Tìm hiểu
ngôn ngữ kinh tạng Phật Giáo
---o0o---
I.5- Phần ví dụ
Phần
này, chúng tôi xin trích đoạn một số kinh để độc giả tham khảo.
* Ví dụ 1:
Trích kinh A Nan Nhứt Dạ Hiền Giả (Anandabhaddekarattasuttam), số 132,
kinh Trung Bộ III, Ðại tạng kinh Việt Nam (ÐTKVN), trang 447, bản dịch của
Thích Minh Châu.
132. Kinh A Nan Nhứt Dạ Hiền Giả
(Anandabhaddekarattasuttam)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá Vệ),
Jetavana (Kỳ Ðà lâm), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy
giờ, Tôn giả Ananda tại hội trường thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi,
làm cho hoan hỷ các Tỷ kheo với bài thuyết pháp. (Tôn giả) giảng Nhứt Dạ
Hiền Giả, tỗng thuyết và biệt thuyết. Rổi Thế Tôn vào buỗi chiều, từ thiền
định Ðộc cư đứng dậy đi đến hội trường, sau khi đến, ngồi trên chổ đã soạn
sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo:
- Này các Tỷ kheo, ai tại hội trường đã
thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ kheo với
bài thuyết pháp. Ai đã giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tỗng thuyết và biệt thuyết?
- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Ananda tại hội
trường đã thuyết thị, khích lệ, làm cho thích thú, làm cho hoan hỷ các Tỷ
kheo với bài thuyết pháp. (Tôn giả) đã giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tỗng thuyết
và biệt thuyết.
Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:
- Nhưng như thế nào, này Ananda, ông đã
thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỳ kheo với
bài thuyết pháp? Ông có phải đã giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tỗng thuyết và
biệt thuyết?
- Ðúng vậy, bạch Thế Tôn, con đã thuyết thị,
khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ kheo với bài thuyết
pháp. Con đã giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tỗng thuyết và biệt thuyết:
Quá khứ không truy tìm,
Tương lai không ước vọng
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập.
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt Dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
Này các Hiền giả, thế nào là truy tìm quá
khứ? Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và vị ấy truy tìm
sự hân hoan trong ấy ; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và vị ấy
truy tìm sự hân hoan trong ấy... (như kinh trước, thay đỗi "này các Hiền
giả" cho chữ "này các Tỷ kheo")... Như vậy, này các Hiền giả, là không bị
lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
Quá khứ không truy tìm,
Tương lai không ước vọng,
... (như trên)...
Xứng gọi Nhứt Dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
Như vậy, bạch Thế Tôn, con đã thuyết thị,
khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ kheo. Con đã giảng
Nhứt Dạ Hiền Giả, tỗng thuyết và biệt thuyết.
- Lành thay, lành thay, này Ananda! Lành
thay, này Ananda! Ông đã thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho
hoan hỷ các Tỳ kheo với bài thuyết pháp. Ông đã giảng Nhứt Dạ Hiền Giả,
tỗng thuyết và biệt thuyết.
Quá khứ không truy tìm,
Tương lai không ước vọng,
... (như trên)...
Xứng gọi Nhứt Dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
- Và thế nào, này Ananda, là truy tìm quá
khứ?... (như trước)... Như vậy, này Ananda, là truy tìm quá khứ. Và này
Ananda, thế nào là không truy tìm quá khứ?... (như trên)... Như vậy, này
Ananda, là không truy tìm quá khứ. Và này Ananda, thế nào là ước vọng
tương lai?... (như trên)... Như vậy, này Ananda, là ước vọng tương lai. Và
này Ananda, thế nào là không ước vọng tương lai?... (như trên)... Như vậy,
này Ananda, là không ước vọng tương lai. Và này Ananda, thế nào là bị lôi
cuốn trong các pháp hiện tại?... (như trên)... Như vậy, này Ananda, là bị
lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Và này Ananda, thế nào là không bị lôi
cuốn trong các pháp hiện tại?... (như trên)... Như vậy, này Ananda, là
không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
Quá khứ không truy tìm,
Tương lai không ước vọng,
... (như trên)...
Xứng gọi Nhứt Dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Tôn giả Ananda
hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
(Kinh A Nan Nhứt Dạ Hiền Giả, Thứ 132)
* Ví dụ 2:
Trích kinh Phật Tự Thuyết (Tiểu Bộ) - Cảm hứng về Niết bàn của Phật
(Lời kinh này có thể được xem như thuộc thể
tài cảm hứng ngữ). Trích trong "Phật tử", bản dịch của Thích Thiện Châu,
VNCPHVN, 1997, trang 160. 7.
Cảm hứng về Niết Bàn
(Kinh Phật Tự Thuyết thuộc Tiểu Bộ kinh)
"Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở
Savatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anathapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn
đang thuyết giảng pháp thoại liên tưởng (patisanna) đến Niết bàn cho các
Tỳ kheo, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Các Tỳ kheo ấy chú
tâm, tác ý, dổn tất cả tâm tư lắng tai nghe pháp. Rổi Thế Tôn, sau khi
hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:
"Này các Tỳ kheo, có xứ này (ayatana), tại
đây không có đất, không có nước, không có lửa, không có gió ; không có hư
không vô biên xứ, không có thức vô biên xứ, không có vô sở hữu xứ, không
có phi tưởng phi phi tưởng xứ ; không có đời này, không có đời sau, không
có cả hai mặt trăng, mặt trời. Do vậy, này các Tỳ kheo, ta tuyên bố không
có đến, không có đi, không có trú, không có diệt, không có sanh, không có
an trú, không có chuyển vận, không có sở duyên, đây là sự đoạn tận khỗ đau".
Khó thấy là vô ngã,
Với bậc có hiểu biết,
Với vị đã thấy rõ,
Không dễ thấy sự thật,
Khéo xâm nhập (diệt trừ) ái,
Ðâu còn có vật gì.
Này các Tỳ kheo, có sự không sanh, không
hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, này các Tỳ kheo, nếu không có cái
không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thời ở đây không
thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi. Vì rằng, này
các Tỳ kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu
vi, nên có trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi.
Cái gì có nương tựa, cái ấy có dao động. Cái
gì không nương tựa, cái ấy không dao động. Không dao động thời có khinh
an. Có khinh an thời không có thiên về. Không có thiên về thời không có
đến và đi ; không có đến và đi thời không có diệt và sanh ; không có diệt
và sanh thời không có đời này, không có đời sau, không có thời ở giữa. Ðây
là sự đoạn tận khỗ đau.
* Ví dụ 3:
Trích kinh Ðại Phương Quảng (Mahavedallasuttam) trong kinh Trung Bộ I, bản
dịch của Thích Minh Châu, ÐTKVN, trang 639... (Bài kinh này thuộc thể tài
phương quảng).
43. Ðại Kinh Phương Quảng
(Mahavedallasuttam)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana,
tinh xá ông Anathapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahakotthita (Ðại Câu Hy
La), vào buỗi chiều, khi thiền định xong, đứng dậy, đi đến chổ Tôn giả
Sariputta ở, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sariputta những lời chào
đón, hỏi thăm xã giao rồ ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên,
Tôn giả Mahakotthita nói với Tôn giả Sariputta:
- Này Hiền giả, liệt tuệ, liệt tuệ
(duppanna) được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là liệt
tuệ?
- Này Hiền giả, vì không tuệ tri, không tuệ
tri (nap-pajanati), này Hiền giả, nên được gọi là liệt tuệ. Không tuệ tri
gì? Không tuệ tri: đây là Khỗ, không tuệ tri: đây là Khỗ tập, không tuệ
tri: đây là Khỗ diệt, không tuệ tri: đây là con đường đưa đến Khỗ diệt. Vì
không tuệ tri, không tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là liệt tuệ.
- Lành thay, Hiền giả!
Tôn giả Mahakotthina hoan hỷ, tín thọ lời
Tôn giả Sariputta nói, rổi hỏi Tôn giả Sariputta một câu hỏi nữa:
- Này Hiền giả, trí tuệ, trí tuệ được gọi là
như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là trí tuệ?
- Vì có tuệ tri, có tuệ tri, này Hiền giả,
nên được gọi là trí tuệ. Có tuệ tri gì? Có tuệ tri: đây là Khỗ, có tuệ
tri: đây là Khỗ tập, có tuệ tri: đây là Khỗ diệt, có tuệ tri: đây là con
đường đưa đến Khỗ diệt. Vì có tuệ tri, có tuệ tri, này Hiền giả, nên được
gọi là trí tuệ.
- Thức, thức, này Hiền giả, được gọi là như
vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là thức?
- Này Hiền giả, vì thức tri, thức tri, này
Hiền giả, nên được gọi là có thức. Thức tri gì? Thức tri lạc, thức tri
khỗ, thức tri bất khỗ bất lạc. Vì thức tri, thức tri, này Hiền giả, nên
được gọi là có thức.
- Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như
vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu
lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?
- Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như
vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp. Không có thể
nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều
lần. Này Hiền giả, điều gì tuệ tri được là thức tri được, điều gì thức tri
được là tuệ tri được. Do vậy, những pháp này được kết hợp, không phải
không kết hợp, và không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này,
sau khi phân tích chúng nhiều lần.
- Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như
vậy, thế nào là sự sai khác giữa những pháp được kết hợp, không phải không
kết hợp này?
- Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như
vậy, giữa những pháp được kết hợp, không phải không được kết hợp này, trí
tuệ cần phải được tu tập (bhavetabha), còn thức cần phải được liễu tri
(parinneyyam) như vậy là sự sai khác giữa những pháp này.
- Cảm thọ, cảm thọ, này Hiền giả, được gọi
là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là cảm thọ?
- Này Hiền giả, cảm thọ, cảm thọ (vedeti),
nên được gọi là cảm thọ. Và cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khỗ, cảm thọ
bất khỗ bất lạc thọ. Này Hiền giả, cảm thọ, cảm thọ, nên được gọi là cảm
thọ.
- Này Hiền giả, tướng, tướng (sanna) được
gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là tướng?
- Tướng tri, tướng tri (sanjanati), này Hiền
giả, nên được gọi là tướng. Và tướng tri gì? Tướng tri màu xanh, tướng tri
màu vàng, tướng tri màu đỏ, tướng tri màu trắng. Tướng tri, tướng tri, này
Hiền giả, nên được gọi là tướng.
- Này Hiền giả, thọ như vậy, tướng như vậy,
những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên
sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?
- Này Hiền giả, cảm thọ như vậy, tướng như
vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không được kết hợp. Không có
thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều
lần. Này Hiền giả, điều gì cảm thọ được là tướng tri được, điều gì tướng
tri được là cảm thọ được. Do vậy, những pháp này được kết hợp, không phải
không được kết hợp, và không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp
này, sau khi phân tích chúng nhiều lần.
- Này Hiền giả, ý thức thanh tịnh, không
liên hệ đến năm căn có thể đưa đến gì?
- Này Hiền giả, ý thức thanh tịnh, không
liên hệ đến năm căn, có thể đưa đến Hư không vô biên xứ ; hư không là vô
biên, có thể đưa đến Thức vô biên xứ ; thức là vô biên, có thể đưa đến Vô
sở hữu xứ, không có sự vật gì.
- Này Hiền giả, pháp gì đưa đến nhờ gì có
thể tuệ tri được?
- Này Hiền giả, nhờ tuệ nhãn, pháp được đưa
đến có thể tuệ tri.
- Này Hiền giả, trí tuệ có ý nghĩa gì?
- Này Hiền giả, trí tuệ có ý nghĩa là thắng
tri (abhinnattha), có nghĩa là liễu tri (parinnattha), có nghĩa là đoạn
tận (pahanattha).
- Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên khiến
chánh tri kiến sanh khởi?
- Này Hiền giả, có hai duyên khiến chánh tri
kiến sanh khởi: tiếng của người khác và như lý tác ý. Này Hiền giả, do hai
duyên này, chánh tri kiến sanh khởi.
- Này Hiền giả, chánh tri kiến phải được hỗ
trợ bởi bao nhiêu chi phần để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả
công đức, và tuệ giải thoát quả, tuệ giải thoát quả công đức?
- Này Hiền giả, chánh tri kiến phải được hỗ
trợ bởi năm chi phần để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công
đức, tuệ giải thoát quả và tuệ giải thoát quả công đức. Ồ đây, này Hiền
giả, chánh tri kiến có giới hỗ trợ, có văn (suta) hỗ trợ, có thảo luận hỗ
trợ, có chi (samatha) hỗ trợ, có quán (samadhi) hỗ trợ. Này Hiền giả,
chánh tri kiến được hỗ trợ bởi năm chi phần này để có tâm giải thoát quả,
tâm giải thoát quả công đức, tuệ giải thoát quả và tuệ giải thoát quả công
đức.
- Này Hiền giả, có bao nhiêu hữu (bhava)?
- Này Hiền giả, có ba hữu: dục hữu, sắc hữu,
vô sắc hữu.
- Này Hiền giả, như thế nào sự tái sanh
trong tương lai được xảy ra.
- Này Hiền giả, bị vô minh ngăn che, bị tham
ái trói buộc, các loài hữu tình thích thú chỗ này chỗ kia, như vậy sự tái
sanh trong tương lai được xảy ra.
- Này Hiền giả, như thế nào sự tái sanh
trong tương lai không xảy ra?
- Này Hiền giả, vô minh được xả ly, minh
khởi, tham ái được đoạn diệt, như vậy sự tái sanh trong tương lai không
xảy ra.
- Này Hiền giả, thế nào là thiền thứ nhất?
- Ồ đây, này Hiền giả, vị Tỳ kheo ly dục, ly
ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do
ly dục sanh, có tầm có tứ. Như vậy, này Hiền giả, gọi là Thiền thứ nhất.
- Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có bao nhiêu
chi phần?
- Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có năm chi
phần. Ồ đây, này Hiền giả, Tỳ kheo thành tựu Thiền thứ nhất, có tầm, tứ,
hỷ, lạc và nhất tâm. Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có năm chi phần như vậy.
- Này Hiền giả, Thiền thứ nhất từ bỏ bao
nhiêu chi phần và thành tựu bao nhiêu chi phần?
- Này Hiền giả, Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi
phần và thành tựu năm chi phần. Ồ đây, này Hiền giả, vị Tỳ kheo thành tựu
Thiền thứ nhất từ bỏ tham dục, từ bỏ sân, từ bỏ hôn trầm thụy miên, từ bỏ
trạo hối, từ bỏ nghi, thành tựu tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Này Hiền
giả, như vậy Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần và thành tựu năm chi phần.
- Này Hiền giả, năm căn này, có cảnh giới
khác nhau, có hành giới khác nhau, không có lẫn lộn cảnh giới, hành giới
với nhau. Tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, giữa năm căn
này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có thọ lãnh cảnh
giới, hành giới lẫn nhau, cái gì làm sở y cho chúng, cái gì lãnh thọ cảnh
giới, hành giới của chúng?
- Này Hiền giả, năm căn này, có cảnh giới
sai khác, có hành giới sai khác, không có lãnh thọ cảnh giới, hành giới
lẫn nhau, tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hành giả, giữa năm căn
này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có lẫn lộn cảnh
giới, hành giới với nhau, ý làm sở y cho chúng, và ý lãnh thọ cảnh giới và
hành giới của chúng.
- Này Hiền giả, năm căn này là mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, năm căn này, do duyên gì mà chúng an trú?
- Này Hiền giả, năm căn này là mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, năm căn này do duyên tuỗi thọ (ayu) mà
chúng an trú.
- Này Hiền giả, tuỗi thọ do duyên gì mà an
trú?
- Tuỗi thọ do duyên hơi nóng mà an trú.
- Này Hiền giả, hơi nóng do duyên gì mà an
trú?
- Hơi nóng do duyên tuỗi thọ mà an trú.
- Này Hiền giả, nay chúng tôi được biết từ
lời nói của Tôn giả Sariputta là tuỗi thọ do duyên hơi nóng mà an trú. Nay
chúng tôi lại được biết từ lời nói của Tôn giả Sariputta là hơi nóng do
duyên tuỗi thọ mà an trú. Này Hiền giả, như thế nào, cần phải hiểu ý nghĩa
lời nói này?
- Này Hiền giả, tôi sẽ cho một ví dụ. Như ví
dụ, ở đây, một số người có trí sẽ hiểu ý nghĩa lời nói. Này Hiền giả, ví
như khi một cây đèn dầu được thắp sáng, duyên tim đèn, ánh sáng được hiện
ra, do duyên ánh sáng, tim đèn được thấy. Cũng vậy, này Hiền giả, tuỗi thọ
do duyên hơi nóng mà an trú, và hơi nóng do duyên tuỗi thọ mà an trú.
- Này Hiền giả, những pháp thọ hành
(ayusankhara) này là những pháp được cảm thọ (vedaniya) này, hay những
pháp thọ hành này khác với những pháp được cảm thọ này?
- Này Hiền giả, những pháp thọ hành này
không phải là những pháp được cảm thọ này. Này Hiền giả, nếu những pháp
thọ hành này là những pháp được cảm thọ này thì không thể nêu rõ sự xuất
khởi của vị Tỳ kheo đã thành tựu Diệt thọ tưởng định. Này Hiền giả, vì
rằng những pháp thọ hành khác, những pháp được cảm thọ khác nên có thể nêu
rõ sự xuất khởi của vị Tỳ kheo đã thành tựu Diệt thọ tưởng định.
- Này Hiền giả, đối với thân này, khi nào có
bao nhiêu pháp được từ bỏ, thì thân này được nằm xuống, quăng đi, vất bỏ,
như một khúc gỗ vô tri?
- Này Hiền giả, đối với thân này, khi nào ba
pháp được từ bỏ: tuỗi thọ, hơi nóng và thức, thì thân này nằm xuống, được
quăng đi, vất bỏ như một khúc gỗ vô tri.
- Này Hiền giả, có sự sai khác gì giữa vật
chết, mạng chung này với vị Tỳ khưu thành tựu Diệt thọ tưởng định?
- Này Hiền giả, vật chết, mạng chung này,
thân hành của nó chấm dứt, dừng lại, khẩu hành chấm dứt, dừng lại, tâm
hành chấm dứt, dừng lại, tuỗi thọ diệt tận, hơi nóng tiêu diệt, các căn bị
bại hoại. Còn vị Tỳ kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định, thì thân hành của
vị này được chấm dứt, được dừng lại, khẩu hành được chấm dứt, được dừng
lại, tâm hành được chấm dứt, được dừng lại, nhưng tuỗi thọ không diệt tận,
hơi nóng không tiêu diệt, các căn được sáng suốt. Này Hiền giả, như vậy là
sự sai khác giữa vật chết, mạng chung này với vị Tỳ kheo thành tựu Diệt
thọ tưởng định.
- Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để chứng
nhập tâm giải thoát bất khỗ bất lạc?
- Này Hiền giả, có bốn duyên để chứng nhập
tâm giải thoát bất khỗ bất lạc. Ồ đây, này Hiền giả, vị Tỳ kheo xả lạc, xả
khỗ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khỗ,
không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Hiền giả, do bốn duyên này mà chứng
nhập tâm giải thoát bất khỗ bất lạc.
- Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để chứng
nhập vô tướng tâm giải thoát?
- Này Hiền giả, có hai duyên để chứng nhập
vô tướng tâm giải thoát, không có tác ý nhất thiết tướng và tác ý vô tướng
giới. Này Hiền giả, do hai duyên này mà chứng nhập vô tướng tâm giải
thoát.
- Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để an trú
vô tướng tâm giải thoát?
- Này Hiền giả, có ba duyên để an trú vô
tướng tâm giải thoát: không tác ý nhất thiết tướng, tác ý vô tướng giới,
và một sự sửa soạn trước. Này Hiền giả, do ba duyên này mà an trú vô tướng
tâm giải thoát.
- Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để xuất
khởi vô tướng tâm giải thoát?
- Này Hiền giả, có hai duyên để xuất khởi vô
tướng tâm giải thoát: tác ý nhất thiết tướng và không tác ý vô tướng giới.
Này Hiền giả, do hai duyên này mà xuất khởi vô tướng tâm giải thoát.
- Này Hiền giả, vô lượng tâm giải thoát này,
vô sở hữu tâm giải thoát này, không tâm giải thoát này và vô tướng tâm
giải thoát này, những pháp này nghĩa sai biệt và danh sai biệt, hay nghĩa
đổng nhất và danh sai biệt.
- Này Hiền giả, vô lượng tâm giải thoát, vô
sở hữu tâm giải thoát, không tâm giải thoát và vô tướng tâm giải thoát
này, có một pháp môn, này Hiền giả, do pháp môn này, các pháp ấy nghĩa sai
biệt và danh sai biệt. Và này Hiền giả, lại có một pháp môn, do pháp môn
này, các pháp ấy có nghĩa đổng nhất và danh sai biệt. Này Hiền giả, thế
nào là có pháp môn, do pháp môn này, các pháp ấy có nghĩa sai khác và có
danh sai khác? Ồ đây, này Hiền giả, vị Tỳ kheo an trú biến mãn một phương
với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba,
cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang,
hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm
câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu
với bi... với tâm câu hữu với hỷ... an trú biến mãn một phương với tâm câu
hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy
phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy
phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu
với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Như vậy, này Hiền giả,
gọi là vô lượng tâm giải thoát. Và này Hiền giả, thế nào là vô sở hữu tâm
giải thoát? Ồ đây, này Hiền giả, vị Tỳ kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ,
nghĩ rằng: "Không có vật gì" chứng và trú Vô sở hữu xứ. Như vậy, này Hiền
giả, gọi là Vô sở hữu tâm giải thoát. Và này Hiền giả, thế nào là không
tâm giải thoát? Ồ đây, này Hiền giả, vị Tỳ kheo đi đến khu rừng, hay đi
đến gốc cây, hay đi đến chỗ nhà trống và suy nghĩ như sau: "Ðây trống
không, không có tự ngã hay không có ngã sở". Như vậy, này Hiền giả, gọi là
không tâm giải thoát. Và này Hiền giả, thế nào là vô tướng tâm giải thoát?
Ồ đây, này Hiền giả, vị Tỳ kheo không tác ý với nhất thiết tướng, đạt và
an trú vô tướng tâm định. Như vậy, này Hiền giả, gọi là vô tướng tâm giải
thoát. Như vậy là có pháp môn, và do pháp môn này, những pháp ấy nghĩa sai
biệt và danh sai biệt. Và này Hiền giả, thế nào là có pháp môn và do pháp
môn này, các pháp ấy có nghĩa đổng nhất nhưng danh sai biệt? Tham, này
Hiền giả, là nguyên nhân của hạn lượng ; sân là nguyên nhân của hạn lượng
; si là nguyên nhân của hạn lượng. Ðối với vị Tỳ kheo đã đoạn trừ các lậu
hoặc và tham, sân, si này đã được chặt tận gốc như thân cây tala được chặt
tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi
nào các tâm giải thoát là vô lượng, thì bất động tâm giải thoát được gọi
là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát
không có tham, không có sân, không có si. Tham, này Hiền giả, là một vật
gì (chướng ngại), sân là một vật gì (chướng ngại), si là một vật gì
(chướng ngại). Ðối với vị Tỳ kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, thì tham, sân,
si này đã được chặt tận gốc, như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến
chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm
giải thoát là vô sở hữu, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối
thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát ấy, không
có tham, không có sân, không có si. Tham, này Hiền giả, là nhân tạo ra
tướng, sân là nhân tạo ra tướng, si là nhân tạo ra tướng. Ðối với vị Tỳ
kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, thì tham, sân, si này được chặt tận gốc,
như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong
tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô tướng, thì bất
động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy,
và bất động tâm giải thoát này không có tham, không có sân, không có si.
Như vậy, này Hiền giả, là pháp môn này, những pháp ấy là đổng nghĩa với
những danh sai biệt.
Tôn giả Sariputta thuyết giảng như vậy. Tôn
giả Mahakotthita hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sariputta dạy.
(Ðại Kinh Phương Quảng Thứ 43)
--- o0o ---
Mục lục |
01 | 02 | 03
| 04 | 05 |
06 | 07 |
08 | 09 |
10 | 11
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |