- Ghi
Chú (1)
- Tên
kinh này gọi đủ là Kim quang minh tối thắngvương. Kim
quang minh: ánh sáng hoàng kim. Tối thắng vương: chúa tể
tối thượng.
-
- Ghi
Chú (2)
- Chính
văn là độc, tụng, thọ, trì, thư tả.
-
- Ghi
Chú (3)
- Diệu
tràng, Phạn: Ruciraketu. Bản ngài Đàm mô sấm dịch là Tín
tướng.
-
- Ghi
Chú (4)
- Chính
văn là kiếp.
-
- Ghi
Chú (5)
- Chính
văn là ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh, thọ giả, dưỡng
dục, tà kiến, ngã ngã sở kiến, đoạn thường kiến.
-
- Ghi
Chú (6)
- Hiến
cúng (cúng dường = cung dưỡng) có 3: một là lợi hiến
cúng: hiến dâng cúng phẩm; hai là kính hiến cúng: kính
trọng đủ cách; ba là tu hiến cúng: thực hành thiện căn
(luận Đại trang nghiêm, Chính 39/198).
-
- Ghi
Chú (7)
- Chính
văn là căn tánh ý lạc và thắng giải.
-
- Ghi
Chú (8)
- Chính
văn là thị giáo lợi hỷ.
-
- Ghi
Chú (9)
- Chính
văn là thập nhị phần giáo.
-
- Ghi
Chú (10)
- Chính
văn ở đây là khí lượng: dung lượng của đồ chứa.
Trình độ của chúng sinh là như khí lượng: tùy khả năng
mà tiếp nhận Phật pháp khác nhau.
-
- Ghi
Chú (11)
- Cảnh
trí: tâm trí như gương. Không phải chỉ là đại viên
cảnh trí, mà ở đây chỉ cho vô phân biệt trí.
-
- Ghi
Chú (12)
- Như
như: như nhau như nhau. Chính nghĩa là vô phân biệt.
-
- Ghi
Chú (13)
- Chính
văn là tự tha, chính xác thì nên dịch là chủ thể khách
thể.
-
- Ghi
Chú (14)
- Những
định không còn tư tưởng và cảm giác, như vô tưởng
định, diệt tận định.
-
- Ghi
Chú (15)
- Không
ảnh là hình ảnh có ra là có trong không gian, nhờ không
gian; nếu không có khoảng trống thì chẳng hình ảnh nào
có được.
-
- Ghi
Chú (16)
- Cũng
nên nói bất trụ sinh tử nữa (Chính 39/217).
-
- Ghi
Chú (17)
- Chính
văn là hành pháp: cái pháp có tính cách chuyển biến
(tức hữu vi).
-
- Ghi
Chú (18)
- Thật
ra nên nói cả 10 địa nữa, vì đây là tha thọ dụng thân.
-
- Ghi
Chú (19)
- Chính
văn là tướng cập tướng xứ, Chính 39/222 nói là nhân
ngã pháp ngã. Tôi nghĩ hơi khác; tướng là ngã pháp, tướng
xứ là y tha phần nhiễm. Do vậy, đáng lẽ tướng cập
tướng xứ nên dịch là ảo giác và căn cứ của ảo giác.
-
- Ghi
Chú (20)
- Niết
bàn và đường đến niết bàn.
-
- Ghi
Chú (21)
- Thân
này là thân này đây, thân chúng ta đây, mà nói chính xác
là cái "thắng thân" (thân hơn bình thường), cái
thân "đạo khí" (đồ chứa đựng Phật pháp) mà
ghi chú 22 nói. Coi thêm ghi chú ấy.
-
- Ghi
Chú (22)
- Chính
văn là thị thân nhân duyên cảnh giới xứ sở quả y ư
bản. Theo Chính 39/223, thân (bản thân) là quả báo được
cái thắng thân làm đồ chứa đựng chánh pháp, và đó
là dị thục quả. Nhân duyên (yếu tố) là thắng thiện
đã tu trong đời trước, và đó là tăng thượng quả.
Cảnh giới (đối cảnh) là bồ đề và niết bàn, sở
duyên của đẳng lưu quả. Xứ sở (đối tượng) là đại
bồ đề mà sĩ dụng quả nguyện cầu. Quả y ư bản
(kết quả; nhưng 4 chữ liền lại thành 1 từ ngữ thì
phải dịch là căn bản) là ly hệ quả không rời như như
lý. Nhưng cách chấm câu như vậy tôi không đồng ý, nên
đã chấm câu và dịch như đã dịch.
-
- Ghi
Chú (23)
- Chính
văn là đại thừa, Như lai tánh, Như lai tạng.
-
- Ghi
Chú (24)
- Tự
tại là ngã. Ngã trong 4 đức niết bàn của Phật không
phải là nghĩa chủ tể (khái niệm về ngã của ngã
chấp).
-
- Ghi
Chú (25)
- Là
32 tướng tốt, 80 tướng phụ, 18 bất cọng, 10 lực, 4 vô
úy, đai bi, 3 niệm, 32 độc đắc. Tham chiếu Chính
39/224-226.
-
- Ghi
Chú (26)
- Chính
văn ở đây là tướng.
-
- Ghi
Chú (27)
- Ở
đây nghĩa là phi nhị biên.
-
- Ghi
Chú (28)
- Là
pháp thân, đại định, đại trí.
-
- Ghi
Chú (29)
- Chính
văn là thế thiện, nói đủ là thế gian thiện căn, đối
lại với xuất thế thiện căn.
-
- Ghi
Chú (30)
- Có
5 sự: sợ không đủ sống, sợ chết, sợ đường dữ,
sợ tiếng dữ, sợ công chúng.
-
- Ghi
Chú (31)
- Là
trung tính, không thiện, không ác, tản mạn, không kiểm
soát.
-
- Ghi
Chú (32)
- Dịch
đủ là mộng thấy trống vàng ròng phát ra âm thanh
diễn đạt diệu pháp sám hối.
-
- Ghi
Chú (33)
- Tám
nơi là địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh (khổ quá) bắc câu
lô (vui quá) cõi trời trường thọ (yên ổn quá) điếc
mù câm ngọng, thế trí biện thông (thông minh rất đời)
sinh trước hay sau Phật (mà không còn Phật pháp). Đây là
8 nơi gọi là nạn (khó cho sự thấy Phật nghe Pháp) là
không rảnh (không có sự tu tập xen vào).
-
- Ghi
Chú (34)
- Chính
văn là hữu hải, chỉ cho 3 cõi mà tổng kê có 25. Có,
hữu, là hiện hữu sinh tử, không phải niết bàn (như
ngoại chấp không dưới 3 trong số 25 hữu ấy).
-
- Ghi
Chú (35)
- Nói
ở phẩm 7 cuốn 5.
-
- Ghi
Chú (36)
- Coi
ghi chú 38.
-
- Ghi
Chú (37)
- Chính
văn là nhân duyên.
-
- Ghi
Chú (38)
- Từ
ghi chú số 36 đến đây dịch theo sự sớ giải của Chính
39/245-246.
-
- Ghi
Chú (39)
- Đối
chiếu văn chỉnh cú (coi ghi chú 40 ) thì câu này có nghĩa
coi các vị bồ tát mới tu cũng như bậc Nhất thế trí
(để thân gần, phụng sự, tu học).
-
- Ghi
Chú (40)
- Nghĩ,
chính văn là tưởng. Phải đổi, vì tưởng đặt ở đây,
ngữ khí sẽ có nghĩa ngỡ là, không đúng ý ở đây.
-
- Ghi
Chú (41)
- Tướng
là người cho, người nhận, vật cho, là mục đích và
quả báo. Trú tướng thì chấp có, xả tướng thì chấp
không, hồi hướng bố thí mà như vậy thì không chính xác
đối với tâm lý và mục đích của sự hồi hướng
bố thí.
-
- Ghi
Chú (42)
- Chính
39/250 nói, không thể sánh bằng là vì kinh này năng lực
làm cho những thắng hạnh ấy được thực hành, nên nói
không thể sánh bằng. Không phải những thắng hạnh ấy
không thể sánh bằng. Xin thêm rằng đây chỉ là cách đề
cao kinh này. Có 11 thắng hạnh không thể sánh bằng. Nhưng
câu kết, dịch "thì không thể sánh bằng" khác
hẳn nếu dịch "cũng không thể sánh bằng".
- Chữ
của chính văn, nhưng không chắc hoàn toàn có nghĩa như
ngày nay hiểu.
-
- Ghi
Chú (43)
- Tu
hành: pháp được tu, không phải tu hành: pháp phải
diệt; ở đây 2 thứ này là của tâm bồ đề (Chính
39/253).
-
- Ghi
Chú (44)
- Đúng
ra nên nói là phục tạng: Kho tàng ngầm dưới mặt đất
mặt nước.
-
- Ghi
Chú (45)
- Các
hành ở đây là 12 duyên khởi.
-
- Ghi
Chú (46)
- Năm
chướng nạn là ác thú, ác quỉ, giặc thù, tai họa nước
lửa, ba loại khổ não. Mười địa giống nhau.
-
- Ghi
Chú (47)
- Ghi
chú này có 2 điều Một, văn trước minh chú đổi thứ
tự một chút cho thích hợp hơn. Hai, minh chú không chép
phiên âm của Hoa văn, vì nhiều chữ tra không ra cách đọc,
tra có ra cũng đọc rất khó. Nên ở đây dịch âm từ
Phạn tự, và sao lục cả Phạn tự ấy. Phạn tự sao
lục từ ghi chú của Chính 16/420-450, còn dịch âm là do
Hòa thượng Thích Minh Châu (lưu ý: chữ có R ở giữa thì
đọc như chữ Pháp, thí dụ: tra là tr-a, sri là sr-i, v/v)
Kinh này có 35 bài minh chú tất cả, và đều làm như
vậy.
-
- Ghi
Chú (48)
- Dịch
đủ là sự ca tụng Phật là công đức ví như hoa sen.
-
- Ghi
Chú (49)
- Dịch
đúng chính văn là phòng tối (ám thất).
-
- Ghi
Chú (50)
- Thức
ăn tịnh hắc là thế nào thì không biết, chỉ biết Chính
39/272 nói nhuộm cho đen cũng được. Nhưng tại sao phải
là thức ăn màu đen, và tại sao phải ăn lúc mặt trời
chưa mọc, thì không thấy xuất xứ trên giải thích.
-
- Ghi
Chú (51)
- Thiện
phương tiện: phương cách khéo léo. Thắng nhân duyên:
yếu tố ưu việt.
-
- Ghi
Chú (52)
- Tri
giả: chủ thể tri thức. Tác giả: chủ thể hành động.
-
- Ghi
Chú (53)
- Tức
là điểu táng.
-
- Ghi
Chú (54)
- Tật
dịch là bịnh dịch, bịnh thời khí, nói chung là bịnh
truyền nhiễm.
-
- Ghi
Chú (55)
- Đoạn
nhỏ này có lược mấy câu.
-
- Ghi
Chú (56)
- Chúng
sinh có liên hệ với mình, chính văn là hữu duyên chúng
sinh.
-
- Ghi
Chú (57)
- Tức
như nói mất chủ quyền, độc lập.
-
- Ghi
Chú (58)
- Tức
như nói nhiệt độ gấp đôi.
-
- Ghi
Chú (59)
- Chính
văn là tịnh thất.
-
- Ghi
Chú (60)
- Tịnh
thất: cái phòng sạch sẽ.
-
- Ghi
Chú (61)
- Cù
ma (gomaya) là ngưu phấn. Coi ghi chú 69 .
-
- Ghi
Chú (62)
- Ngài
Nghĩa tịnh tự ghi: Ca li sa ba na (karsapana) đúng ra chỉ là
bối xỉ (bối xỉ là vỏ sò, xưa lấy làm tiền tiêu).
Nhưng tùy xứ mà chữ ấy có nơi là bối xỉ, có nơi là
tiền kim loại. Xứ Ma kiệt đà thì 1 karsapana ăn 1600
bối xỉ (1 bối xỉ ăn 16 hay 19 tiền cổ). Nhưng có
Phạn bản chép mỗi ngày cho 100 trần na ra (tiền vàng).
Trì chú này thì suốt đời ngày nào cũng được cho như
vậy. Ấn độ cầu nguyện đa số linh nghiệm, trừ ra không
dốc lòng. (Chính 16/431).
-
- Ghi
Chú (63)
- Dịch
đủ là như vành bánh xe có cả ngàn cái díp.
-
- Ghi
Chú (64)
- Năng
lực là đạt được kết quả, đường chính là phi
nhị biên, lý thể là chân như, sức mạnh là diệt ác
sinh thiện.
-
- Ghi
Chú (65)
- Phạn
tự của tên 4 vị này như sau: Agate, Satadru, Cyutaprabha,
Sutamani.
-
- Ghi
Chú (66)
- Dịch
Quan thế âm là từ một thuyết khác, và danh hiệu này
không đủ, không phải chính phiên (Chính 39/300).
-
- Ghi
Chú (67)
- Đây
là Phạn văn của 32 vị. Tham chiếu Chính 16/434-435.
- 1.
xương bồ (vaca)
- 2.
ngưu hoàng (gorocana)
- 3.
mục túc hương (sephalika)
- 4.
xạ hương (mahabhaga)
- 5.
hùng hoàng (manassila)
- 6.
hợp hôn thụ (sirisa)
- 7.
bạch cập (indrahasta)
- 8.
khung cùng (syamaka)
- 9.
câu kỷ căn (sami)
- 10.
tùng chi (sri - vibhitaka)
- 11.
quế bì (tvaca)
- 12.
hương phụ tử (musta)
- 13.
trầm hương (agaru)
- 14.
chiên đàn (candana)
- 15.
linh lăng hương (tagara)
- 16.
đinh tử (?)
- 17.
uất kim (knnkuma)
- 18.
bà luật cao (galava)
- 19.
vi hương (naradamsa)
- 20.
trúc hoàng (gorocana)
- 21.
tế đậu khấu (sukumara)
- 22.
cam tùng (misganta)
- 23.
hoắc hương (patna)
- 24.
mao căn hương (usira)
- 25.
sất chi (sallaki)
- 26.
ngải nạp (saileya)
- 27.
an tức hương (guggula)
- 28.
giới tử (sarsapa)
- 29.
mã cân (sophaghni or sosani)
- 30.
long hoa tu (nagakesala)
- 31.
bạch giao (sarjarasa)
- 32.
thanh mộc (kustha)
-
- Ghi
Chú (68)
- Phạm
văn: Pusya. Kinh cũ gọi là quỉ tinh (Chính 39/302)
-
- Ghi
Chú (69)
- Tráng
lát nền nhà hay tường vách, đều dùng vật liệu hiện
đại, mới sạch sẽ trang trọng.
-
- Ghi
Chú (70)
- Đồng
tử: giữa tuổi thiếu nhi với thiếu niên.
-
- Ghi
Chú (71)
- Ấn
với Tàu phân tích tất cả âm điệu có 5 cung bậc,
gọi là ngũ âm.
-
- Ghi
Chú (72)
- Là
mỗi tháng âm lịch mà là nửa sau, tức 16-30. Ngày 9 là
24, ngày 11 là 26.
-
- Ghi
Chú (73)
- Là
như thủy triều ứng theo mặt trăng.
-
- Ghi
Chú (74)
- Là
làm cù lao, làm bãi nổi, cho người khỏi bị trôi
cuốn.
-
- Ghi
Chú (75)
- Chú
tán là tán dương bằng minh chú, và minh chú ở đây là
hiển ngữ (lời chữ không bí mật).
-
- Ghi
Chú (76)
- Là
3 loại thế gian. Thông thường là 1. ngũ uẩn thế gian:
thế giới tổng thể, tức 5 uẩn; 2. chúng sinh thế gian:
thế giới chủ thể, tức thọ tưởng hành thức và
phần nội sắc; 3. quốc độ thế gian: thế giới khách
thể, tức phần ngoại sắc.
-
- Ghi
Chú (77)
- Ngài
Nghĩa tịnh ghi chú: Trên đây là minh chú để trì tụng,
cũng là minh chú để tán dương. Khi tụng chú thì phải
tụng chú tán này trước. (Chính 16/437).
-
- Ghi
Chú (78)
- Ngài
Nghĩa tịnh ghi chú: Minh chú phẩm này có lược có
rộng, có mở có hợp, trước sau bất đồng. Phạn bản
có nhiều. Tôi y theo 1 bản mà dịch. Sau này ai tìm hiểu
thì phải biết như vậy (Chính 16/437)
-
- Ghi
Chú (79)
- 1.
Tất cả chỉnh cú đoạn này có thể dịch khác hơn, thí
dụ "Kính lạy chư Như lai, bậc hùng biện nhiệm
mầu" ... Nhưng xét ra không bằng dịch như đã
dịch.
- 2.
Sau đây là một số Phạn văn trong đoạn này: Ô ma: Uma,
Tắc kiến đà: Skanda, Ma na tư: Manasi, Thông minh dạ thiên:
Ratridevata, Phệ sốt nộ thiên: Visnu, Tì ma thiên nữ:
Bhima, Thị số thiên thần: Samkhyayama (?), Thất lị
thiện nữ: Sisumata, Hê lị: Heli, Ha ri để: Hariti.
-
- Ghi
Chú (80)
- Triền:
những sự ràng buộc tâm thức, cái: những sự che đậy
tâm trí.
-
- Ghi
Chú (81)
- Trần
tập: tập khí của phiền não.
-
- Ghi
Chú (82)
- Mãn
tài: Purna - bhadra. Ngũ đỉnh: Pancasikhi.
-
- Ghi
Chú (83)
- Thì
gian thích hợp lẽ ra là sau lúc bình minh.
-
- Ghi
Chú (84)
- Đúng
chính văn là tâm chú - Tâm chú cũng như tâm kinh. Bài
minh chú tinh túy, cốt lõi, thì gọi là tâm chú.
-
- Ghi
Chú (85)
- Là
mỗi tháng âm lịch mà là nửa trước. Đối lại, nửa
sau gọi là tháng trăng tối.
-
- Ghi
Chú (86)
- Coi
lại ghi chú 68 .
-
- Ghi
Chú (87)
- Các
pháp có gì là hiện tượng, các pháp là gì là bản
thể. Tùy hiện tượng mà biết thì gọi là như lượng
trí (cái trí biết hết cái lượng của các pháp). Như
bản thể mà biết thì gọi là như lý trí (cái trí
biết đúng cái thể của các pháp).
-
- Ghi
Chú (88)
- Tra
không ra. Đọc mâu thử cũng chỉ đọc theo bán âm. Và
theo bán âm này mà suy thì mâu thử có thể là một
loại mâu.
-
- Ghi
Chú (89)
- Coi
lại ghi chú 76 .
-
- Ghi
Chú (90)
- Đề
này, đúng chính văn là chư thiên và dược xoa hộ trì.
Nhưng nội dung phẩm này nói tám bộ hộ trì, nhất là
bộ chúng dược xoa. Nên Phạn văn chỉ đề Yaksa.
-
- Ghi
Chú (91)
- Hành
xứ: chỗ đi. Là chỗ Phật biết và Phật làm, gọi là
hành xứ của Phật.
-
- Ghi
Chú (92)
- Sau
đây là Phạn văn những tên trong các bài chỉnh cú
25-41. Hồ vô nhiệt: Anayatapta, Sa yết ra: Sagara, Tô la kim
sí chủ: Asura (metri causa), Phệ sốt nộ: Visnu, Diêm la:
Yama, Na la diên: Narayama, Tự tại: Mahesvara, Chánh liễu
tri: Sanjaya, Kim cương dược xoa: Vajrapani, Bảo vương dược
xoa chủ: Manibhadra, Mãn hiền vương: Purnabhadra, Khoáng dã:
Atavaka, Kim tì la: Kumbira, Tân độ la: Pingala, Hoàng sắc:
Kapila
-
- Ghi
Chú (93)
- Đây
là Phạn văn những tên trong các chỉnh cú 43-46. Thái quân:
Citrasena, Vi vương: Jinaraja, Thường chiến thắng:
Jinarsabha, Châu cảnh: Manikanta, Thanh cảnh: Nilakanta, Bột
lý sa vương: Varsadhipati, Đại tối thắng: Mahagrasa, Đại
hắc: Mahakala, Tô bạt noa kê xá: Suvarnakesin, Bán chi ca:
Pancika, Dương túc: Chagarapada, Đại bà dà: Mahabhaga,
Tiểu cừ: Pranali, Hộ pháp: Dharmapala, Di hầu vương:
Markada, Châm mao: Suciloma, Nhật chi: Suryamitra, Bảo phát:
Ratnakesa, Đại cừ: Mahapranali, Nặc câu la: Nakula, Chiên
đàn: Candana, Dục trung thắng: Kamasresta, Xá la: Nagayasas,
Tuyết sơn: Hemavanta, Sa đa sơn: Satagiri.
-
- Ghi
Chú (94)
- Đây
là Phạn văn của các tên trong chỉnh cú 48. A na bà đáp
đa: Anavatapta, Sa yết ra: Sagara, Mục chân: Mucilinda, EÁ la
diệp: Erapata, Nan đà: Nanda, Nan đà nhỏ: Upananda.
-
- Ghi
Chú (95)
- Phạn
văn các tên trong chỉnh cú 50. Bà trĩ: Vali, La hầu la:
Rahula, Tì ma chất đa la: Vemacitra, Mẫu chỉ chiêm bạt
ra: Samavara, Đại kiên: Khuraskanda,
-
- Ghi
Chú (96)
- Phạn
văn các tên trong chỉnh cú 52 và 53. Ha lị để: Haliti,
Chiên trà: Canda, Chiên trà lị: Candalika, Chiên trĩ nữ:
Candika, Côn đế: Danti, Câu tra xỉ: Kutadanti, Hút tinh
chất chúng sinh: Sarvasattojaharini.
-
- Ghi
Chú (97)
- Thực
phẩm vào dạ dầy thì một mặt thành đại tiểu thải
ra, một mặt thành tự vị nuôi thân. Vị là tư vị
ấy.
-
- Ghi
Chú (98)
- Ngang
đây rõ ràng là thiếu. Mà có thể thiếu không dưới vài
ba câu. Đáng lẽ nói thêm và kết thúc về tướng
chết, mới nói về thuốc. Ở đây nói liền về thuốc
thì không thích đáng. Bản dịch Đàm mô sấm càng không
hơn gì.
-
-
- Ghi
Chú (99)
- 3
trái là ha lê lặc ca, ca ma lặc ca, tỉ tỉ đắc ca. 3
cay là can cương, hồ tiêu, tất bát. (Chính 39/326).
-
- Ghi
Chú (100)
- Chính
văn là câu vật đầu. Có người nói là sen trắng, có
người nói là sen hồng, có người nói chưa nở thì
trắng, nở rồi hồng đậm. Ở đây ý kiến sen trắng
thích hợp hơn.
-
- Ghi
Chú (101)
- Đại
thế chúa (Mahaprajabati) (?)
-
- Ghi
Chú (102)
- Là
5 vị tỷ kheo đầu tiên của Phật.
-
- Ghi
Chú (103)
- Có
3 kinh nói đến, tôi chọn 1: kinh Phạn ma dụ. Kinh ấy nói
8 đặc tính của tiếng Phật là tuyệt diệu, dễ hiểu,
sâu xa, dịu ngọt, không dối, không lầm, tuệ giác, điều
hòa (Chính 39/337).
-
- Ghi
Chú (104)
- Lẽ
ra nên nói trái lại.
-
- Ghi
Chú (105)
- Đẳng
trì: dị danh của định.
-
- Ghi
Chú (106)
- Lược
bớt 1 ví dụ là sóng nắng (chỉ để cho chỉnh chữ).
Ảo tượng, sóng nắng, trăng dưới nước, là biến
thể muôn vàn.
-
- Ghi
Chú (107)
- Chỗ
Phật ở chỗ Phật đi là chân như và tuệ giác chân như.
-
- Ghi
Chú (108)
- Từ
là lời tiếng (gồm cả ngữ văn). Biện là hùng biện.