Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Kinh Điển Phật Giáo


...... ... .


Nhập pháp giới lược giải

Từ Hoa
California 2002

---o0o---

 

Lời mở đầu

 

Kinh Hoa Nghiêm là tên gọi tắt của bộ ‘Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh’ do Ngài Long Thọ Bồ tát viết ra vào thế kỷ thứ 2, tức khoảng 600 năm sau khi Ðức Thích Ca Mâu Ni nhập diệt.

Hoa Nghiêm (Avatamsaka) có nghĩa là đóa hoa tuyệt đẹp, thanh khiết. Phần Hán tự đã được dịch ra từ thế kỷ thứ 5, dưới ba hệ thống Bát Nhã(40 quyển), Giác Hiền (60 quyển) và Nan Ðà (80 quyển) .

Nhập-Pháp-Giới (Gandavyuha) là phẩm thứ 39 trong số 40 phẩm, cũng là phẩm dài nhất, tiêu biểu cho giáo lý căn bản của kinh Hoa Nghiêm nói riêng và Phật giáo Ðại thừa nói chung, diễn tả con đường cầu đạo của ngài Thiện Tài Ðồng Tử qua 52 vị Thiện Tri Thức dưới nhiều hình tướng, khởi đầu là ngài Văn Thù Sư Lợi, chư Thiên, Dạ thần, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ðức Phật Di Lặc..., và cuối cùng là Ngài Phổ Hiền.

Ngài Thiện Tài đã đi từ chỗ sơ phát tâm đến diệu tâm viên mãn. Cầu đạo tức cầu tâm, đi hỏi đạo tức đi qua những chuyễn biến của tâm. Ngài cầu đạo tức chúng ta cầu đạo, ngài đi trong pháp giới tức chúng ta đã và đang đi trong pháp giới. Cuối cùng lại, trong những ngõ ngách vô tận của tâm, chỗ bắt đầu đi cũng là chỗ vừa mới đến, muôn đời, muôn kiếp lặng lẽ, an nhiên có mặt, như Hoa Nghiêm, cánh hoa diệu hạnh đã nở bên cạnh đời, trải bốn mùa xuân, hạ, thu, đông chưa từng héo úa, mà con người đôi khi đã vội vã đi ngang qua, không quay nhìn lại.

Ví như một tác phẩm nghệ thuật hội họa, mỗi người trong chúng ta cũng đã có những mức độ thưởng ngoạn khác nhau. Phẩm Nhập - Pháp - Giới chắc chắn đã vượt quá tầm vóc của một sự thẩm định giá trị bắt nguồn từ tri kiến giới hạn; trong đó mỗi đường nét, mỗi sắc thái hóa đạo đã nở ra những đóa hoa tuyệt mỹ trong tàng thức sâu thẳm của con người. Những bông hoa đó cũng không đồng nhất, bởi vì trong mỗi mãnh đất tâm tuyệt diệu, có thể đơm hoa, kết trái theo từng hạt giống và nhân duyên sai biệt.

Cách thức lược giải của tôi cũng chỉ nằm trong một kiến giải rất giới hạn. Tất cả những ý kiến của quí vị thiện tri thức xin trân trọng gìn giữ và tri ân.

 TỪ HOA

 

 Nhập pháp giới
lược giải
 

Rừng Thệ Ða trong vườn họ Cấp

Năm trăm người hội nhập diệu quang.

Thanh văn, quyến thuộc hàng hàng

Cúi đầu phủ phục đạo tràng từ bi.

 

Ðất chấn động mười phương Bồ Tát

Hạnh Phổ Hiền rực sáng bửu đài,

Thanh văn ngã, pháp phân hai,

Nên không thấu được Như Lai hạnh từ.

 

Ðịnh thần quang vào trong tam muội,

Tướng bạch hào mở lối hoằng dương.

Trang nghiêm vi diệu mười phương,

Hào quang chiếu rạng đức ân một trời.

 

Ðãnh lễ Phật, Văn Thù Sư Lợi,

Cùng chư tăng phát khởi từ tâm

Nhân gian hóa độ về Nam,

Mở mười hạnh nguyện, phát tâm tu hành.

Hạnh thứ nhất, thiện căn tụ tích

Hạnh thứ nhì, cung kính Như Lai

Thứ ba, học Phật đêm ngày

Thứ tư, lục độ, cửu đài liên hoa.

 

Hạnh thứ năm, tựu thành tam muội

Cõi Trời, người, tạm gởi báo thân.

Mười phương nghiêm tịnh, trong ngần

Hóa hoằng đạo pháp, huyền âm vang trời.

 

Hạnh thứ chín, đi vào tam giới,

Bồ Tát nguyền tự lợi, lợi tha.

Sanh thân vào chốn ta bà

Trên đồng chư Phật, dưới là phàm nhân.

 

Hạnh thứ mười, hoàn thành thập lực

Vô lượng thân cũng tức một thân.

Hằng sa hay một vi trần,

Sánh cùng núi Thái, non Tần viên thông.

 

Lòng cầu đạo, Thiện Tài Ðồng Tử,

Thanh tịnh tâm, thất bửu là tên.

Vào đời cũng tại thiện duyên

Hằng cầu vô thượng đạo huyền Như Như.

 

Trong rừng hạnh, khấu đầu lễ bái,

Ngài Văn Thù chỉ dạy pháp môn.

Thiện Tri Thức, đó là nguồn

Học Bồ Tát đạo, lòng luôn khẩn cầu.

 

Ði về Nam, đến miền Thắng Lạc

Núi Diệu Phong, Bồ Tát Ðức Vân

Thiện Tài chiêm ngưỡng ân cần,

Một lòng từ tạ đi dần về Nam.

 

Lòng khát ngưỡng, bảy ngày mong đợi,

Ngọn Diệu Phong, mây nổi phù du.

Ðịnh tâm, thấy vị chân tu,

Từ trên đỉnh núi, nhàn du kinh hành.

 

Nầy nam tử, mười phương chư Phật,

Tưởng nhớ luôn, như nhất chẳng rời.

Trí quang chiếu diệu, rạng ngời

Trì tâm niệm Phật, cũng thời pháp môn.

Ðắc tam muội, nhãn căn thông suốt

Thấy mười phương cõi nước hiện ra.

Ức niệm, nhất thiết Phật Ðà,

Nhất tâm niệm Phật, chính là diệu tâm.

 

Qua biển nam, Hải Vân tên gọi

Như mây trời, dệt bởi thiện căn

Hải Vân, biển ấy khôn ngăn

Chứa dung vạn pháp vào trong tâm nầy.

 

Như biển rộng muôn ngàn hải lý

Biển tâm ta, khó nghĩ, khó suy

Nở ra nghìn cánh lưu ly

Pháp môn Phổ Nhãn, ma ni kết thành.

 

Hơn ngàn năm quán sâu đại hải

Nhập thần quang vô ngại quang minh.

Vô biên phẩm hạnh tựu hình

Ðà-la-ni tạng, hóa thành bửu quang.

 

Thân đãnh lễ, tâm hằng tán thán

Ði về nam, Hải Ngạn tìm phương

Tìm người Thiện Trụ đưa đường

Học Bồ Tát hạnh, cúng dường Như Lai.

 

Vô trụ ấy gọi là thiện trụ,

Giữa hư không hiện bửu diệm vân.

Ðứng, đi, ẩn, hiện, ngồi, nằm

Xuyên qua tường vách, hiện thân đủ đầy.

 

Hoặc đưa tay chạm vào nhật, nguyệt

Khắp mười phương bất khả thuyết bàn.

Trời Phạm Cung, giữa đạo tràng

Thân cao nghìn dặm, hai hàng Sắc, Không.

 

Nhớ tất cả, thọ trì tất cả

Pháp huyền vi chư Phật thuyết ra.

Chúng sinh trong cõi ta bà

Sanh thân giáo hóa, hiện đà-la-ni.

 

Nhiễu quanh vòng, Thiện Tài từ tạ,

Về nam tìm Ðạt Lý Tỹ Trà.

Diệu âm vang động Di Già,

Pháp môn luân tự, trên tòa hoằng khai.

 

Dưới đài báu, khấu đầu lễ bái

Giữa chợ thành Tự Tại chuyển luân.

Cầu xin chỉ dạy pháp môn,

Sinh trong các cõi, vững tâm Bồ Ðề.

 

Giữ được ý Như Như kiên cố,

Làm thế nào hằng nhớ đại bi.

Quang minh phát hiện diệu vi,

Thần thông vô ngại, thọ trì pháp luân.

 

Diệu nghĩa tạng, thậm thâm vấn đáp

Nơi muôn loài thuyết pháp độ sanh.

Tịnh đạo, diệu lực viên thành

Trí huệ khai mở, quang minh đại từ.

 

Ngài Di Già hỏi cùng Ðồng Tử:

‘Bồ Ðề Tâm hằng giữ chẳng sai?’.

Dưới chân quỳ lạy Thiện Tài,

Chiên đàn, hương phấn phủ ngoài thiên y.

 

Từ trên mặt phóng muôn tia sáng

Khắp Ðại Thiên tán thán thiện tâm.

Trên tòa khai thị pháp âm,

Trang nghiêm luân tự thậm thâm mật   truyền.

 

Luân tự phẩm, diệu năng phân biệt

Từng ngữ ngôn khắp hết Ðại thiên.

Ðà-la-ni tạng diệu huyền,

Mật thâm pháp cú, sở duyên ba đời.

 

Mười hai năm tìm ngài Giải Thoát,

Thành Trụ Lâm, Bồ Tát nhập thần.

Dựa vào quá khứ thiện căn,

Văn Thù niệm lực, oai thần Thế Tôn.

 

Thấy được cả Như Lai, Bồ Tát,

Cùng được nghe đại nguyện, thuyết ngôn.

Thiên Cung Ðâu Suất, Phật đường

Nhập tam muội hải, mười phương đạo tràng.

 

Thiện Tài thấy hằng sa chư Phật,

Lại dạy rằng: Xuất nhập vô biên,

Tùy tâm, khởi ý thấy liền

Di Ðà Cực Lạc, hoặc miền diệu hương.

 

Nầy nam tử, Như Lai như mộng,

Cùng tâm ta, huyễn vọng đó thôi.

Ba mươi hai vẻ tuyệt vời,

Gồm trong chữ hóa, vậy thời do tâm.

 

Như hóa hiện, tịnh tu Phật pháp,

Như âm vang, giải thoát chúng sinh.

Như mây, điều phục, viên thành,

Chân Tâm biến hiện, quang minh độ đời.

 

Vì lẽ đó, phải dùng thiện pháp,

Cùng trí minh, khai sáng tự tâm.

Nhẫn nhục, tinh tấn thấm nhuần,

Chiếu soi, khai phát, chưa từng phóng tâm.

 

Ði về Nam, nước tên Ma Lợi,

Có Tỳ kheo, tên gọi Hải Tràng

Thiện Tài ứa lệ tán dương,

Diêm phù cõi ấy, tìm đường tiến tu.

 

Thiện Tài thấy tỳ kheo tĩnh tọa,

Thân và tâm bất động, im hơi.

Dưới chân, từ chỗ ngài ngồi,

Hằng muôn đại chúng đồng thời hiện ra.

 

Tự nghiêm sức bằng muôn chuỗi ngọc,

Cùng hương hoa, y phục nghiêm thân.

Như mưa cứu giúp cùng bần,

Dẹp trừ khổ não, đức ân sáng ngời.

 

Sát-Ðế-Lợi hiện muôn ngàn ức,

Bà-la-môn cũng bậc huệ thông.

Từ hai gối hiện lạ lùng,

Lại dùng ái ngữ nhiếp tâm muôn loài.

 

Nơi eo lưng hiện ra vô số

Hàng tiên nhân áo cỏ, hài cây.

Tay cầm bình bát oai nghi,

Du hành thế giới, thiên y rợp trời.

 

Từ hư không, diệu âm ca ngợi

Ðấng Thế Tôn cùng giới tịnh căn.

Hoặc là nói pháp thế gian,

Khuyến tu phạm hạnh, luận bàn nghiệp duyên.

 

Hai bên hông cũng thời xuất hiện

Bất tư nghì thần biến chư long.

Trang nghiêm mây báu vạn tầng,

Cúng dường thế giới mười phương đạo tràng.

 

Ngay giữa ngực, từ trong chữ Vạn,

Lại hiện ra muôn ức ma vương.

Thiên cung phong tỏa ma quân,

Dứt tâm kiêu mạn, phá sân, dẹp phiền.

 

Từ trên lưng hiện ra Ðộc giác,

Cùng Thanh Văn nói pháp vô thường.

Tùy người nói diệu pháp môn,

Mở bày diệu hạnh khắp cùng căn cơ.

 

Từ hai vai hiện ra vô số,

Dạ Xoa cùng La Sát chư vương.

Hộ trì chuyển chánh pháp luân,

Xa rời sinh tử, trụ thân Bồ Ðề.

 

Từ nơi bụng cũng thời xuất hiện,

Khẩn-na-la, Càn-thát-bà vương.

Ca ngâm, tán thán thiện căn,

Pháp môn vi diệu, phát tâm đại từ.

 

Từ trên mặt hiện muôn ngàn ức

Chuyển-luân-vương nghiêm sức bửu quang.

Nghìn muôn thể nữ đài trang,

Khác gì mây nổi, trăng vàng đáy khe.

 

Như ảnh hiện, lòng xa dâm loạn,

Ðại từ bi chẳng đoạn nơi tâm.

Ái hòa, ngôn ngữ thật chân,

Nhân duyên sanh khởi, có ngần ấy thôi.

 

Từ hai mắt, nhật luân chiếu suốt,

Hàng thú cầm, cõi nước A tỳ.

Muôn nghìn tia sáng lưu ly,

Tối tăm, cùng khổ, mê si phá trừ.

 

Từ trong tướng bạch hào thần biến,

Hằng muôn nghìn Ðế Thích hiện ra.

Ma ni, trân bửu chói lòa,

Giác mê, trì chí trên tòa Thiên cung.

 

Khiến Thiên chúng niệm tu chánh pháp,

Cảnh thế gian nhàn chán tử sinh.

Hàng ma, dứt bỏ thế tình,

Bảo trì chánh tạng, trí minh vẹn tuyền.

 

Từ trên trán tỳ kheo xuất hiện

Hằng trăm ngàn, muôn ức Phạm thiên.

Hiện ra thân tướng đoan nghiêm,

Tán dương chư Phật, thuyết minh đạo mầu.

Lại cũng thấy trên đầu, Bồ Tát

Hiện hằng muôn Phật sát vi trần.

Trang nghiêm tướng hão nơi thân

Vô biên công hạnh, phóng quang độ đời.

 

Từ trên đảnh Như Lai hiện tướng

Thân chói vàng vô lượng quang minh.

Mười phương phát diệu âm thanh,

Như mưa, lớp lớp chúng sanh thấm nhuần.

 

Quang minh võng, lưới châu thị hiện

Cảnh vô biên, sắc tướng vô biên.

Hằng sa diệu dụng trang nghiêm,

Hằng sa Phật sát uyên nguyên tỏ bày.

 

Sau nhiều ngày từ tam muội xuất,

Ngài Thiện Tài rất mực ngợi khen

Thưa rằng : Lợi ích vô biên,

Khiến cho sanh chúng không quên Bồ Ðề.

 

Ði về nam, tìm ngài Hưu Xã

Ưu-bà-Di ngự chốn viên lâm.

Bồ Ðề Tâm. Bồ Ðề Tâm.

Phát ra đại nguyện đi trong cảnh đời.

 

Nầy nam tử, dùng phương tiện hạnh

Ðến khi nào nghiêm tịnh thế gian.

Chúng sinh dứt hết não phiền,

Xa rời kiến chấp đảo điên ái hà.

 

Ði về Nam, đến Na-la-Tố

Tìm tiên nhân Tỳ-Mục-Cù-Sa.

Hương trầm thủy, thanh liên hoa

Hiện ra y báo, một tòa trang nghiêm.

 

‘Bồ Tát Vô Thắng Tràng Giải Thoát,

Là hạnh môn ta đạt đã lâu’.

Nói xong tay hữu xoa đầu,

Thiện Tài Ðồng Tử vào sâu định thiền.

 

Liền được thấy mười phương thế giới

Liền được nghe mỗi mỗi diệu âm.

Thấy rằng vì chúng sinh tâm,

Nên chư Phật hiện sắc thân giả bày.

 

Thấy chư Phật đủ đầy hạnh nguyện

Khi nguyện sinh, thập lực phát sinh.

Trí huệ vô ngại quang minh,

Tùy nghi sanh chúng, thuyết trình pháp môn.

 

A-Ty-La phương Nam tìm đến,

Bà-la-Môn Thắng Nhiệt là tên.

Núi đao trong lửa dựng nên,

Thấy người khổ hạnh từ trên gieo mình.

 

Lại dạy cùng Thiện Tài Ðồng Tử :

Nếu như người đã giữ nhất tâm,

Khẩn cầu đạo hạnh chẳng lầm,

Giữa lòng đao, lửa xã thân khó gì.

 

Thiện Tài bỗng khởi nghi tự hỏi :

Ðược thân người cũng bởi thiện duyên.

Xa rời mọi sự đảo điên,

Ðủ căn, nghe pháp, gặp người hiền dễ đâu.

 

Vừa suy nghĩ, hư không hiện tướng

Nghìn Phạm Thiên đồng xướng diệu âm :

Chớ nghi hoặc, chớ mê lầm,

Kim cang tam muội quang minh đã thành.

 

Lửa trí huệ đốt thiêu tà kiến,

Ðộ người tu, không luyến, không tham.

Dứt trừ kiến chấp mê lầm,

Sợ già, sợ chết, thâm tâm não phiền.

 

Nầy nam tử, Phạm Thiên cũng vậy,

Nếu cho mình tự tại tối cao,

Tâm kiêu mạn, ý tự hào

Sa vào thân chấp, khác nào vô minh.

 

Lại thấy cả thiên ma, thiên tử

Hóa-lạc-thiên cùng với Dạ xoa,

Rằng : lửa tam muội chói lòa

Khiến cho cung điện hóa trò bể dâu!.

 

Lòng vui mừng, Thiện Tài đãnh lễ

Bà-la-môn nói kệ đáp rằng :

Lấy Thiện Tri Thức trì tâm,

Xa rời loạn động, tọa thân Bồ Ðề.

 

Trong chánh niệm, gieo mình vào lửa

Thân vừa khi rơi xuống nửa chừng

Chứng liền thiện trụ thần thông

Bồ Tát tịch tịnh trong vòng lửa, đao.

 

Liền đãnh lễ, tạ từ cất bước

Thân tâm lìa chấp trước có, không.

Nhận ra chư Phật tâm đồng,

Chúng sanh vô ngã, Chân Tâm vô cùng.

 

Nhìn thanh sắc như vang, như bóng

Hội đạo tràng cũng có, cũng không.

Phá trừ vọng tưởng viễn vông

Tâm vô phân biệt, giữ lòng chẳng sai.

 

Ði về Nam, đến thành Sư Tử

Từ-Hạnh là đồng nữ, con vua

Ngự trong điện báu Tỳ Lô

Năm trăm thể nữ dưới tòa thánh cung.

 

Tỳ Lô tạng, lưu ly làm đất

Lưới báu châu, cung thất làm màn

Vách rào, tường đúc kim cang

Ma ni tối thượng thế gian chẳng đồng.

 

Nầy nam tử, pháp môn Bát Nhã

Là Ba-La-Mật-Phổ-Trang-Nghiêm

Tư duy, quán sát, nhớ liền

Trăm ngàn vô số hiện tiền đà-la-ni.

 

Ði về Nam đến miền tam nhãn

Tìm gặp người Thiện Kiến tỳ kheo

Rừng thiền nhẹ bước kinh hành

Phong tư cốt cách, tóc xanh, môi hồng.

 

Thanh tịnh trí, mười phương Phật hiện

Nhất niệm tâm, thấu hết chúng sanh.

Mười hạnh trí lực viên thành

Chúng sanh có tận, pháp lành không vơi.

 

Ði về Nam, Danh Văn đồng tử

Trên bãi sông sanh tử, não phiền

Nhập được công xảo ngũ minh,

Nhìn trong số cát, biết tên muôn loài.

 

Về phương Nam tìm thành Hải Trụ

Ưu-bà-di Cụ Túc là tên

Bạch y, oai đức trng nghiêm

Mười ngàn thiên nữ vây quanh chỗ ngồi.

 

Bồ Tát vô tận công đức tạng

Là hạnh môn trong bát nhỏ nầy.

Hiện ra vật dụng đủ đầy,

Khắp nơi, khắp cõi, không ngày nào vơi.

 

Về phương Nam, tìm người cư sĩ

Thành Ðại Hưng, Minh Trí là tên.

Nhờ vào thập lực quang minh,

Thấy ngồi giữa chợ như trên bửu đài.

Trong một niệm nhất tâm bố thí,

Từ hư không, như ý hiện ra

Ngàn muôn vật dụng độ tha

Xuất sanh phước đức, thuyết ra Bồ Ðề.

 

Ði về Nam tìm ngài Bửu Kế

Thấy từ trong đài báu mười tầng

Chứa dung các thức uống ăn,

Bửu y, báu vật, mỹ nhân có thừa.

 

Tầng thứ năm có chư Bồ Tát

Thành tựu quang muội hạnh nghiêm thân

Trang nghiêm trí huệ thậm thâm

Liễu minh thông đạt pháp môn tổng trì.

 

Tâm tịch lặng không chia hai pháp

Ðối đãi nhau, thông suốt nhất nguyên.

Bát Nhã hiển thị như nhiên,

Nhập thế gian hải, độ miền trần mê.

 

Trong trần kiếp, nước tên Viên Mãn

Phật hiệu là Phổ Nhãn Như Lai.

Thân tâm đãnh lễ Phật đường,

Dâng hương, tấu nhạc, cúng dường Thế Tôn.

 

Lập hạnh nguyện xa lìa cùng khổ,

Ðược đại bi, bát nhã, thánh tài.

Nguyện xin thường thấy Như Lai,

Thường nghe chánh pháp tỏ bày Chân Như.

 

Ðầu đãnh lễ, tâm hằng ghi nhớ

Lạy tạ từ, trí mở, huệ thông.

Phương Nam tìm đến Phổ Môn,

Hỏi người Phổ Nhãn, vạn hương trụ thần.

 

Hương trầm tỏa, thiện căn an định

Giải thoát hương, bá bệnh điều nhu.

Do tâm đắm nhiễm, vọng cầu

Nên thân trói buộc, ngục tù thế gian.

 

Người tham dục, quán thân bất tịnh,

Người hận sân, dạy định từ tâm.

Người si, tướng giả chớ lầm,

Người phiền não dạy năm phần chớ quên.

 

Nầy nam tử, phương Nam tìm đến

Thành Ða La Tràng kết ngàn cây

Cầu vua Yễm Túc giải bày,

Học Bồ Tát hạnh không ngoài nhân gian.

 

Vào cung thất thấy ngàn khí giới

Hành tội nhân, cắt lưỡi, chặt tay.

Thiện Tài sinh khởi lòng nghi

Chư thiên liền hiện giải bày pháp môn.

 

Do hóa hiện, tịnh tu như-huyễn

Lập ngục môn, nguyền độ nhân sinh.

Khiến dân kinh sợ ngục hình

Xa lìa tội ác, tựu thành diệu môn.

 

Lạy từ tạ, Thiện Tài cất bước

Tìm Ðại Quang, vua nước Diệu Quang.

Ðại từ, đại hạnh đạo tràng

Cỏ cây, cầm thú hàng hàng thuận quy.

Trước cổng thành uy nghi lầu gác,

Chạm lưu ly, phượng tạc, long chầu.

Bạch ngân, thất bảo muôn màu,

Lưới ngọc giăng khắp, bửu châu sáng lòa.

 

Vua thường ngự trong tòa pháp tạng,

Trước bệ vàng, ức vạn tư sanh.

Trân châu, bích ngọc sẵn dành,

Mang ra bố thí, chúng sanh vui mừng.

 

Khuyến thiện pháp, dùng phương tiện hạnh

Dạy chúng sanh thanh tịnh, an vui.

Mở kho bố thí trong ngoài,

Dạy lìa điều ác, lòng thôi oán thù.

 

Ngài Thiện Tài đến thành An Trụ,

Tìm gặp ngài Bất Ðộng Ưu-bà-di.

Mẹ Bát Nhã, cha Ðại Bi,

Hạnh từ tỏa sáng, lưu ly một trời.

 

Thiện Tài nhập năm trăm tam muội,

Thấy thân bà phát khởi diệu hương.

Dung nhan quang rạng lạ thường,

Diệu tâm thanh tịnh, chưa từng bợn nhơ.

 

Nầy nam tử, kiếp tên Ly Cấu

Phụ Vương là Ðiển Thọ sinh ra

Một thân công chúa là ta

Ðêm khuya vang động âm ba nhạc trời.

 

Công chúa ngự trên lầu nhìn thấy

Ðấng Thế Tôn, Tu Tý là danh.

Như Lai phóng đại quang minh,

Chư thiên, Bồ Tát chầu quanh chỗ ngồi.

 

Lòng khát ngưỡng, công nương đãnh lễ

Ðấng đại từ thuyết kệ dạy rằng :

Phát nguyện bất-khả-hoại tâm,

Diệt trừ phiền não, sưu tầm hạnh môn.

 

Không mỏi nhọc, hằng cầu Vô Thượng

Tai hằng nghe vô lượng pháp luân.

Nhẫn trong một chữ chưa từng,

Sinh tâm thế trí, biện phân hai đường.

 

Như thương gia vào trong hải đảo

Nhặt Như-Lai-ngọc-báu mang về.

Như người bủa lưới sông mê,

Ðôi bờ sinh tử, Bồ Ðề triển khai.

 

Như nhật, nguyệt sáng soi thế giới,

Hoa diệu tâm nở cõi ta bà,

Ðại phong, đại địa thuận hòa

Dùng tứ-nhiếp-pháp trên tòa chuyển luân.

 

Về phương Nam, núi tên Thiện Ðức

Ngài Biến Hành là bậc thiện căn.

Từ trên đỉnh núi định thần

Kinh hành chậm rãi, uy phong sáng ngời.

 

Ðây Bát Nhã, diệu môn Bồ Tát

Ðược vô y, vô tác thần thông

Hiện thân đồng chúng sanh thân,

Tùy cơ hóa độ khắp trong muôn loài.

Về phương nam, nước tên Quảng Ðại

Tìm gặp người Trưởng giả buôn hương.

Gom hương điều phục, tỏ tường

Sinh ra thiện pháp, hoằng dương thế trần.

 

Về phương Nam, vào thành Lâu Các

Người lái thuyền tên gọi Ba-thi-La

Trăm ngàn thương chủ gần xa,

Trên bờ bỉ ngạn, thuyết ra đại từ.

 

Ðại bi tràng, tịnh tu diệu đức

Trong biển tâm, châu ngọc hằng sa.

Chèo thuyền qua lại, lại qua

Ðưa người ra khỏi ái hà, về thôi.

 

Về phương Nam, tìm Vô Thượng Thắng

Khả-Lạc thành, thuyết giảng độ tha.

Ði qua quốc độ Thâu Na

Nhật Quang đại thọ trổ hoa Bồ Ðề.

 

Tâm bát nhã, hiện muôn thân tướng,

Thân Thiên Vương, bửu trướng, bửu đăng.

Nhất tâm đãnh lễ, cúng dường

Khoảng trong một niệm, mười phương hiện tiền.

 

Vô phân biệt nên không chấp tướng,

Nghe ngữ ngôn, không tưởng ngữ ngôn

Thọ trì tất cả pháp luân,

Giữ tâm như-huyễn, hiện thân Bồ Ðề.

 

Về phương Nam, nước tên Hiểm Nạn

Bà-Tu-Mật-Ða thành Bửu Trang Nghiêm.

Mắt xanh biếc, da chân kim

Hiện thân mỹ nữ, đoan nghiêm khác người.

 

Thân trang sức bằng muôn chuỗi ngọc,

Phát diệu âm, đội mão bửu châu.

Ly-tham-dục-tế sở cầu,

Như-huyễn-tam-muội sáng làu trí minh.

 

Thọ thân nữ như phương tiện hạnh,

Dạy cho người xa lánh sắc phàm.

Lìa thị dục, đoạn tâm tham,

Nhập nhất-thiết-trí, chẳng lầm giả, chân.

 

Ði về Nam, đến thành Thiện Ðộ

Cư sĩ tên Tỳ-sắc-chi-La

Chiên đàn tòa tháp mở ra

Chứng liền tam muội, sát na định thần.

 

Biết khắp cả mười phương chư Phật

Chưa bao giờ cùng tận độ sanh

Chỉ dùng phương tiện thiện lành

Chưa từng nhập diệt, tử sinh cận kề.

 

Trong sanh tử, lập lời thiện-thệ

Khéo đưa người thoát bể trầm luân

Phật-chủng-vô-tận, vô ngần

Chưa từng dời gót, an thân Niết Bàn.

 

Trong tam muội, thấy hằng chư Phật

Gieo căn lành, liễu đạt thần thông.

Lập hạnh nguyện, dụng diệu công,

Xuất gia, tu tập, đi trong cõi người.

 

Liền nói kệ : phương Nam tìm gặp

Có núi tên Bổ Ðát Lạc Ca.

Thành dát ngọc, rừng trổ hoa,

Ao thanh, suối mát, hợp hòa, điều nhu.

 

Quán-Tự-Tại, trượng phu dũng mãnh

Ðộ chúng sinh, ngự đỉnh Thánh-Hiền.

Oai chấn động, đức vô biên

Lời kinh vô tự, pháp thiền vô môn.