| ...... ... |
. |
Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim
(Kim quang minh tối thắng vương
kinh)
bản Hoa dịch của ngài Nghĩa tịnh
HT. Thích Trí Quang
dịch giải
---o0o---
Phẩm
24: Chữa Trị Bịnh Khổ
Đức
Thế tôn lại bảo Bồ đề thọ thần, hãy nghe cho kyլ hãy khéo
nghĩ nhớ. Như lai nay nói cho thiện nữ nghe về bản nguyện
của mười ngàn thiên tử.
Thiện
nữ, quá khứ vô số kiếp, bấy giờ có đức Phật đà
xuất hiện thế giới, danh hiệu Bảo kế như lai, đủ mười
đức hiệu. Sau khi đức Như lai ấy nhập niết bàn, giáo pháp
nguyên chất hết rồi, trong giáo pháp tương tự có một
quốc vương tên Thiên tự tại quang, luôn luôn áp dụng chánh
pháp mà hóa cải quốc dân, tựa như cha mẹ đối với con cái.
Trong vương quốc có một trưởng giả tên Trì thủy, hiểu rành
y học, thông suốt tám thuật. Ai bịnh khổ, tứ đại bất
ổn, ông cứu chữa được cả.
Thiện
nữ, Trì thủy trưởng giả có người con trai duy nhất, tên là
Lưu thủy. Người đẹp, nghiêm chỉnh, ai cũng thích nhìn.
Bẩm tính thông minh, quán triệt mọi luận thuyết và
kyՠthuật. Bấy giờ trong vương quốc nhiều người bị bịnh
truyền nhiễm, khổ sở đến nỗi không thích sống nữa.
Thiện nữ, trưởng giả tử Lưu thủy thấy vậy thì sinh đại
bi tâm, nghĩ như vầy. Bao nhiêu là người bịnh khổ! Cha ta rành
y học, khéo tám thuật, chữa được mọi bịnh do tứ đại
hoặc thêm hoặc bớt. Nhưng cha ta già yếu rồi. Đi đâu cũng
phải đỡ, làm sao đến được những nơi làng xóm thành
thị mà chữa bịnh. Thế thì bao người bịnh nặng mà không
ai cứu chữa. Vậy ta hãy đến chỗ cha ta, vị đại lương y,
hỏi bí quyết chữa bịnh. Biết được bí quyết ấy, ta sẽ
đi đến thành thị làng xóm mà cứu chữa cho người, làm cho
họ an lạc. Trưởng giả tử nghĩ rồi tức tốc đến chỗ
cha, lạy ngang chân ông, chắp tay cung kính, đứng qua một bên,
dùng lời chỉnh cú mà thỉnh cầu.
- (1)
Xin cha thương tưởng con.
- Con
muốn cứu mọi người.
- Nay
con hỏi y thuật,
- mong
cha nói cho con.
- (2)
Tại sao thân suy hỏng,
- tứ
đại có thêm bớt?
- Và
ở vào lúc nào
- thì
bịnh tật sinh ra?
- (3)
Ăn uống như thế nào
- để
hưởng được yên vui?
- Làm
sao trong cơ thể
- nhiệt
lực không suy tổn?
- (4)
Bịnh con người có bốn,
- có
bịnh phong, nhiệt, đàm,
- lại
có bịnh hỗn hợp,
- làm
sao trị liệu được?
- (5)
Lúc nào nổi bịnh phong?
- lúc
nào phát bịnh nhiệt?
- lúc
nào động bịnh đàm?
- lúc
nào bịnh hỗn hợp?
Trì thủy trưởng
gia nghe con hỏi rồi, cũng nói lại bằng chỉnh cú.
- (6)
Y theo phép chữa bịnh
- của
tiên nhân đời xưa,
- cha
tuần tự nói cho,
- khéo
nghe để cứu người.
- (7)
Ba tháng là mùa xuân,
- ba
tháng là mùa hè,
- ba
tháng là mùa thu,
- ba
tháng là mùa đông.
- (8)
Ấy là theo một năm
- ba
tháng một mà nói.
- Hai
tháng một một tiết
- một
năm thành sáu tiết:
- (9)
giêng hai là tiết hoa,
- ba
tư là tiết nóng,
- năm
sáu là tiết mưa,
- bảy
tám là tiết thu,
- (10)
chín mười là tiết lạnh
- một
chạp là tiết tuyết.
- Phải
phân biệt như vậy,
- cho
thuốc đừng sai chậy
- (11)
Tùy theo mùa tiết ấy
- mà
điều hòa ăn uống,
- vào
bụng tiêu hóa được,
- mọi
bịnh mới không sinh.
- (12)
Khí hậu nếu thay đổi
- thì
tứ đại biến động,
- bấy
giờ mà không thuốc
- thì
tất sinh bịnh khổ.
- (13)
Thầy thuốc biết bốn mùa,
- lại
biết về sáu tiết,
- biết
bảy phần cơ thể
- thì
cho thuốc không sai.
- (14)
Bảy phần là vị (97) , máu,
- thịt,
mỡ, xương, tủy, não.
- Biết
bịnh nhập bảy phần
- lại
biết chữa được không.
- (15)
Bịnh thì có bốn loại:
- các
loại phong, nhiệt, đàm,
- và
loại bịnh hỗn hợp,
- nên
biết lúc chúng phát:
- (16)
mùa xuân phát bịnh đàm
- mùa
hè phát bịnh phong,
- mùa
thu phát bịnh nhiệt,
- mùa
đông biểnh hỗn hợp.
- (17)
Xuân ăn chất nóng cay,
- hè
béo nóng mặn dấm,
- thu
ăn lạnh ngọt béo,
- đông
ăn chát béo ngọt.
- (18)
Trong bốn mùa như vậy,
- dùng
thuốc và ăn uống
- theo
như mùi vị ấy,
- bịnh
không lý do sinh.
- (19)
Sau ăn bịnh do đàm,
- ăn
tiêu bịnh do nhiệt,
- sau
tiêu bịnh do phong,
- cứ
thế nhận thức bịnh.
- (20)
Nhận thức gốc bịnh rồi,
- tùy
bịnh mà cho thuốc.
- Nếu
bịnh trạng khác đi,
- cũng
chữa cái gốc trước.
- (21)
Phong thì dùng dầu, kem,
- nhiệt
thì lợi đại tiểu,
- đàm
thì hóa, thông, thổ,
- hỗn
hợp thì cả ba.
- (22)
Phong nhiệt đàm cùng có,
- thế
gọi là hỗn hợp.
- Tuy
biết lúc bịnh phát,
- cũng
phải xét gốc bịnh.
- (23)
Xét biết như vậy rồi,
- tùy
lúc mà cho thuốc.
- Ăn,
uống, thuốc, không sai,
- mới
gọi thầy thuốc giỏi.
- (24)
Lại nữa biết tám thuật
- bao
quát mọi cách chữa.
- Nếu
hiểu rõ tám thuật
- hãy
chữa bịnh cho người.
- (25)
Tám thuật là châm chích,
- giải
phẫu, chữa thân bịnh,
- chữa
tâm bịnh, trúng độc,
- khoa
nhi với khoa lão,
- sau
hết là dưỡng sinh,
- [đó,
tám thuật chữa bịnh].
- (26)
Trước xem xét hình sắc,
- nói
năng và tánh tình,
- sau
hỏi đến chiêm bao,
- thì
biết phong nhiệt đàm.
- (27)
Khô ốm đầu ít tóc,
- tâm
tính không ổn định,
- nói
nhiều mộng bay đi,
- đó
là thuộc loại phong.
- (28)
Tuổi trẻ mọc tóc trắng,
- nhiều
mồ hôi, hay giận,
- thông
minh, mộng thấy lửa,
- đó
là thuộc loại nhiệt.
- (29)
Tâm ổn, thân ngay thẳng,
- nghĩ
kyլ đầu nhờn, cáu,
- mộng
thấy nước, vật trắng,
- đó
là thuộc loại đàm.
- (30)
Hỗn hợp thì có chung,
- chung
hai hay chung ba,
- và
hễ loại nào nhiều
- là
tính bịnh hỗn hợp.
- (31)
Biết gốc, đặc tính bịnh,
- chuẩn
bịnh mà cho thuốc.
- Nhưng
thấy không tướng chết
- mới
rõ bịnh cứu được.
- (32)
Giác quan thì thác loạn,
- khinh
khi thầy thuốc giỏi,
- thấy
bạn thân cũng giận,
- đó
là hiện tượng chết.
- (33)
Mắt trái biến màu trắng
- lưỡi
đen, sống mũi lệch,
- vành
tai không như cũ,
- môi
dưới thì xệ xuống (98)
- (34)
Ha lê lặc một thứ
- có
đủ cả sáu vị,
- trừ
được tất cả bịnh,
- là
thuốc vua, không kị.
- (35)
Lại ba trái ba cay (99)
- là
thuốc dễ có được,
- đường
cát, mật ong, sữa,
- cũng
chữa được nhiều bịnh.
- (36)
Ngoài ra, dược liệu khác,
- tùy
bịnh mà thêm vào.
- Nhưng
trước phải từ tâm,
- đừng
mưu tính tài lợi.
- (37)
Cha đã nói những việc
- cần
cho sự chữa bịnh.
- Con
đem ra cứu người
- thì
phước sẽ vô biên.
Thiện
nữ, bấy giờ trưởng giả tử Lưu thủy đích thân hỏi và
nghe cha nói về tám thuật, về tứ đại thêm bớt, về thời
tiết bất đồng, về cách cho thuốc. Hiểu biết rành rẽ
rồi, trưởng giả tử tự xét kyՠmình đủ sức cứu chữa
mọi bịnh. Bèn đi đến thành thị thôn xóm, chỗ nào có
bịnh nhân cũng đến, dịu ngọt an ủi, và rằng tôi là
thầy thuốc, tôi là thầy thuốc, tôi rành thuốc chữa bịnh.
Tôi sẽ chữa cho các người lành mạnh. Thiện nữ, bấy giờ
người ta nghe trưởng giả tử an ủi, hứa chữa bịnh cho, thì
bao nhiêu bịnh nhân trầm trọng nghe lời ấy cũng phấn chấn
thân tâm, vui mừng hiếm có. Do vậy mà bịnh khổ tiêu tan, khí
lực sung mãn, bình phục như cũ. Thiện nữ, bấy giờ lại có
bao nhiêu bịnh nhân trầm trọng mà khó cứu chữa, tức thì
đến chỗ trưởng giả tử xin chữa thêm. Trưởng giả tử
tức thì cho thuốc, bảo dùng, và ai cũng lành cả. Thiện
nữ, cứ như thế, trưởng giả tử Lưu thủy chữa lành cho
bao nhiêu bịnh nhân ở trong vương quốc.
Mục
Lục
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|7
|
8
|
9|
10
|
11|
12|
13|
14|
15|
16|
17|
18|
19|
20|
21|
22|
23
| 24
|
25
|
26
|
27|
28|
29|
30|
31|ghi
chú|
--- o0o ---
| Thư
Mục
Tác
Giả
|
--- o0o ---
Source
: www.buddhismtoday.com
-o0o-
Trình
bày: Nhị
Tường
Cập
nhật:
01-02-2002
|
|