Tìm hiểu
ngôn ngữ kinh tạng Phật Giáo
---o0o---
Vào Ðề
Một trong những loại hình ngôn ngữ khó hiểu
và uyên áo nhất trong kho tàng văn, triết học Phật giáo là ngôn ngữ kinh
điển (canical languages). Theo truyền thống, tất cả giáo pháp do Ðức Phật
truyền dạy cho hàng đệ tử của Ngài đều được gọi là kinh (sùtra) hay kinh
điển nói chung. Và kinh là một tạng thư trong ba tạng : Kinh tạng (Sùtra
pitaka), Luật tạng (Vinaya pitaka) và Luận tạng (Abhidamma pitaka). Trong
ba tạng này, nếu phân tích thì Kinh tạng và Luận tạng thuộc nhóm ngôn ngữ
đa nghĩa (1) và Luật tạng thuộc nhóm ngôn ngữ đơn nghĩa. Tất nhiên ở đây,
trong trường hợp đơn nghĩa vẫn có nhiều cách hiểu tùy theo ngữ cảnh
(context) và ngữ nghĩa (semanties) (*).
Tương tự như thế, ngôn ngữ trong ba tạng của
Phật giáo có thể nói là rất đa dạng, phong phú. Ồ đây, nội dung của thảo
luận này chỉ có thể đề cập đến thể tài và một số thể loại ngôn ngữ trong
kinh điển Phật giáo.
I.1- Các Loại
Thể Tài Kinh Ðiển
Theo
cách phân loại của một số từ điển (2), kinh điển Phật giáo được chia thành
12 loại, tức 12 thể tài, bao gồm:
1- Khế kinh (Sùtra) ; 2- Trùng tụng (Gaya) ;
3- Thọ ký (Vyakarama) ; 4- Phúng tụng (Gàthà) ; 5- Tự thuyết (Udana) ; 6-
Nhân duyên (Nidàna) ; 7- Thí dụ (Avadàna) ; 8- Bỗn sự (Itivrtaka) ; 9- Bỗn
sanh (Jàtaka) ; 10- Phương quảng (Vaipulya) ; 11- Vị tằng hữu (Adbhutahdarma)
; 12- Luận thuyết (Upadisa).
Theo cách phân loại này thì chỉ có Gaya (trùng
tụng) và Gàthà (phúng tụng) là thể tài chính của ngôn ngữ kinh điển. Chín
thể loại còn lại được phân bố theo từng loại sự việc được ghi trong kinh.
Ở đây, Gaya có nghĩa là tản văn và Gàthà có nghĩa là thơ, kệ hay bài tụng
theo thể thơ hoặc văn xuôi. Tuy nhiên, cách phân loại thể tài như trên dễ
tạo ra sự nhầm lẫn. Ví dụ, khế kinh (Sùtra) có nghĩa là kinh điển do Ðức
Phật dạy tùy theo năng lực, trình độ và hoàn cảnh của môỵi đối tượng riêng
biệt. Khế có nghĩa là phù hợp, mà thuật ngữ Phật học gọi là khế lý (phù
hợp với nguyên lý, chân lý) và khế cơ (phù hợp với khả năng, trình độ và
hoàn cảnh [cơ] của mỗi người). Và, như chúng ta biết, những gì Ðức Phật
nói và dạy đều mang rõ hai đặc tính khế lý và khế cơ. Do đó, khế kinh (bao
gổm cả khế lý và khế cơ) đương nhiên bao hàm tất cả kinh điển của Phật
giáo. Vì thế, nếu phân thành một loại là điều không hợp lý. Nhưng nếu dùng
từ khế kinh để chỉ cho tính chất đặc thù trong tất cả giáo lý của Phật và
do Phật nói là điều hoàn toàn hợp lý.
Hơn thế nữa, các thời thuyết giáo của Phật
như được ghi lại trong toàn bộ kinh điển, thì không thời pháp nào mà Ðức
Phật không dùng đến các hình ảnh, thí dụ, ẩn dụ, biểu tượng ; hoặc là nói
chuyện về tiền thân (Bỗn sanh, Bỗn sự ) của Ngài ; hoặc là nói theo cách
lý luận logic (luận thuyết), hoặc là nói đến những truyền thống Phật sử (vị
tằng hữu) v.v... Do đó, sự phân loại thể tài ở đây chỉ có ý nghĩa về hình
thức thuyết giáo của Phật được ghi lại trong kinh.
Theo một cách phân loại khác được ghi lại
trong kinh Xà Dụ (Trung Bộ kinh) thì giáo pháp của Phật được phân loại
thành 9 thể tài như sau:
- Kinh (cách gọi chung)
-
�ng tụng
- Giải thuyết
- Kệ tụng
- Cảm hứng ngữ
- Như thị ngữ
- Bỗn sinh, Bỗn sự
- Vị tằng hữu
- Phương quảng
Cách phân loại này xác thực hơn so với các
thể tài. Tuy nhiên, như đã đề cập, sự phân loại thể tài thuyết giáo của
Phật chỉ mang ý nghĩa khái quát về mặt thể loại văn học. Vì thế, vấn đề
được đặt ra ở đây là sự tìm hiểu về các đặc trưng của ngôn ngữ kinh điển.
Ðặt vấn đề như thế, bởi lẽ, ngôn ngữ kinh điển bao giờ cũng mang theo hai
giá trị, đó là giá trị thông điệp và giá trị giải thoát. Và giá trị thông
điệp chính là giá trị nội dung của kinh mà Ðức Phật muốn truyền đạt cho
chúng sinh. Giá trị giải thoát là mục tiêu của sự truyền đạt. Nói một cách
cụ thể, tất cả kinh điển của Phật đều có mục đích hướng dẫn chúng sinh đi
đến giải thoát. Vì thế, khi đọc kinh, người đọc, dù ít hay nhiều, đều nhận
được sự giải thoát tùy theo khả năng nắm bắt giá trị chân lý (nội dung
thông điệp) của người đọc. Ở đây, ngôn ngữ là phương tiện truyền trao
thông điệp. Do đó, sự sáng tỏ về ngôn ngữ càng cao, thì khả năng nhận diện
chân lý càng sâu và mức độ giải thoát càng bao quát. Có thể nói, sự sáng
tỏ về mặt ngôn ngữ, sự nhận diện chân lý và mức độ giải thoát luôn luôn
mang tỷ lệ thuận. Tuy nhiên, cần ghi nhận rằng, sự sáng tỏ về ngôn ngữ ở
đây có nghĩa là sự nắm bắt được những giá trị nội dung của thông điệp, chứ
không phải là sự hiểu biết trên bề mặt của ngôn từ. Do đó, một kẻ vốn được
xem là "man di", "thất học" như ngài Huệ Năng, nhưng với trái tim khát
vọng Vô thượng Chánh giác tâm, chỉ trong một tích tắc, Ngài đã ngộ yếu chỉ
của chân lý (3).
Từ đó, có thể nói rằng, cả giá trị thông
điệp và giá trị giải thoát đều được xây dựng trên cơ bản của tâm thức. Và
khi tâm thức sáng tỏ cũng là lúc mà ngôn ngữ hoàn thành công việc truyền
tin. Bởi lẽ, theo quan điểm của ngôn ngữ học hiện đại, ngôn ngữ là hình
thức của tư duy. Nó tổn tại một cách hiển nhiên sau khi đã và được trở
thành những quy tắc công ước, và được cộng đổng chấp nhận. Khi ngôn ngữ
được sử dụng, nghĩa là được nói ra trong giao tiếp thì nó bắt đầu gợi lên
những khái niệm, hình ảnh, biểu tượng và những khái niệm, hình ảnh, biểu
tượng đó luôn luôn thống nhất với ngôn ngữ. Tỷ dụ, khi nói đến nước (H2O),
lập tức hình ảnh nước loãng, không màu, không mùi có thể đông đặc ở 0 độ
C, và bốc hơi ở 100 độ C... liền hiện lên trên màn hình của tâm thức.
Nhưng, nếu khi ngôn ngữ không được sử dụng, nghĩa là không được nói ra
trong giao tiếp, thì ngôn ngữ sẽ lặng lẽ trôi theo sự vận hành của tư duy,
nó trở thành một thứ, nói theo thuật ngữ Phật học, là độc ảnh cảnh (hiện
tượng, sự vật trong tâm thức). Tỷ dụ, khi ngồi một mình trong cô liêu,
không tịch, nếu bạn nghĩ đến ai, thì người đó sẽ hiện lên trong tâm thức
của bạn, tùy theo cái kinh nghiệm mà bạn đã tích lũy từ trước. Như thế, dù
ngôn ngữ được nói ra hay không, nó vẫn luôn luôn là hình thức của tư duy,
là ảnh tượng của tư duy và là cái khoen xích nối tiếp, để qua đó, tư duy
liên tục nối kết từ ảnh tượng này sang ảnh tượng kia, từ ý niệm này sang ý
niệm khác. Và trên hết, cần được suy niệm rằng, ngôn ngữ là ảnh tượng của
tư duy; do đó, nó cũng là ảnh tượng của tâm thức, và những gì được xây
dựng trên cơ sở của tư duy và ý thức thì đều là vọng tưởng, nó không thật
có, không phải là thực tại, và không bền vững. Có thể nói, ngôn ngữ là ảnh
tượng của tư duy, nó tổn tại hiển nhiên trên sự vận hành của tâm thức, và
như thế, nó là bóng dáng của thực tại, vì ảnh tượng của thực tại và tâm
thức chỉ hiện hữu khi và chỉ khi chúng là đối tượng của nhau trong tương
duyên giữa chủ thể (subject) và khách thể (object). Trong khi đó, thực tại
- chân như thì không được biểu đạt bằng ngôn ngữ và không thể biểu đạt
bằng ngôn ngữ.
Từ một vài khái niệm trên, chúng ta đi vào
tìm hiểu đặc trưng của ngôn ngữ kinh điển Phật giáo.
--- o0o ---
Mục lục |
01 | 02 | 03
| 04 | 05 |
06 | 07 |
08 | 09 |
10 | 11
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |