-Phổ-Trang-Nghiêm
Tư duy, quán sát, nhớ liền
Trăm ngàn vô số hiện tiền đà-la-ni.
Ði về Nam đến miền tam nhãn
Tìm gặp người Thiện Kiến tỳ kheo
Rừng thiền nhẹ bước kinh hành
Phong tư cốt cách, tóc xanh, môi hồng.
Thanh tịnh trí, mười phương Phật hiện
Nhất niệm tâm, thấu hết chúng sanh.
Mười hạnh trí lực viên thành
Chúng sanh có tận, pháp lành không vơi.
Ði về Nam, Danh Văn đồng tử
Trên bãi sông sanh tử, não phiền
Nhập được công xảo ngũ minh,
Nhìn trong số cát, biết tên muôn loài.
Về phương Nam tìm thành Hải Trụ
Ưu-bà-di Cụ Túc là tên
Bạch y, oai đức trng nghiêm
Mười ngàn thiên nữ vây quanh chỗ ngồi.
Bồ Tát vô tận công đức tạng
Là hạnh môn trong bát nhỏ nầy.
Hiện ra vật dụng đủ đầy,
Khắp nơi, khắp cõi, không ngày nào vơi.
Về phương Nam, tìm người cư sĩ
Thành Ðại Hưng, Minh Trí là tên.
Nhờ vào thập lực quang minh,
Thấy ngồi giữa chợ như trên bửu đài.
Trong một niệm nhất tâm bố thí,
Từ hư không, như ý hiện ra
Ngàn muôn vật dụng độ tha
Xuất sanh phước đức, thuyết ra Bồ Ðề.
Ði về Nam tìm ngài Bửu Kế
Thấy từ trong đài báu mười tầng
Chứa dung các thức uống ăn,
Bửu y, báu vật, mỹ nhân có thừa.
Tầng thứ năm có chư Bồ Tát
Thành tựu quang muội hạnh nghiêm thân
Trang nghiêm trí huệ thậm thâm
Liễu minh thông đạt pháp môn tổng trì.
Tâm tịch lặng không chia hai pháp
Ðối đãi nhau, thông suốt nhất nguyên.
Bát Nhã hiển thị như nhiên,
Nhập thế gian hải, độ miền trần mê.
Trong trần kiếp, nước tên Viên Mãn
Phật hiệu là Phổ Nhãn Như Lai.
Thân tâm đãnh lễ Phật đường,
Dâng hương, tấu nhạc, cúng dường Thế Tôn.
Lập hạnh nguyện xa lìa cùng khổ,
Ðược đại bi, bát nhã, thánh tài.
Nguyện xin thường thấy Như Lai,
Thường nghe chánh pháp tỏ bày Chân Như.
Ðầu đãnh lễ, tâm hằng ghi nhớ
Lạy tạ từ, trí mở, huệ thông.
Phương Nam tìm đến Phổ Môn,
Hỏi người Phổ Nhãn, vạn hương trụ thần.
Hương trầm tỏa, thiện căn an định
Giải thoát hương, bá bệnh điều nhu.
Do tâm đắm nhiễm, vọng cầu
Nên thân trói buộc, ngục tù thế gian.
Người tham dục, quán thân bất tịnh,
Người hận sân, dạy định từ tâm.
Người si, tướng giả chớ lầm,
Người phiền não dạy năm phần chớ quên.
Nầy nam tử, phương Nam tìm đến
Thành Ða La Tràng kết ngàn cây
Cầu vua Yễm Túc giải bày,
Học Bồ Tát hạnh không ngoài nhân gian.
Vào cung thất thấy ngàn khí giới
Hành tội nhân, cắt lưỡi, chặt tay.
Thiện Tài sinh khởi lòng nghi
Chư thiên liền hiện giải bày pháp môn.
Do hóa hiện, tịnh tu như-huyễn
Lập ngục môn, nguyền độ nhân sinh.
Khiến dân kinh sợ ngục hình
Xa lìa tội ác, tựu thành diệu môn.
Lạy từ tạ, Thiện Tài cất bước
Tìm Ðại Quang, vua nước Diệu Quang.
Ðại từ, đại hạnh đạo tràng
Cỏ cây, cầm thú hàng hàng thuận quy.
Trước cổng thành uy nghi lầu gác,
Chạm lưu ly, phượng tạc, long chầu.
Bạch ngân, thất bảo muôn màu,
Lưới ngọc giăng khắp, bửu châu sáng lòa.
Vua thường ngự trong tòa pháp tạng,
Trước bệ vàng, ức vạn tư sanh.
Trân châu, bích ngọc sẵn dành,
Mang ra bố thí, chúng sanh vui mừng.
Khuyến thiện pháp, dùng phương tiện hạnh
Dạy chúng sanh thanh tịnh, an vui.
Mở kho bố thí trong ngoài,
Dạy lìa điều ác, lòng thôi oán thù.
Ngài Thiện Tài đến thành An Trụ,
Tìm gặp ngài Bất Ðộng Ưu-bà-di.
Mẹ Bát Nhã, cha Ðại Bi,
Hạnh từ tỏa sáng, lưu ly một trời.
Thiện Tài nhập năm trăm tam muội,
Thấy thân bà phát khởi diệu hương.
Dung nhan quang rạng lạ thường,
Diệu tâm thanh tịnh, chưa từng bợn nhơ.
Nầy nam tử, kiếp tên Ly Cấu
Phụ Vương là Ðiển Thọ sinh ra
Một thân công chúa là ta
Ðêm khuya vang động âm ba nhạc trời.
Công chúa ngự trên lầu nhìn thấy
Ðấng Thế Tôn, Tu Tý là danh.
Như Lai phóng đại quang minh,
Chư thiên, Bồ Tát chầu quanh chỗ ngồi.
Lòng khát ngưỡng, công nương đãnh lễ
Ðấng đại từ thuyết kệ dạy rằng :
Phát nguyện bất-khả-hoại tâm,
Diệt trừ phiền não, sưu tầm hạnh môn.
Không mỏi nhọc, hằng cầu Vô Thượng
Tai hằng nghe vô lượng pháp luân.
Nhẫn trong một chữ chưa từng,
Sinh tâm thế trí, biện phân hai đường.
Như thương gia vào trong hải đảo
Nhặt Như-Lai-ngọc-báu mang về.
Như người bủa lưới sông mê,
Ðôi bờ sinh tử, Bồ Ðề triển khai.
Như nhật, nguyệt sáng soi thế giới,
Hoa diệu tâm nở cõi ta bà,
Ðại phong, đại địa thuận hòa
Dùng tứ-nhiếp-pháp trên tòa chuyển luân.
Về phương Nam, núi tên Thiện Ðức
Ngài Biến Hành là bậc thiện căn.
Từ trên đỉnh núi định thần
Kinh hành chậm rãi, uy phong sáng ngời.
Ðây Bát Nhã, diệu môn Bồ Tát
Ðược vô y, vô tác thần thông
Hiện thân đồng chúng sanh thân,
Tùy cơ hóa độ khắp trong muôn loài.
Về phương nam, nước tên Quảng Ðại
Tìm gặp người Trưởng giả buôn hương.
Gom hương điều phục, tỏ tường
Sinh ra thiện pháp, hoằng dương thế trần.
Về phương Nam, vào thành Lâu Các
Người lái thuyền tên gọi Ba-thi-La
Trăm ngàn thương chủ gần xa,
Trên bờ bỉ ngạn, thuyết ra đại từ.
Ðại bi tràng, tịnh tu diệu đức
Trong biển tâm, châu ngọc hằng sa.
Chèo thuyền qua lại, lại qua
Ðưa người ra khỏi ái hà, về thôi.
Về phương Nam, tìm Vô Thượng Thắng
Khả-Lạc thành, thuyết giảng độ tha.
Ði qua quốc độ Thâu Na
Nhật Quang đại thọ trổ hoa Bồ Ðề.
Tâm bát nhã, hiện muôn thân tướng,
Thân Thiên Vương, bửu trướng, bửu đăng.
Nhất tâm đãnh lễ, cúng dường
Khoảng trong một niệm, mười phương hiện tiền.
Vô phân biệt nên không chấp tướng,
Nghe ngữ ngôn, không tưởng ngữ ngôn
Thọ trì tất cả pháp luân,
Giữ tâm như-huyễn, hiện thân Bồ Ðề.
Về phương Nam, nước tên Hiểm Nạn
Bà-Tu-Mật-Ða thành Bửu Trang Nghiêm.
Mắt xanh biếc, da chân kim
Hiện thân mỹ nữ, đoan nghiêm khác người.
Thân trang sức bằng muôn chuỗi ngọc,
Phát diệu âm, đội mão bửu châu.
Ly-tham-dục-tế sở cầu,
Như-huyễn-tam-muội sáng làu trí minh.
Thọ thân nữ như phương tiện hạnh,
Dạy cho người xa lánh sắc phàm.
Lìa thị dục, đoạn tâm tham,
Nhập nhất-thiết-trí, chẳng lầm giả, chân.
Ði về Nam, đến thành Thiện Ðộ
Cư sĩ tên Tỳ-sắc-chi-La
Chiên đàn tòa tháp mở ra
Chứng liền tam muội, sát na định thần.
Biết khắp cả mười phương chư Phật
Chưa bao giờ cùng tận độ sanh
Chỉ dùng phương tiện thiện lành
Chưa từng nhập diệt, tử sinh cận kề.
Trong sanh tử, lập lời thiện-thệ
Khéo đưa người thoát bể trầm luân
Phật-chủng-vô-tận, vô ngần
Chưa từng dời gót, an thân Niết Bàn.
Trong tam muội, thấy hằng chư Phật
Gieo căn lành, liễu đạt thần thông.
Lập hạnh nguyện, dụng diệu công,
Xuất gia, tu tập, đi trong cõi người.
Liền nói kệ : phương Nam tìm gặp
Có núi tên Bổ Ðát Lạc Ca.
Thành dát ngọc, rừng trổ hoa,
Ao thanh, suối mát, hợp hòa, điều nhu.
Quán-Tự-Tại, trượng phu dũng mãnh
Ðộ chúng sinh, ngự đỉnh Thánh-Hiền.
Oai chấn động, đức vô biên
Lời kinh vô tự, pháp thiền vô môn.
|