Tìm hiểu
ngôn ngữ kinh tạng Phật Giáo
---o0o---
II.2- Ngôn Ngữ
Biểu Tượng
Nếu
như đối với kinh tạng Nguyên thủy, nhất là kinh Pháp Cú, ngôn ngữ thí dụ
và ẩn dụ được xem là ngôn ngữ đặc trưng, thì ngược lại, đối với kinh tạng
Ðại thừa, nhất là kinh Pháp Hoa, thì ngôn ngữ tiêu biểu là ngôn ngữ biểu
tượng. Hầu hết các kinh Ðại thừa đều được nói bằng ngôn ngữ biểu tượng.
Tuy nhiên, rải rác trong kinh tạng Nguyên thủy, thảng hoặc Ðức Phật vẫn
dùng hình ảnh biểu tượng. Ðiều quan trọng cần phân biệt đối với kinh tạng
ở đây là ngôn ngữ biểu tượng, chứ không phải là hình ảnh biểu tượng. Vì lẽ,
hình ảnh biểu tượng thì hầu như kinh nào cũng có. Nhưng ngôn ngữ biểu
tượng có thể nói là ngôn ngữ đặc thù của kinh tạng Ðại thừa. Tất nhiên,
cái hạt nhân bản của ngôn ngữ biểu tượng vẫn được tìm thấy trong một số
kinh tạng Nikàya và Agama.
Về ý nghĩa của biểu tượng, trước hết, chúng
ta thấy rằng biểu tượng luôn luôn là biểu tượng về một cái gì khác nó, chứ
không phải là về chính nó. Tỉ dụ nói bánh xe "pháp luân" biểu tượng cho
chánh pháp, thế có nghĩa là chánh pháp được biểu tượng bằng bánh xe (pháp
luân). Ở đây, cái biểu tượng là bánh xe nhưng cái được biểu tượng là chánh
pháp, chứ không phải là bánh xe. Do đó, biểu tượng luôn luôn là biểu tượng
về cái gì hay cho cái gì khác nó.
Trong Nikàya (14) kể rằng:
Một độ, có một tu sĩ Ần Ðộ giáo nhìn thấy
dấu chân của Phật in dưới cát có những dấu hiệu lạ thường, nên ông đến gần
Phật và hỏi rằng:
- Phải chăng Ngài là Deva (15)?
- Phải chăng Ngài là Gandhabba (16)?
- Phải chăng Ngài là quỷ Yakka (17)?
- Phải chăng Ngài là người?
Với những câu hỏi như trên, Ðức Phật đều trả
lời là không. Tu sĩ hỏi tiếp: "Vậy Ngài là ai?".
Ðức Phật trả lời:
"Như hoa sen đẹp đẽ và dễ thương
Không cấu nhiễm bùn nhơ, nước đục
Cũng vậy, ở giữa chốn bụi trần
Ta không vướng chút bợn nhơ
Như vậy, ta là Phật!" (18)
Giai thoại trên là một định nghĩa đặc sắc về
Phật. Có lẽ đây cũng là cơ sở mà về sau có một bộ kinh ra đời mang tên là
Pháp Hoa (Diệu pháp liên hoa). Ðây là bộ kinh vốn được xem là Pháp vương -
tức vua của các kinh trong hệ thống kinh tạng Ðại thừa. Biểu tượng của
kinh là HOA SEN. Hoa sen tượng trưng cho Phật và Phật tính ở mỗi con người.
Như chúng ta biết, hoa sen là một loài hoa
đặc biệt. Nó chỉ mọc lên trong đầm lầy. Mặc dầu vậy, hoa và hương của nó
luôn tinh khiết, không cấu nhiễm bởi bùn nhơ, nước đục.
"Thoát bùn nở đóa sen thanh
Bùn tanh mà vẫn lọc nên hương trời"
Hoặc:
"Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng
Nhụy vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn"
Ðiều này cho thấy ý nghĩa biểu tượng của hoa
sen là một sự toàn thiện ngay giữa lòng cuộc đời ô trược. Và cho đến nay,
hoa sen đã đi vào truyền thống Phật giáo bởi hình ảnh biểu tượng của nó.
Về ý nghĩa biểu tượng của hoa sen, có thể
tóm tắt như sau:
1) Mọc trong bùn nhưng không bị ô nhiễm
2) Hoa chỉ nở khi đã vươn lên khỏi mặt nước
3) Trong một hoa vốn có cả nhụy, đài, gương,
hạt...
Ðây là ba đặc tính biểu tượng cho Phật tính
ở mỗi con người. Sự tương quan của biểu tượng đó như sau:
1) Sự giác ngộ, giải thoát không thể thoát
ly ngoài con người trần thế và cuộc đời trần thế mà có.
2) Tâm Vô thượng chánh giác (tâm hoa) chỉ
thành tựu khi nào vươn lên khỏi mọi trần cấu, nhiễm ô.
3) Trong một bản thể tâm vốn cưu mang đầy đủ
mọi đức tính, như tất cả chủng tử nằm im trong chiều sâu của tâm thức.
Trên cơ sở này, hoa sen trở thành chủ đề
trung tâm của toàn bộ kinh Pháp Hoa, cũng như là biểu tượng đặc thù trong
kinh tạng Phật giáo.
Về ngôn ngữ biểu tượng, tức là dùng ngôn ngữ
hình ảnh để nói lên một vấn đề nào đó, như dùng hình ảnh chim Bồ câu trắng
để nói lên khát vọng hòa bình. Vì lẽ đó, ngôn ngữ biểu tượng là ngôn ngữ
mang đầy màu sắc, hình ảnh. Ðiều này có thể được xem như là hiện tượng
luận (phenomenology). Các kinh như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm... có thể được xem
như là một hình thức của hiện tượng luận. Và khi đã dùng đến hình thức để
diễn đạt về một cái không hình thức, thì đương nhiên, trên một góc độ nào
đó, vấn đề được nâng lên ở một tầm mức siêu hình. Do đó, có thể nói những
cấu trúc và hoạt cảnh của ngôn ngữ biểu tượng trong kinh điển, nhất là
kinh Hoa Nghiêm, đều thuộc về siêu hình học. Vì thế, khi đọc kinh, nếu độc
giả bị ràng buộc bởi những ảnh tượng hình thức của kinh và cho đó là cảnh
giới hiện thực, nghĩa là đã rơi vào sai lầm một cách nào đó.
Chúng ta đều biết rằng, tâm thức vốn là cảnh
giới không màu sắc, không hình thù, không có ngã thể. Nó là vô tướng. Dùng
cái có hình tướng để nói về cái không hình tướng chỉ là một lối diễn đạt,
nó được xem như "con thuyền đưa người sang sông". Vả lại, một sự thể nếu
có hình tướng tất phải có sinh diệt. Và những gì được giới hạn bởi hai đầu
sinh diệt đều thuộc về pháp hữu vi, vô thường. Ðó không phải cảnh giới
thanh tịnh, không, vô tướng và giải thoát. Nhưng nếu không dùng hình tướng
để diễn bày vô tướng, thì cảnh giới vô tướng đó sẽ không được biết đến.
Như thế, cuộc đối thoại tâm truyền giữa cảnh giới thánh trí của Phật và
phàm tục của chúng sinh sẽ diễn ra như thế nào đây? Và nữa, cảnh giới vô
tướng giải thoát dầu là không hình tướng, không sắc tướng, nhưng không vì
vậy mà nó không hiện hữu. Ðây là lý do tại sao, Phật dùng đến ngôn ngữ
biểu tượng như là một phương tiện tối thượng để truyền đạt và dẫn dắt
chúng sinh đi vào Niết bàn - một cảnh giới thanh tịnh, giải thoát ngay nơi
mặt đất gổ ghề, tục lụy của trần thế này.
Ở đây, xin trích một đoạn giới thiệu về "cung
điện" của Hoa Nghiêm qua dòng ngôn ngữ biểu tượng:
"Bấy giờ, Thiện Tài đổng tử yêu cầu Bồ Tát
Di Lặc mở cửa lầu các và cho phép mình bước vào. Bồ Tát đến trước lầu các
và khảy móng tay, và kìa, cửa đã mở! Thiện Tài hết sức hoan hỷ bước vào,
rổi thì cửa tự động khép lại cũng nhiệm mầu như khi mở ra!
Bấy giờ, một quang cảnh hiện ra trước mắt,
lạ thay!
Lầu các rộng rãi bao la cũng đổng như hư
không. Mặt đất được dát bằng vô số cẩm thạch đủ loại, và ngay giữa lầu các
có vô số cung điện, vô số cửa lớn, vô số cửa sỗ, vô số thềm cấp, vô số lan
can, vô số đường đi, tất cả đều được làm bằng bảy báu. Lại có vô số phướn,
lọng, dây giăng, lưới, đủ loại màn buông, cũng làm bằng vô số các thứ châu
báu. Vô số chuông nhỏ reo vang trong gió, rải vô số các thứ hoa trời, treo
vô số dải tràng hoa, đặt khắp nơi vô số lư hương, mưa vô số lá vàng ròng,
treo vô số mặt gương báu, đốt vô số ngọn đèn, giăng vô số áo đẹp, làm vô
số bảo trướng, đặt vô số bảo tòa bên trên phủ vô số lụa quý.
Lại cũng có vô số hình tượng làm bằng vàng
ròng diêm phù đàn (jambùnada) hay bằng các châu ngọc - tượng ngọc nữ,
tượng Bồ Tát v.v...
Vô số loài chim đẹp đang hát du dương, vô số
hoa sen nhiều màu nở rộ, vô số cây báu được trổng thứ tự từng hàng, vô số
ngọc ma ni phóng các tia sáng chói lọi - và như thế, khắp cùng cả lầu các
có vô lượng a tăng kỳ các thứ trang nghiêm được dùng để trang nghiêm.
Và phía trong lầu các rộng lớn, huy hoàng,
tráng lệ này, cùng có hàng trăm ngàn vô số lầu các, mỗi lầu các đó cũng
huy hoàng, tráng lệ như lầu các chính, và cũng rộng lớn như hư không. Và
hết thảy vô số lầu các này, không đứng riêng rẽ với nhau; mỗi cái y nguyên
bản vị tổn tại của nó trong sự hòa điệu toàn diện với tất cả lầu các khác;
ở đây, không có gì cản trở lầu các này hỗn nhập lầu các nọ, riêng và
chung; có một trạng thái hỗn giao toàn diện, nhưng hoàn toàn có trật tự.
Thiện Tài đổng tử thấy mình trong hết thảy các lầu các, cũng như trong mỗi
một lầu các, trong cái một bao hàm tất cả và tất cả bao hàm một.
Khi thấy mình ở trong cảnh kỳ diệu này, với
tâm trí bay lượn từ cái mầu nhiệm này đến cái mầu nhiệm nọ, niềm vui của
Thiện Tài không biết đâu là bờ bến. Rời hết thảy các tưởng, trừ hết thảy
các chướng, diệt hết thảy các hoặc; vì bấy giờ đang ở giữa môn vô ngại
giải thoát không giới hạn.
Ðược gia trì bởi uy lực của Bồ Tát Di Lặc,
Thiện Tài tự thấy mình có trong hết thảy các lầu, đổng thời thấy đủ các
cảnh giới tự tại bất khả tư nghị, về cuộc đời của Bồ Tát Di Lặc. Tức là
thấy Bồ Tát Di Lặc vừa mới phát tâm cầu chứng Vô thượng Bồ đề; thấy Ngài
có danh hiệu như vầy, chủng tộc như vầy, thiện hữu như vầy, gieo trổng
thiện căn như vầy, tuỗi thọ như vầy, trang nghiêm cõi Phật như vầy, phát
những nguyện như vầy, tham dự chúng hội Phật và Bồ Tát như vầy, trải qua
bao nhiêu kiếp thân cận cúng dường cung thỉnh Phật như vầy. Như thế, tất
cả những việc trong đời của Bồ Tát Di Lặc, Thiện Tài thấy hết.
Lại thấy Bồ Tát Di Lặc khi vừa chứng Từ tâm
tam muội (Maitra Samàdhi) như thế nào, mà từ đó về sau được gọi là Từ Thị
(Maitreya). Lại thấy Di Lặc tu các diệu hạnh, thành tựu các Ba la mật,
được các nhẫn (ksãnti), chứng các trụ địa, thành tựu các cõi Phật, hộ trì
chánh giáo các Như Lai. Lại thấy Di Lặc chứng ngộ pháp Hộ sinh và được Như
Lai thọ ký cho Vô thượng Bồ đề, lúc nào và ở đâu.
Thiện Tài lại thấy trong mỗi lầu các, Bồ Tát
được một vị thế giới chủ khuyến thỉnh dìu dắt hết thảy chúng sinh tu hành
mười thiện đạo; được một vị hộ thế khuyến thỉnh làm lợi ích cho hết thảy
chúng sinh; được Ðế Thích (Sakra) khuyến thỉnh mà quở trách vì những bản
năng khát dục của chúng sinh; được Phạm Thiên khuyến thỉnh mà tán dương vô
lượng phước báo của thiền định; được trời Dạ Ma (Yàma) khuyến thỉnh mà tán
dương vô lượng phước báo của hạnh nhiếp tâm; được trời Ðâu Suất (Tusita)
khuyến thỉnh mà tán dương các công đức của Bồ Tát sẽ thành Phật trong một
đời nữa; được trời Hóa Lạc (Nirmita) khuyến thỉnh mà hiện các biến hóa
thân cho thiên chúng thấy; được trời Tha Hóa Tự Tại (Vasavartin) khuyến
thỉnh mà diễn thuyết Phật pháp cho những tùy tùng.
Thiện Tài thấy, hoặc Bồ Tát hiện làm Ma
vương mà thuyết hết thảy các pháp đều là vô thường; hoặc vì Phạm Vương mà
thuyết thiền định, vô lượng hỷ và lạc; hoặc vì Atula (Asura) mà lặn vào
biển đại trí để biết rằng hết thảy pháp vốn như huyễn, giảng cho Atula
vương và quân đội Atula hãy đoạn trừ hết thảy kiêu mạn, cuổng ngạo và say
sưa. Hoặc thấy Bồ Tát phóng đại quang minh vào cõi chết để cứu vớt chúng
sinh khỏi các khỗ não của địa ngục; hoặc thấy Bồ Tát ở thế giới ngạ quỷ bố
thí các thứ ẩm thực để cứu rỗi sự đói khát của chúng ngạ quỷ; hoặc thấy Bồ
Tát trong cõi súc sinh đặt đủ các phương tiện để điều phục chúng. Hoặc
thấy Bồ Tát giảng pháp cho các chúng hội chư Thiên trong các cõi trời Hộ
Thế, trời Ðâu Suất, trời Dạ Ma, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại và trời
Ðại Phạm, giảng cho các chúng hội Long Vương (Naga), Dạ Xoa (Yaksa), La
Sát (Raksa), Càn Thát Bà (Gandhara), Atula (Asura), Ca Lâu La (Garuda),
Khẩn Na La (Kinnara), Ma Hầu La Già (Mahoraga), Nhân (Manusya) và Phi nhân
(Amanusya). Hoặc thấy Bồ Tát giảng pháp cho các chúng hội Thanh Văn
(Sraã-vaka), Duyên Giác (Pratyekabuddha), Bồ Tát (Bodhisattva) từ mới phát
tâm cho đến địa vị cứu cánh. Hoặc thấy tán dương các công đức của các Bồ
Tát từ Sơ địa cho đến Thập địa, viên mãn hết thảy Ba la mật, chứng nhập
hết thảy các nhẫn, thành tựu hết thảy đại tam muội, thâm nhập giải thoát,
tán dương cảnh giới thần thông do thiền định và tam muội, tán dương hạnh
của Bồ Tát, đại thệ nguyện của Bồ Tát. Lại thấy Bồ Tát Di Lặc cùng các vị
Bồ Tát đổng hành khác, tán dương các công xảo của thế gian, và hết thảy
các phương thuật có thể đem lại lợi ích cho chúng sinh. Lại thấy Bồ Tát Di
Lặc cùng với các Bồ Tát sẽ thành Phật trong một đời nữa, tán dương môn
Quán đỉnh (Abhisekha) của hết thảy chư Phật. Lại thấy Bồ Tát Di Lặc tinh
tấn không hề mỏi mệt, tu tập các thiền định và Bốn vô lượng tâm, các nhập
biến xứ (krtsnãyatana) và các giải thoát, hoặc nhập tam muội mà thị hiện
các năng lực thần biến.
Thiện Tài lại thấy Bồ Tát Di Lặc cùng với
các Bồ Tát khác nhập vào tam muội và từ mỗi lỗ chân lông hiện ra vô số hóa
thân như mây: mây Thiên chúng, mây Long Vương, mây Dạ Xoa, mây Càn Thát
Bà, mây Atula, mây Ca Lâu La, mây Khẩn Na La, mây Ma Hầu La Già, mây Ðế
Thích, mây Phạm Vương, mây Hộ Thế, mây Chuyển Luân Thánh Vương, mây Tiểu
Vương, mây vương tử, mây đại thần, mây quan thuộc, mây trưởng giả, mây cư
sĩ, mây Thanh Văn, mây Duyên Giác, mây Bồ Tát, mây Như Lai, mây hết thảy
chúng sinh.
Bấy giờ, Thiện Tài nghe hết thảy các pháp
môn của Phật phát ra du dương từ mỗi lỗ chân lông của hết thảy các Bồ Tát
như tán thuyết công đức của Bồ đề tâm, tán thuyết bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ, bốn nhiếp pháp, bốn vô lượng tâm,
các tam muội (samàdhi), tam ma bát đề (samapatti), các thần thông, các
minh huệ (vidyà), các tỗng trì (dhàrani), biện tài (matibhàna), các đế
(satya), các trí, chỉ (samatha), quán (vipasya), giải thoát, các duyên,
các y (pratisarana), các môn thuyết pháp (upasthãna), các thần túc, các
căn lực, bảy phần Bồ đề, tám chi Chánh đạo, Thanh Văn thừa, Duyên Giác
thừa, Bồ Tát thừa, các nhẫn, các hạnh, các nguyện.
Thiện Tài lại thấy các Như Lai có đại chúng
vây quanh; hoặc thấy các nơi Phật giáng sinh, thấy dòng họ, thân hình,
tuỗi thọ, số kiếp, quốc độ, danh hiệu, các pháp hội, các phương tiện lợi
sinh, các giai đoạn kế thừa v.v..., với tất cả sai khác nơi các Như Lai.
Thiện Tài lại thấy một tòa lầu các đặc biệt
cao rộng và trang nghiêm huy hoàng nhất, tráng lệ vô song, ở giữa hết thảy
những tòa lầu các được nhìn thấy bên trong lầu các Tỳ lô giá na. Trong tòa
lầu các vô tỉ này, Thiện Tài thấy cả tam thiên thế giới trong chớp mắt gổm
cả trăm ức cõi trời Ðâu Suất (Tusita). Và trong mỗi thế giới đó, lại thấy
Bồ Tát Di Lặc giáng thần đản sinh, Ðế Thích (Sakra), Phạm Vương (Brahma)
và các thiên thần đang kính lễ Bồ Tát, Ngài đi bảy bước, quay nhìn mười
phương, cất tiếng rống sư tử, rổi hiện làm đổng tử trong triều đình, rời
cung điện, nơi du hí, rổi bỏ đi để cầu Nhất thiết trí, rổi tu khỗ hạnh,
nhận sữa, rổi bước tới đạo tràng, chinh phục ma quân, thành tựu Vô thượng
Chánh giác dưới cội Bồ đề, Phạm Vương khuyến thỉnh chuyển pháp luân, Phật
đến các cõi trời giảng pháp; và kiếp số, tuỗi thọ, chúng hội trang nghiêm,
quốc độ thanh tịnh, tu các hạnh và nguyện, giáo hóa thành thục chúng sinh,
phân bố xá lợi, trụ trì chánh pháp, thảy đều khác nhau nơi mỗi Phật, đều
được thấy hết" (19).
Một Số
Biểu Tượng Quen Thuộc Trong Kinh Tạng
Trong kinh tạng Phật giáo và Tam tạng thánh
điển nói chung, có rất nhiều biểu tượng. Ở đây chỉ xin đề cập đến một số
biểu tượng quen thuộc thường được truyền tụng trong đời sống hàng ngày.
1) Hoa sen: Biểu tượng cho chân lý. Và chân
lý đó là chân lý hiện thực trong cuộc đời, nó hiển thị giữa trần thế lắm
ưu phiền và tục lụy. Về mặt xã hội và tôn giáo, hoa sen biểu trưng cho con
đường "nhập thế sinh động" của Phật giáo. Ðó là những thành ngữ thường
được dùng như "Cư trần bất nhiễm trần" (Sống trong trần thế nhưng không bị
ô nhiễm bởi trần thế). Hoặc "Phật pháp bất ly thế gian" (Phật pháp không
rời khỏi thế gian mà có). Hoặc "Muốn đến Niết bàn hãy vào đường sinh tử"
v.v... Về mặt triết lý, hoa sen tượng trưng cho nhân quả cùng thời...
2) Ðất: Biểu tượng cho bản tính của tâm. Nó
vốn bình lặng, không phân biệt, như tính chất của mặt đất không hề từ chối
bất kỳ một sự phủ dẫm nào. Ai cũng có thể đặt chân lên nó. Và đất có thể
dung chứa tất cả mọi thứ trên đời mà không hề phân biệt phải, trái, tốt,
xấu, nhơ, sạch, sang, hèn... Thuật ngữ Phật học thường gọi là tâm địa -
tức là đất tâm.
3) Nước và sóng: Nước, trong kinh tạng Ðại
thừa thường được ví cho tâm, còn sóng thì được dụ cho ý thức. Tâm là thể
tính bình lặng, an nhiên, bất động; còn ý thức thì lao xao, tán loạn liên
hổi như là những cơn sóng gió đùa cợt ngoài đại dương mênh mông. Trong Duy
thức học, tâm tức là tàng thức Alaya, còn ý thức tức là thức thứ sáu (20).
4) Con vượn, con khỉ: Cả hai đều tượng trưng
cho sự buông lung, phóng dật của ý thức. Thành ngữ gọi là "tâm viên, ý mã"
(tâm ý quay cuổng như khỉ, vượn, ngựa).
5) Chàng họa sĩ: Biểu tượng cho năng lực tạo
tác của tâm thức. Kinh Lăng Nghiêm nói "Tâm như công họa sư năng họa nhất
thiết pháp", nghĩa là tâm như chàng họa sĩ bậc thầy (họa sư) có thể vẽ bất
kỳ điều gì anh ta muốn.
6) Ngôi nhà, lầu các: Tượng trưng cho cơ cấu
thuyên thích nội tại của tâm thức. Có thể xem người chủ ngôi nhà của tâm
thức chính là sự vận hành của tâm thức ở mỗi con người. Kinh Pháp Cú, Ðức
Phật nói: "Chủ nhà, ta đã nắm bắt được mi rổi!". Chủ nhà ở đây, nói theo
chuyên môn tức là Hành uẩn trong năm uẩn; cũng vậy, lầu các Lô xá na như
được giới thiệu trong kinh Hoa Nghiêm thực chất chính là sự biểu tượng của
tâm thức - ngôi nhà tâm thức, hay cung điện nhà trời là thế...
7) Bánh xe: Biểu tượng cho chánh pháp được
vận hành. Bánh xe có hai loại: loại 8 nan tượng trưng cho Bát chánh đạo;
loại 12 nan tượng trưng cho 12 nhân duyên (Duyên khởi), hay còn gọi là
bánh xe "luân hổi". Luân hổi (samsàra) là vòng tròn sinh hóa.
8) Con thuyền: Tượng trưng cho các pháp
phương tiện (như kinh điển và các điều kiện cần yếu) để đưa người sang
sông - sinh tử, giải thoát, giác ngộ. Ðức Phật dạy: Giáo pháp là con
thuyền để đưa người sang sông. Khi đã sang sông, con thuyền phải được để
lại. Thế gian là con thuyền, hãy đi qua/trên nó chứ đừng mang vác nó. Kinh
Pháp Hoa có dùng một số biểu tượng về giáo pháp như pháp cỗ: trống pháp;
pháp loa: loa pháp; pháp vũ: mưa pháp; pháp nhũ: sữa pháp...
9) Lưới thiên (indra's net): Khái niệm của
kinh Hoa Nghiêm, dùng lưới ngọc phát sáng của nhà trời để tượng trưng cho
nguyên lý Duyên khởi. Các tia của lưới ngọc, ánh sáng của nó tự giao thoa
và phản chiếu lại muôn ngàn màu sắc. Ðây là ý nghĩa tương dung, tương
nhiếp, tương tức, tương nhập.
10) Kim cương: Trong kinh Kim Cương, Bát
Nhã, kim cương tượng trưng cho trí tuệ Bát nhã. Vị trí trên được xem như
là sự thật tối thượng và là chân lý tối thượng. Trí tuệ tự nó là một giá
trị bất biến và vĩnh hằng. Ðức Phật dạy: "Chỉ có trí tuệ là sự nghiệp vĩ
đại" (Duy tuệ thị nghiệp).
11) Chiếc xe: Kinh Pháp Hoa có nói đến ba
loại xe: xe dê, xe hươu, xe trâu (phẩm Thí dụ) tượng trưng cho Tam thừa
giáo: "Thanh Văn", "Duyên Giác" và "Bồ Tát". Tam thừa tức là ba cỗ xe đại
diện cho giáo pháp được phân biệt thuyết. Ngày nay, Tam thừa được dụ cho
chiếc xe ba bánh (tricycle) - tức sự dung thông của ba thừa để đi đến Phật
thừa. Ở Mỹ có tờ báo Phật giáo lấy tên là Tricycle (Tam thừa). Trong sự so
sánh, còn có xe lớn (Ðại thừa), xe nhỏ (Tiểu thừa)..., tất cả đều chỉ cho
phương tiện chuyên chở giáo pháp của Như Lai.
12) Nhà lửa: Tượng trưng cho sự bất an, khỗ
não do chính dục vọng là nguyên nhân đốt cháy ba cõi như nhà lửa là như
thế (Tam giới vô an, Do như hỏa trạch). Biểu tượng này được trình bày rõ
trong kinh Pháp Hoa.
13) Lửa, đuốc: Tượng trưng cho hai đối
tượng: con tim và lý trí. Con tim tức là cơn khát vọng cuổng nhiệt như là
lửa dục, lửa sân hận. Lý trí là trí tuệ, nó đóng vai của ngọn đuốc soi
đường dẫn lối. Con tim thiên về tình cảm, cảm tính; lý trí thiên về lý
tính. Và ỏ tầm vóc cao, lửa được xem là tam muội - tinh thể của từ bi và
trí tuệ.
14) Dòng sông: Tượng trưng cho sự luân hổi
sinh tử. Nguyên nhân của luân hổi sinh tử là dục vọng, nên thuật ngữ
thường gọi là ái hà (dòng sông ái). Sự có mặt của con người chính là sự có
mặt của ái, thủ và vô minh. Vượt qua dòng sông ái là cứu kính, giải thoát.
15) Bên kia bờ: Khái niệm của kinh Bát Nhã,
tượng trưng cho người đã qua đến bên kia bờ sinh tử, thoát ly mọi hữu vô,
sinh diệt, thường đoạn, khứ lai... Câu linh ngữ của Bát Nhã là: "gaté,
gaté, paragaté, parasangaté. Bodhi svaha!" (Ði qua, đi qua, đi qua bờ bên
kia, đã đi qua đến bờ bên kia, ôi!).
16) Con thiên nga: Tượng trưng cho bậc thánh
A La Hán, người đã vượt dòng sinh tử. Khái niệm này được dùng trong kinh
tạng Pàli. Kinh Pháp Cú, Ðức Phật dạy: "Người tự lực cố gắng giữ tâm niệm
không luyến ái, không đeo níu theo nơi trú ẩn nào, cũng tựa hổ như những
con thiên nga đã lìa ao hổ, người ấy từ bỏ nơi này, đến nơi khác và ra đi
(PC 91).
17) Hào quang: Là ánh sáng nhiều màu sắc
phóng ra từ thân của Ðức Phật, Bồ Tát..., tượng trưng cho trí tuệ, phước
đức của Ðức Phật, chư Phật, Bồ Tát... Ánh sáng đó là sự giác ngộ, là trí
tuệ tối thắng có thể xóa tan đêm trường u tối của vô minh từ vô thủy.
Từ một số dẫn dụ trên, chúng ta thấy rằng
phần lớn kinh tạng Ðại thừa đều được thuyết bằng ngôn ngữ biểu tượng. Và
nếu không hiểu được ý nghĩa biểu tượng thì không làm sao đi vào thế giới
đầy dẫy những hình ảnh biểu tượng trong ngôn ngữ kinh tạng Ðại thừa.
Có một điều vô cùng quan trọng cần phải biết
đối với ngôn ngữ biểu tượng, đó là cái biểu tượng là một, nhưng cái được
biểu tượng luôn luôn khác một, nghĩa là nhiều hơn một. Và do đó, một hình
ảnh biểu tượng có thể được hiểu qua nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Tỉ
dụ, lửa có thể hiểu là lửa dục, lửa lòng..., cũng có thể là lửa tam muội,
lửa từ bi, lửa trí tuệ v.v... Tất nhiên, ở đây, đối với ngôn ngữ, mọi ý
nghĩa bao giờ cũng tùy thuộc vào ngữ cảnh.
Mặt khác, nếu như lời nói chỉ là những dấu
chỉ, biểu tượng, biểu trưng v.v..., thì đương nhiên sẽ không có bất kỳ một
mâu thuẫn nào xảy ra giữa các biểu tượng. Vì lẽ, mâu thuẫn chỉ có mặt
trong hiện thực chứ không có mặt trong thế giới biểu tượng. Tỉ dụ đèn xanh
và đèn đỏ, tự thân nó đều có giá trị như nhau, nhưng đèn xanh đèn đỏ ở ngã
tư đường trong một cơ cấu công ước nó lại có giá trị khác nhau và hoàn
toàn trái ngược nhau. Hoặc rằng, hình ảnh Ðức Phật ngổi trên hoa sen, nếu
hiểu theo nghĩa biểu tượng thì không có gì vô lý, nhưng nếu hiểu theo thể
cách hiện thực thì không thể chấp nhận được, vì hoa sen vốn yếu mềm, trừ
phi đó là hoa sen giả, được tạo ra bởi một chất liệu khác.
Như thế, rõ ràng chỉ có biểu tượng và ngôn
ngữ biểu tượng mới có đầy đủ năng lực diễn đạt về một thế giới tâm thức,
sâu xa kỳ bí và nhiệm mầu. Và, cũng chỉ có ngôn ngữ biểu tượng là phương
tiện khả dĩ để Ðức Phật truyền đạt bức thông điệp vô thượng của Ngài, cũng
như giới thiệu cảnh giới "duy tâm Tịnh độ" cho chúng sinh - những kẻ chỉ
sống bằng chất liệu và chỉ hiểu biết về thế giới của Phật thông qua các
dấu chỉ, hình ảnh, biểu tượng.
--- o0o ---
Mục lục |
01 | 02 | 03
| 04 | 05 |
06 | 07 |
08 | 09 |
10 | 11
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |