Phần 04
31. Mua lừa
Thuở xưa có một số tín đồ của đạo Bà La Môn cử hành cuộc đại hội, họ cần
dùng nhiều chén bạc. Vị giáo chủ của họ bảo đệ tử lên chợ mời một người
thợ đồ sứ về làm. Ðệ tử vâng lệnh đi tìm thợ. Ði giữa đường bọn họ gặp
người thợ đang dắt một con lừa, trên lưng chở rất nhiều đồ sứ đem ra chợ
bán. Lừa sẩy chơn té quỵ xuống, bao nhiêu đồ sứ trên lưng đều rớt xuống
đất và bể tan tành. Người thợ đồ sứ buồn rầu khóc lóc mãi. Bọn họ thấy thế
lấy làm lạ hỏi rằng:
-
Tại sao anh khóc buồn bã thế?
Người thợ trả lời:
-
Tài nào tôi không khóc, bao nhiêu đồ sứ công phu làm trong một năm, nay
định chở đem ra chợ bán nào ngờ con lừa bị sảy chân, trong khoảng khắc bể
nát cả, như thế không đáng rầu rĩ ư!
Bọn họ nghe thế mừng thầm và
nghĩ rằng:
-
Con lừa nầy giỏi quá, công khó người thợ làm một năm, chỉ trong nháy mắt
nó có thể làm tiêu tan hết.
Bây giờ bọn họ mới thương lượng với người thợ để mua con lừa. Người thợ
đang tức giận muốn tống cổ nó đi, nghe có người mua nó, vội vã bán ngay.
Bọn họ cưỡi lừa về ra mắt giáo chủ, vị giáo chủ hỏi rằng:
-
Tại sao không tìm thỉnh người thợ đồ sứ, mà lại mua lừa đem về?
Bọn đệ tử trả lời:
-
Bản lảnh con lừa nầy, lớn hơn người thợ đồ sứ, vì người thợ làm trong một
năm mới thành một số đồ, mà chỉ trong giây phút một mình nó, nó phá tan.
Vị
giáo chủ lắc đầu lia lịa và nói rằng:
-
Sao các con dại dột thế? Con lừa nầy, trong khoảnh khắc có thể làm bề bao
nhiêu đồ sứ, nhưng dù trải trăm năm, nó cũng không thể làm ra được một
cái.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Ở đời có nhiều người thọ ân của người khác giúp đỡ,
chẳng những họ không thù đáp lại, mà thường hay trả oán. Hạng người vong
ân bội nghĩa như thế, chúng ta không nên gần gũi, vì chỉ có hại chứ không
ích lợi gì.
32. Trôm vàng
Thuở xưa có hai người thương gia cùng ở một chỗ, một người buôn vàng, một
người buôn bông vải. Có người đến mua vàng, để vàng vào lửa thử xem thiệt
hay giả. Người buôn bông vải kia lén trộm một cục, sợ thấy, bèn đem giấu
trong bông. Vàng đang cháy nóng đỏ làm cho bao nhiêu bông vải cháy sạch
sành sanh, công việv bại lộ. Người kia chẳng những không trộm vàng được,
mà còn bị cháy hết bao nhiêu là bông vải.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Ngoại đạo ăn cắp giáo lý của đạo Phật đem làm của mình,
nhưng vì họ không rõ nguyên lý, không khéo xử dụng, chẳng những không hiểu
Phật pháp, việc làm không đi đến đâu, mà lại làm cho giáo pháp của họ bị
pha trộn. Chung kết cơ mưu bị bại lộ, làm trò cười cho kẻ bàng quan.
33. Chặt cây tìm trái
Thuở xưa trong vườn một ông vua, có trồng một thứ trái cây rất tốt, tàng
nhánh sum xê, sanh trái ngon ngọt lạ thường, không chỗ nào có.
Ngày nọ có người khách ngoại quốc đến chơi, vua đưa đi xem cây ấy và nói
rằng:
-
Cây nầy sanh một thứ trái ngon vô song, chẳng nơi nào có cả.
Khách hỏi:
-
Quả thật có trái ngon, vậy cho tôi một trái ăn thử được không?
Vua bằng lòng, bèn gọi người đốn cây ngã xuống để tìm trái, nhưng tìm
không được trái nào. Sau đó, vua báo người đem cây đã chặt trồng lại, rồi
tìm đủ biện pháp, cũng không thể nào làm cho nó đâm chồi nẫy tược như xưa.
Cây ấy chết tuyệt, không còn sanh trái nữa.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Ðức Thích Tôn đã từng chỉ cho chúng ta công đức trì
giới, giống như cây đại thụ, có thể sanh các thứ trái thần thông, trí tuệ,
từ bi, thiền định ngon lành. Chúng ta muốn có những thứ trái cây ấy, thì
trước tiên phải trì giới tu hành, dùng nhiều công đức pháp lành bón tươi,
mới mong kết quả tốt đẹp hoàn toàn. Nhưng có một ít người không hiểu
phương pháp ấy, buông lung hủy phạm giới luật oai nghi, mà còn mong cầu
thần thông, định, huệ, khác nào người chặt cây tìm trái như trên, chẳng
những trái không tìm được, mà cây quí từ nay đã chết khô. Hạng người hành
động như thế thật đáng thương xót.
34. Thâu ngắn đuờng đi
Thuở xưa có một thôn cách kinh
thành một trăm dặm, nơi ấy có một cái giếng nước rất trong và ngon ngọt,
lạ thường. Vua hạ lệnh cho dân làng, mỗi ngày phải chở nước về kinh thành
cho vua uống.
Dân làng ngày ngày tới lui mệt mỏi không chịu được, bèn rủ nhau trốn đến
phương xa. Việc nầy thôn trưởng biết được, mới triệu tập một cuộc đại hội
thôn dân, vị thôn trưởng đứng ra tuyên bố:
-
Các anh em chớ đi đâu hết, tôi sẽ yêu cầu nhà vua thâu ngắn con đường một
trăm dặm thành sáu mươi dậm tức khắc. Các anh em đi lại sẽ gần hơn, không
nổi mệt mỏi như trước.
Hội nghị bế mạc, vị thôn trưởng vội vã vào kinh yêu cầu vua như thế. Vua
phê chuẩn lời thỉnh cầu, và hạ lệnh cho sở lục lộ thâu ngắn con đường một
trăm dặm còn sáu mươi dặm. Dân làng được tin ấy đều vui mừng và tự cảm
thấy gần hơn trước. Từ đấy họ càng tin tưởng lời vua, họ đồng lòng tỏ
không dời đi đâu cả.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Người đời phát tâm tu học chánh pháp mong cầu thoát ly
sanh tử, luân hồi, nhưng vì thời gian tu học dài dăng dẳng, nên càng thấy
mỏi mệt, nửa đường thối tám không muốn tiến tới.
Ðức Như Lai có đủ phương tiện, đem pháp nhất thừa phương tiện nói ba thừa,
khiến cho hàng căn tánh kém cỏi, trí huệ cạn gần, nghe xong cho là Phật
pháp dễ tu, dễ chứng, mới mạnh mẻ nổ lực tiến tu pháp lành công đúc, hầu
thoát ly sanh tử luân hồi. Sau khi bọn họ chứng quả vị tiểu thừa xong,
Phật trở lại chỉ trích họ. Ngài thuyết minh: Phật pháp xưa nay chỉ có nhứt
thừa chớ không có hai hay ba thừa, nghĩa là: "Sự thật chỉ có một, hể có
hai cái tương đối thì không phài là chơn". Bây giờ bọn họ càng tin tưởng
lời Phật, có thể hồi tiểu quả hướng đến đại thừa, tin thế không nghi, an
nhiên tiến tu đạo đại thừa Bồ Tát.
35.
Thấy bóng trong gương
Thuở xưa có một người rất nghèo
khổ, mắc nợ quá nhiều, không có biện pháp để trả nợ, chỉ còn có cách là đi
trốn.
Ngày nọ, y đi đến cánh đồng bao la bát ngát, chợt thấy một cái rương, bèn
mở ra xem thử, thấy đầy một rương ngọc ngà, châu báu, có đậy một miếng
kiếng lên trên. Bây giờ y vui mừng không xiết, bèn thò tay vào lấy những
của báu ấy. Nhưng y thấy trong rương hiện ra một người (tức là bóng của y)
có vẻ dọa nạt y, y hoảng sợ dừng tay lại, trong tâm lo sợ không an, bèn
nói với người trong gương:
- Ta cho là trong cái rương
trong nầy, không có phương hướng, tưởng đâu là không có người, nào dè thấy
có người trong đó, quái lạ chưa?
Nói xong y vội vàng chạy đi nơi
khác.
** Chuyện nầy tỉ dụ: Người đời
thường bị vô lượng phiền não ràng buộc, làm cho khốn đốn, khổ nảo, không
có phúc đức, duyên lành, lại thường bị sống chết quay cuồng "ma vuông,
trái chủ" áp bức khổ sở, nên muốn cầu giải thoát khỏi vòng thống khổ, đau
thương mà tu học Phật pháp.
Bọn họ có công vun bồi cỏi phúc giống lành, dụ như cái rương đầy của báu,
rồi lại thường bị "thân kiến ngã chấp" làm mờ, cho nên ở trong vô thường,
vô ngã vọng chấp có ngã thường còn. "Thân kiến", "ngã chấp" dụ như bóng
hiện trong gương, bọn họ lầm cho là chân thật, do đây mà không thể tu hành
thiền định, đạo phẩm, chứng thành công đức vô lậu. Hành vi của bọn họ cùng
với cử chỉ của người đã đến rương báu mà không lấy được vật gì, đồng nhau
không khác.
36. Lầm móc con mắt
Thuở xưa có một người tu trên núi, học được pháp thuật, có thể khám phá
tất cả ngọc ngà, châu báu chôn dưới đất lâu năm. Chuyện nầy thấu đến tai
vua, vua rất mừng rỡ, bảo quần thần rằng:
-
Ta muốn mời nhà nghệ thuật ấy ở luôn trong nước để giúp ta tìm của báu đã
bị chôn vùi, nước chúng ta sẽ trở nên đại phú cường tức khắc.
Bây giờ có vị đại thần lảnh sứ mạng đi tìm nhà nghệ thuật. Vị đại thần quả
nhiên tìm được người ấy, nhưng không chịu thỉnh về nước, mà lại móc cặp
mắt của người, đem về dâng cho vua và nói:
-
Hạ thần đã móc mắt của nhà nghệ thuật rồi, họ sẽ không thể đi khỏi nước
được.
-
Vua nghe xong lấy làm bất mãn nói rằng:
-
Ngươi thật là dại dột, sở dĩ ta muốn thỉnh người là vì người có cặp mắt,
có thể khám phá được của báu bị mai táng. Nay ngươi hủy hoại cặp mắt của
người rồi thì người ấy còn dùng vào việc gì được nữa!
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Phật giáo do nhận thấy các bậc đại đức cao tăng khắc khổ
thanh tu trong rừng núi, phi thường cung kính rước về nhà cúng dường,
không biết rằng làm thể chỉ ngăn ngại sự tu khắc khổ thanh đạm của các
ngài, thậm chí làm cho các ngài hủy phá giới hạnh, lui sụt pháp lành,
không thể thành công đắc quả.
Phật tử tại gia thường hay mắc bệnh mủ quáng và lầm lớn. Hộ pháp không
biết pháp, cúng dường không đúng pháp hoặc đem tình đời làm lem ố giới,
định thanh cao của các bậc đại đức xuất gia, làm thế mình và người đều bị
hại, gây nên tội lỗi không vừa.
37. Giết trâu
Xưa có một người nuôi 250 con trâu, thường thả ra đồng ăn cỏ.
Một hôm, có con cọp vồ lấy một con ăn thịt. Người kia thấy thế, tự nghĩ
thầm: "Trâu ta mất một con, không đụ số, ta còn dùng bầy trâu đây làm gì?"
bèn đuổi cả bầy trâu xuông hố, chúng chết tuyệt không còn lấy một con.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Phật tử xuất gia thọ trì "Giới cụ túc" hai trăm năm mươi
rất hoàn hảo. Sau đó bất cẩn lỡ phạm một điều, đã không biết xấu hổ, ăn
năn, sám hối cho trở lại thanh tịnh như xưa; mà lại lầm tưởng: "Ta đã phá
một giới rồi, thì giới hạnh đã kém khuyết, dù có ăn năn giữ kỹ các giới
cũng chẳng ích gì". Rồi từ đây ngang nhiên phạm giới không biết kiêng sợ,
bỏ cả giới luật không hành trì. Người tu hành như thế cùng với người giết
trâu như kia đều là hạng ngu si đáng thương cả.
38. Bảo nước đừng chảy
Thuở xưa có một người đi đường rất khát nước, xem thấy bên đường có cái
hang, giòng suối từ trong ấy chảy ra nước trong leo lẻo, kế bên có cái
thùng hứng nước đầy tràn. Người kia bèn kê miệng uống. Sau khi uống đở
khát rồi, y chỉ cái thùng và nói:
-
Ta uống đở khát rồi, vậy nước ơi! Ðừng chảy ra nữa.
Nhưng nước vẫn y nhiên chảy mãi không ngừng. Người kia tức mình quá, đứng
bên cái thùng chữi rủa om sòm. Mọi người thấy thế cười và trách anh ta
rằng:
-
Anh cần gì làm thế, hãy lánh đi nơi khác đi, hà tất phải bảo nước đừng
chảy nữa.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Người đời thường say đắm trong biển sanh tử tham ái,
uống nước ngủ dục tanh hôi, đôi khi cũng cảm thấy chán chê, ước mong con
ma ngủ dục lạc đừng đến quấy rầy, nhưng nào được như ý. Muốn thế ta cần
phải đề phòng các giác quan, tự kiểm thảo lấy mình cho cẩn thận: Tạm đừng
dính líu duyên trần, ý đừng vọng tưởng sự thế. Chớ nếu chẳng dụng công xá
bỏ bợn nhợ nơi lòng, mà chỉ mong muốn ngăn cảnh ngủ dục bên ngoài đừng đến
quấy nhiểu, thì chẳng những không thể ngàn được miếng mồi ngủ dục (I), mà
lại hằng bị nó lôi cuốn vào đường trụy lạc đau thương, mãi quay cuồng
trong hố sâu tội lỗi, chẳng hy vọng ngày nào giải thoát được phiền não, mê
lầm. Hành động như thế chỉ luống công vô ích.
(I) Ngủ dục: Tài, sắc, danh, ăn ,ngủ; hoặc là sắc, hương, thinh, vị, xúc,
cảnh giới đây thường thường làm cho con người điên đảo, mê hoặc.
39. Sơn tường
Thuở xưa có một người, y đến chơi nhà người bạn, thầy vách tường nhà bạn
sơn bóng loáng, ráo khô, sạch sẽ, mới hỏi rằng:
-
Anh dùnh thứ chi sơn quét vách tường đẹp thế?
Người bạn trả lời:
-
Tôi dùng cám trộn với bùn và nước.
Người kia làm tường: Dùng cám mà còn tốt như vậy, nếu dùng nguyên lúa trộn
với bùn mà sơn tường, thì chắc tốt hơn thế nữa.
Y
bèn trở về nhà, dùng rất nhiều lúa trộn với bùn sơn lên vách. Kết quả
chẳng những hoang phí một số lúa mà còn làm cho vách tường trở nên chỗ
lồi, chỗ lõm không bằng, nhiều nơi sứt mẻ.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Một số người hiều lầm Phật pháp, hoặc tự cho mình là
thông minh, tu bướng theo ức kiến của mình, rồi xa chánh pháp, thường
thường mắc bệnh khổ công tu hành mà chỉ tổn hại không ích. Thí như phàm
phu nghe Thánh nhân thuyết pháp rằng: Tu các pháp lành, sau khi chết sẽ
được sanh thiên, hoặc được giải thoát; rồi họ tự lầm lộn giết chết thân
mình mong được sanh thiên hưởng phước báo. Kết quả chỉ luống hủy thân, đối
với sự tu hành không được chi cả. Họ với người kia đều là hạng ngu si.
40. Người sói đầu tìm thuốc.
Thuở xưa có một người đầu sói không có một sợi tóc, về tuyết đông lạnh vô
cùng, mùa hạ nóng không thể tả, lại bị muỗi mòng bu cắn rất là đau đớn.
Chẳng nghe đồn có vị lương y có thể trị hết bệnh sói và bất cứ bệnh gì,
khó trị cách mấy ông cũng đều trị lành.
Người bèn đến nơi thưa hỏi:
-
Tôi có bệnh sói đầu rất đau đớn, nghe đồn ngài có thể trị lành bệnh tôi,
cúi xin thương xót chữa cho tôi khỏi bệnh.
Lập tức vị lương y lột nón của mình ra đưa đầu sói cho xem và nói:
-
Thấy chăng, ta tự mắc bệnh ấy và đau khổ vô cùng. Giả sử ta có thể trị
được bệnh sói, thì ta đã tự chữa cho ta khỏi bệnh rồi.
**
Chuyện nầy tỉ dụ: Người đời mắc chứng bệnh: Sanh, già, bệnh, chết rất khổ
não; muốn cầu đạo trường sanh bất tử mà không chịu đến với Phật, Bồ tát là
những bậc Thánh nhân siêu trần để cầu học đạo thoát ly, mà trở lại tự mình
mù quáng, đến bốn ngoại đạo thỉnh cầu, dầu biết bọn ngoại đạo tự mình vẫn
bị trôi lăn trong vòng sanh tử, luân hồi, không có pháp giải thoát, làm
sao cứu được người.
--- o0o ---
Mục
lục | 01
| 02 | 03 |
04 | 05 |
06 | 07 |
08 | 09 |
10 |
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |
-o0o-
Vi tính : Việt Dũng
; Trình bày : Nhị Tường
Cập nhật: 01-10-2002