| ...... ... |
. |
Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim
(Kim quang minh tối thắng vương
kinh)
bản Hoa dịch của ngài Nghĩa tịnh
HT. Thích Trí Quang
dịch giải
---o0o---
Phẩm
15: Đại Biện Thiên Nữ
Vào lúc bấy giờ, ở trong đại hội,
Đại biện tài thiên nữ liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ ngang
chân đức Thế tôn mà thưa, bạch đức Thế tôn, có vị pháp sư nào giảng
nói kinh Ánh sáng hoàng kim này thì con sẽ tăng thêm trí tuệ cho vị ấy,
làm cho vị ấy toàn hảo sự hùng biện đầy nghiêm chỉnh và thuyết phục.
Vị pháp sư ấy nếu quên mất văn chữ nào trong kinh Ánh sáng hoàng kim
thì con làm cho nhớ lại, khéo léo mở mắt và thức tỉnh cho người. Con lại
cho vị ấy minh chú để vị ấy được sự tổng trì thông suốt. Lại nữa,
kinh Ánh sáng hoàng kim này được thường xuyên thọ trì bởi những người
đã gieo trồng thiện căn nơi hàng trăm hàng ngàn chư vị Thế tôn, nên quảng
bá trong đại lục Thiểm bộ mà không ẩn mất mau chóng, giúp cho những ai
lắng nghe kinh này thì được sự hùng biện lanh lợi khó nghĩ khó bàn;
được đại trí vô tận, khéo hiểu các loại luận thuyết và kyՠthuật;
được mau thoát sinh tử, đạt đến vô thượng bồ đề; và hiện tại
thì được tăng thêm thọ lượng, đời sống đầy đủ. Bạch đức Thế
tôn, con sẽ nói cho vị pháp sư thọ trì quảng bá kinh này, và những ai
ưa thích lắng nghe kinh này, về cách tắm rửa nước thuốc, để những
người ấy nếu có tai biến sao dữ, nếu lúc mới sinh có sự xung khắc với
ngôi sao sở thuộc, nếu có cái khổ của những bịnh truyền nhiễm, của
chiến tranh, của ác mộng, ác thần, sâu cổ, quỉ mị, ác chú, quỉ khởi
thi, có những điều dữ như vậy làm chướng nạn thì được loại trừ cả.
Cách ấy là những người có trí hãy tắm rửa như thế này. Hãy dùng ba mươi
hai loại hương dược (67) sau đây, cân lượng bằng nhau:
- (1) xương bồ,
- (2) ngưu hoàng,
- (3) mục túc hương,
- (4) xạ hương,
- (5) hùng hoàng,
- (6) hợp hôn thọ,
- (7) bạch cập,
- (8) khung cùng,
- (9) câu kỷ căn,
- (10) tùng chi,
- (11) quế bì,
- (12) hương phụ tử,
- (13) trầm hương,
- (14) chiên đàn,
- (15) linh lăng hương,
- (16) đinh tử,
- (17) uất kim,
- (18) bà luật cao,
- (19) vi hương,
- (20) trúc hoàng,
- (21) tế đậu khấu,
- (22) cam tùng,
- (23) hoắc hương,
- (24) mao căn hương,
- (25) sất chi,
- (26) ngải nạp,
- (27) an tức hương,
- (28) giới tử,
- (29) mã cân,
- (30) long hoa tu,
- (31) bạch giao,
- (32) thanh mộc
Lấy ngày sao Bố sái (68) mà giã,
rây lấy bột, và chú nguyện bằng một trăm lẻ tám biến minh chú này:
Tát da tha, su kri ti, kri ti, kri ti, ka ma ta lê, jăn ka ra ti, u ka ra ti, in dra ja
li ni, sát a ran tê, va cha chi lê, a ban ti, ka si kê na, ku đu, ku đu, kha ka vi lê,
ka pi lê, ka pi lê, ka pi la ma ti, si la ma ti, săn đi đu ra ma ti, pa ba, ka, bam
chi lê, Si rê, Si lê, sa ti dát thi tê, soa ha. (Tadyatha sukrti krti krti kamatale
jankarati ukarati indrajanili sakarante vacacile abanti kasikena kudu kudu khakavile
kapile kapile kapilamati silamati sandhiduramati paba ka bhamcile Sire Sile satyasthite
svaha).
- (1) Khi muốn đúng cách
- tắm rửa theo phép,
- thì làm đàn tràng
- vuông tám khuỷu tay,
- nơi chỗ tĩnh lặng
- và phải yên ổn,
- tại đó chú tâm
- vào điều nguyện cầu.
- (2) Đàn ấy phải dùng
- ngưu phấn (69) tráng nền,
- phía trên rải khắp
- bông hoa nhiều màu.
- Rồi dùng khí mãnh
- bạc vàng tinh khiết
- đựng đầy mĩ vị
- hay sữa hoặc mật.
- (3) Bốn phía đàn tràng
- hay là bốn cửa,
- hãy đặt bốn người
- giữ gìn đúng phép.
- Nhờ bốn đồng tử (70)
- phục sức trang nghiêm,
- mỗi người một góc
- tay bưng bình nước.
- (4) Thế rồi thường xuyên
- đốt an tức hương,
- và nhạc ngũ âm (71)
- không hề ngớt tiếng
- Phan lọng nghiêm chỉnh,
- lại treo lụa màu,
- trang hoàng bốn phía
- của đàn tràng ấy.
- (5) Ở trong đàn tràng
- thì đặt gương sáng,
- dao sắc kèm tên
- mỗi loại bốn cái.
- Chính giữa đàn tràng
- vùi cái bồn lớn,
- với ván xoi lỗ
- đặt ở phía trên.
- (6) Đem bột hương dược
- hòa với nước nóng,
- và cũng đặt để
- ở trong đàn tràng.
- Thiết trí như vậy
- xong xuôi cả rồi,
- sau đó tụng chú
- kiết giới đàn tràng.
Minh chú kiết giới đàn tràng như
vầy: Tát da tha, ăn ra kê, na da nê, hi lê, mi lê, gi lê, ki ki lê, soa ha
(Tadyatha anrake nayane hile mile gile kikite svaha).
- (7) Kiết giới như vậy
- cho đàn tràng rồi,
- sau đó mới vào
- nơi trong đàn tràng,
- chú nguyện nước [bình]
- hai mươi mốt biến,
- rồi rưới khắp cả
- bốn phía đàn ấy.
- (8) Kế đó chú nguyện
- nước nóng hương dược
- cho đủ số lượng
- một trăm tám biến,
- rồi bốn phía đàn
- dùng màn mà che,
- và rồi tắm rửa
- cho cả thân thể.
Minh chú chú nguyện cho nước [bình]
và nước nóng hương dược như vầy: Tát da tha, su ga ti, vi ga ti, vi ga cha,
va đê, soa ha. (Tadyatha sugati vigati vigaca vade svaha).
Tắm rửa rồi, nước nóng tắm rửa
ấy [đã chảy xuống bồn lớn], và những cúng phẩm hiến cúng trong đàn
tràng, đều đem bỏ trong sông trong hồ. Ngoài ra thì thu dọn lại. Tắm rửa
rồi mới mặc đồ sạch. Khi ra đàn tràng mà vào tịnh thất, thì vị thầy
chú nguyện phải dạy cho người ấy cách phát đại nguyện nhắm vào sự
diệt ác tu thiện, vào sự phát đại bi tâm đối với chúng sinh. Chính do
yếu tố phát đại nguyện này mà được bao phước báo tùy tâm. Đại biện
tài thiên nữ lại nói chỉnh cú sau đây.
- (9) Những người khổ sở
- vì các thứ bịnh,
- điều trị đủ cách
- mà không lành được,
- thì hãy tắm rửa
- đúng cách như trên,
- cọng thêm đọc tụng
- bản kinh vua này.
- (10) Ngày đêm ý niệm
- không hề tán loạn,
- chuyên tâm thiết tha
- và rất tin tưởng,
- thì bao bịnh hoạn
- được tiêu tan cả,
- lại hết nghèo khó
- có đủ tài sản.
- (11) Tinh tú bốn hướng
- cùng với nhật nguyệt
- thần lực hộ vệ
- cho được nhiều tuổi,
- cát tường yên ổn
- phước đức tăng thêm,
- tai biến ách nạn
- đều loại trừ cả.
Sau khi [phát đại nguyện], hãy tụng
minh chú hộ trì thân thể sau đây, hai mươi mốt biến: Tát da tha, săm mê,
vi săm mê, soa ha; su ga tê, vi ga tê, soa ha. Vi ga ta, va ti, soa ha; Sà ga ra săm
bút đa da, soa ha; si kăn đa, ma ta da, soa ha; ni la kăn ta da, soa ha; a pa ra ji
ta, via da da, soa ha; hi ma van ta da, soa ha; a ni mi la vát ta da, soa ha; nam mô, ba
ga va tê, Brắt, ma ni, soa ha; nam mô, Sa rát va ti, ma ha, đev dê, soa ha; sít dăn
tu, măm, măn tra pa đa, soa ha; đa ra ta, va chi tô, Brắt ma nu, ma nô ra, soa ha.
(Tadyatha samme visamme svaha; sugate vigate svaha. Vigata vati svaha; Sagarasambudhaya
svaha; skanda mataya svaha; nilakantaya svaha; aparajita viryaya svaha; himavantaya svaha;
animilavaktaya svaha; namo bhagavate Brah mani svaha; namo Sarasvati maha devye svaha;
siddyantu mam mantrapada svaha ; dharata vacito Brahmanu manora svaha).
Đại biện tài thiên nữ nói về
cách tắm, về đàn tràng, và về minh chú rồi, bước tới lạy ngang chân
đức Thế tôn mà thưa, bạch đức Thế tôn, trong bốn bộ đệ tử đức
Thế tôn có ai thọ trì đọc tụng sao chép lưu hành bản kinh vua nhiệm mầu
này và tu hành đúng như kinh dạy, thì ở thành thị, thôn xóm, đồng nội,
núi rừng, trú xứ tăng ni, bất cứ ở đâu con cũng vì họ mà đem tùy thuộc,
tấu thiên nhạc, cùng đến chỗ ấy mà hộ vệ, loại trừ bịnh khổ, sao
sa, quái tượng, truyền nhiễm, chinh chiến, tù đày, ác mộng, ác thần, cổ
đạo, thuật ếm, những chướng nạn như vậy đều bị trấn áp mà ích lợi
cho người trì kinh. Chúng con lại giúp cho bốn đệ tử đức Thế tôn, và
những người lắng nghe kinh này, ai cũng mau chóng vượt qua biển cả sinh tử,
không còn thoái chuyển vô thượng bồ đề.
Bấy giờ đức Thế tôn nghe Đại
biện tài thiên nữ trình bày như vậy thì khen rằng, lành thay thiên nữ,
thiên nữ có thể lợi ích cho bao nhiêu chúng sinh, bằng cách nói về minh
chú, về nước thơm và đàn tràng như vậy. Phước báo của thiên nữ thật
khó nghĩ thấu. Thiên nữ nên hộ trì bản kinh vua tối thượng, đừng để
mai một mà được lưu hành mãi. Đại biện tài thiên nữ, lúc ấy, lạy
ngang chân đức Thế tôn rồi trở về chỗ cũ.
Bấy giờ vị Bà la môn họ Kiều
trần như, tên Pháp sư thọ ký, vâng theo uy lực của đức Thế tôn, đứng
trước đại hội mà tán dương Đại biện tài thiên nữ.
- (12) Biện tài thiên nữ
- thông minh tinh tiến,
- người trời hiến cúng
- đáng nên tiếp nhận,
- danh vang thế giới
- tràn khắp mọi nơi,
- ban cho ước nguyện
- của bao chúng sinh.
- (13) Trên đỉnh núi cao
- nơi rất siêu việt,
- lợp tranh làm phòng
- mà ở trong đó,
- bện những cỏ mềm
- mà làm áo mặc,
- bất cứ ở đâu
- thường kiễng một chân.
- (14) Vậy mà chư thiên
- thường đến tụ tập
- cùng nhau một lòng
- tán dương thỉnh cầu.
- Kính xin thiên nữ
- bậc đại hùng biện,
- hãy cho mọi người
- lời tiếng vi diệu.
Đại biện tài thiên nữ liền chấp
nhận thỉnh cầu mà tuyên thuyết minh chú sau đây: Tát da tha, mi ri, chi ô
rê, a va tê, a va jê va ti, hin gu lê, min gu lê, pin ga lê va ti, ăn khu sa, ma ri
chi dê, sặm ma ti, vi sặm ma ti, a gra ti, mắc khi dê, ta ra chi, ta ra chi va ti,
chia si, chi ri, si ri mi ri, ma nan đi, đa ma khê, ma ri chi dê, pra na pa ri dê,
lô ka ji dết tha, lô ka, si nết thi, lô ka via dê, sít đa, pa ra tê, bi ma mu
khi, su chi cha ri, a pra ti ha tê, a pra ti ha ta bút đi, na mút chi, na mu chi, ma
ha đếp dê, pra ti, gra ha, na mát ka ra, ma ma, bút đi, đa sa hi, bút đi, a pra
ti ha ta, ba va tu, si ra ha mê, vi sút đa, chi tô, sát tra si lô ka, măn tra, pi
ta ka, ka pi da đi sô, tát da tha, ma ha pra ba va, hi li, mi li, vi cha ra tu, vi bút
đi, ma ma, bút đi, sút đi, ba ga vát ti dê, đê vê dăm, Sa rát va tim, ka ra
ti, kê du ra ma ti, hi ri, mi ri, hi ri, mi ri, a ba da, mê, ma ha đê vi, bút đa, sát
dê na, đa ma, sát dê na, săn ga, sát dê na, In dra, sát dê na, Va ru na, sát dê
na, dê lô ki dê sát da, sát dê na, tê săm, sát dê na, sát da va cha ni da, a ba
da, mê, ma ha đê vi, hi li, mi li, hi li, mi li, vi cha ra tu, ma ma, bút đi, nô,
nam mô, ba ga va ti, ma ha đê vê, Sa rát va ti da, sít đi dăn tu, măn tra, pa
đa, mê, soa ha. (Tadyatha miri cyore avate avajevati hingule mingule pingalevati ankhusa
maricye sammati visammati agrati makhye taraci taracivati cirsi ciri sirimiri manandhi
damakhe maricye pranaparye lokajyestha loka snesthi lokavirye siddha parate bhimamukhi
sucicari apratihate apratihatabuddhi namuci namuci mahadevye prati graha namaskara mama
buddhi darsahi buddhi apratihata bhavatu sirahame visuddha cito sastrasloka mantra pitaka
kapiyadiso tadyatha mahaprabhava hili mili vicaratu vibuddhi mama buddhi suddhi bhagavatye
deveyam Sarasvatim karati keyuramati hiri miri hiri miri abhaya me mahadevi buddha satyena
dharma satyena sangha satyena Indra satyena Varuna satyena yelokyesatya satyena tesam
satyena satyavacaniya abhaya me mahadevi hili mili hili mili vicaratu mama buddhi no namo
bhagavati mahadeve Sarasvatya siddhiyantu mantra pada me svaha).
Đại biện tài thiên nữ tuyên thuyết
minh chú như vậy rồi, nói với Bà la môn, rằng lành thay đại nhân, ông
có thể vì những người cầu sự hùng biện nhiệm mầu, cầu châu ngọc,
cầu thần thông trí tuệ, để lợi ích tất cả và mau chứng bồ đề, thì
nên biết cách thức thọ trì minh chú nói trên. Đại biện tài thiên nữ tức
thì nói những lời chỉnh cú sau đây.
- (15) Trì minh chú này
- trước phải thuộc lòng
- sao cho thuần thục
- không sai không sót.
- Kế đó qui kính
- Tam bảo chư thiên,
- cầu xin da trì
- ước nguyện tùy tâm.
- (16) Kính lạy Phật bảo
- cùng với Pháp bảo
- Tăng bảo Bồ tát
- Độc giác Thanh văn,
- kế lạy Phạn vương
- cùng với Đế thích
- bốn vị Thiên vương
- hộ vệ thế giới.
- (17) Đối với những vị
- thường tu phạn hạnh,
- thì hết lòng thành
- thiết tha kính lạy.
- Hãy ở lan nhã
- yên tĩnh yên ổn
- mà tụng lớn tiếng
- minh chú nói trên.
- (18) Trước tượng Thế tôn
- và trước thiên long,
- tùy mình có gì
- thì đem hiến cúng.
- Đối với hết thảy
- bao loại chúng sinh
- tâm hãy nổi dậy
- từ bi thương cảm.
- (19) Thế tôn tướng tốt
- thân màu vàng tía,
- tập trung tâm tưởng
- vào tướng tốt ấy.
- Thế tôn da trì
- tuyên thuyết giáo pháp
- cho người thích hợp
- tu tập thiền định.
- (20) Khéo nghĩ chữ nghĩa
- của giáo pháp ấy,
- lại theo nghĩa Không
- tu tập chính xác.
- Hãy ngồi ở trước
- hình tượng Thế tôn
- nhất tâm chánh niệm
- về giáo pháp Ngài.
- (21) Thế thì thực hiện
- Diệu trí tam muội,
- lại còn thực hiện
- tổng trì tối thắng.
- Miệng vàng Thế tôn
- tuyên thuyết giáo pháp,
- tiếng mầu thuần hóa
- chư thiên nhân loại.
- (22) Tướng lưỡi tùy cơ
- biểu hiện hiếm có
- rộng dài bao trùm
- đại thiên thế giới ;
- tiếng mầu lưỡi ấy
- của đức Thế tôn
- chí thành nhớ lấy
- lòng không nghi ngại.
- (23) Thế tôn do sự
- phát nguyện rộng lớn,
- nên được tướng lưỡi
- bất khả tư nghị,
- tuyên thuyết các pháp
- toàn là phi hữu,
- tựa như không gian
- không có vướng mắc.
- (24) Â thanh, trường thiệt
- của đức Thế tôn,
- tư duy hai tướng
- thì thỏa nguyện cầu.
- Thấy ai hiến cúng
- Đại biện thiên nữ,
- hoặc thấy đệ tử
- theo lời thầy dạy,
- (25) truyền cho mật pháp
- bảo nên tu học,
- trân trọng thiết tha
- nguyện gì cũng thành.
- Muốn thực hiện được
- trí giác tối thượng,
- thì phải nhất tâm
- trì mật pháp ấy.
- (26) Tăng trưởng tư lương
- phước đức trí tuệ,
- quyết định thành tựu
- đừng có nghi hoặc;
- cầu mong tài sản
- được lắm tài sản,
- cầu mong danh vọng
- được danh vọng tốt.
- (27) Cầu nguyện giải thoát
- thì được giải thoát,
- quyết định thành tựu
- đừng có nghi hoặc.
- Thành tựu công đức
- vô lượng vô biên,
- toàn đúng ước nguyện
- nội tâm người cầu.
- (28) Nếu có khả năng
- y thế tu hành
- thì được thành tựu
- đừng có nghi hoặc.
- (29) Nên chọn chỗ sạch
- và mặc đồ sạch,
- mà làm đàn tràng
- lớn nhỏ tùy ý.
- Dùng bốn bình sạch
- mà đựng mĩ vị,
- cùng với hương hoa
- hiến cúng tùy lúc.
- (30) Giăng treo lụa màu
- tràng phan bảo cái,
- bôi rải khắp cả
- bằng bột hương liệu,
- hiến cúng Thế tôn
- và Biện tài thiên,
- cầu thấy thiên thân
- cũng được toại nguyện.
- (31) Hai mươi mốt ngày
- tụng minh chú trên,
- bằng cách đối trước
- tượng Biện tài thiên.
- Nếu chưa thấy được
- thân Biện tài thiên,
- thì nên dụng tâm
- thêm chín ngày nữa.
- (32) Mà nửa đêm sau
- vẫn chưa thấy được,
- thì nên tìm chỗ
- thanh tịnh đẹp hơn,
- rồi vẽ đúng cách
- tượng Biện tài thiên,
- hiến cúng trì tụng
- chứ không xả bỏ.
- (33) Cả ngày liền đêm
- không hề biếng nhác,
- sẽ được vô cùng
- tự lợi lợi tha.
- Đem kết quả ấy
- hồi hướng chúng sinh,
- thì cầu nguyện gì
- cũng thành tựu cả.
- (34) Nếu chưa toại ý
- thì phải ba tháng,
- sáu tháng chín tháng
- cho đến một năm,
- thiết tha thỉnh cầu
- lòng không dao động,
- thì được thiên nhãn
- được tha tâm thông.
Bà la môn Kiều trần như nghe Đại
biện tài thiên nữ nói như vậy thì hoan hỷ, phấn chấn, khen chưa từng có.
Ông thưa đại hội mà nói như vầy, tất cả đại hội nhân loại chư thiên
nên biết và nghe cho, tôi lại muốn theo phép thế đế mà tán dương Đại
biện tài thiên nữ. Ông liền nói những chỉnh cú sau đây.
- (35) Kính lạy Thiên nữ
- bậc đại dũng mãnh
- và đại tự tại
- trong thế giới này;
- nay tôi tán dương
- bậc tôn cao ấy,
- với lời tựa như
- lời tiên nhân xưa.
- (36) Cát tường hoàn thiện
- tâm trí thanh thoát,
- thông minh tàm quí
- có danh tiếng lớn.
- Là bậc mẹ sinh
- của cả thế giới,
- dũng mãnh thường hành
- sự đại tinh tiến.
- (37) Ở trong quân trận
- chiến đấu thường thắng,
- giáo dục thuần hóa
- từ bi nhẫn nhục.
- Hiện làm chị cả
- của Diêm la vương,
- mà thường mặc áo
- kén tằm hoang xanh.
- (38) Dung nhan khi đẹp
- khi thì xấu xí,
- xấu thì mắt nhìn
- đã làm khiếp sợ.
- Nhiều việc đặc thù
- vượt trên thế giới,
- những ai tin tưởng
- thì thu nhận cả.
- (39) Hoặc ở hang núi
- chỗ sâu và hiểm,
- hoặc ở hầm sâu
- hay ở bên sông,
- hoặc ở đại thụ
- hay ở lùm cây,
- Thiên nữ phần nhiều
- cư trú như vậy.
- (40) Giả sử những người
- rừng núi hoang dã,
- mà thường hiến cúng
- đối với Thiên nữ,
- lấy những lông công
- mà làm phan cờ,
- thì cũng thường được
- Thiên nữ hộ trì.
- (41) Sư tử cọp beo
- thường thường vây quanh,
- bò dê gà trĩ
- cũng thường nương tựa.
- Rung cái linh lớn
- âm thanh phát ra,
- chúng núi Tân đà
- cũng nghe âm vang.
- (42) Hoặc cầm cái kích,
- đầu tóc búi tròn,
- và tay thường cầm
- tinh kỳ nhật nguyệt.
- Ngày chín, mười một
- của tháng trăng tối (72)
- lúc ấy thì nên
- hiến cúng Thiên nữ.
- (43) Hiện làm em gái
- Bà tô đại thiên,
- thấy có chiến tranh
- lòng đầy thương xót.
- Quan sát tất cả
- bao loại chúng sinh,
- thấy không có ai
- hơn được Thiên nữ.
- (44) Lại hiện nữ nhân
- Mục ngưu hoan hỷ,
- chiến với chư thiên
- thường thường đắc thắng.
- Có thể sống lâu
- ở trong cuộc đời,
- khi thì hòa nhẫn
- khi thì bạo ác.
- (45) Bốn loại minh luận
- của Bà la môn,
- trong có biến hóa,
- đều tinh thông cả.
- Là tự tại nhất
- trong chúng thiên tiên,
- tạo ra hạt giống
- cùng với đất đai.
- (46) Khi các thiên nữ
- tụ tập với nhau,
- Thiên nữ ứng đến
- y như thủy triều (73) .
- Với các bộ loại
- long thần dược xoa,
- thì làm cầm đầu
- thuần hóa được cả.
- (47) Phạn hạnh Thiên nữ
- hơn mọi nữ nhân.
- Nói thật, y như
- chúa tể thế giới.
- Trong giới vua chúa
- thì như hoa sen.
- Sông mê bến khổ
- thì làm cầu, thuyền.
- (48) Khuôn mặt thì giống
- mặt trăng tròn đầy.
- Đa văn toàn hảo
- là nơi nương tựa.
- Hùng biện nổi bật
- in như núi cao.
- Ai tưởng niệm đến
- thì làm cồn, bãi (74) .
- (49) Bộ loại tu la
- cùng với chư thiên,
- ai cũng tán dương
- công đức Thiên nữ.
- Ngay như Đế thích
- với cả ngàn mắt,
- cũng nhìn với lòng
- kính trọng nồng hậu.
- (50) Chúng sinh nếu có
- mong cầu những gì,
- thì làm cho họ
- thành đạt mau chóng.
- Giúp kẻ hùng biện
- toàn hảo nghe nhớ.
- Là kẻ hơn hết
- giữ cho địa cầu.
- (51) Ở trong thế giới
- khắp cả mười phương,
- làm ánh đèn lớn
- chiếu soi thường xuyên.
- Cho đến quỉ thần
- cùng với cầm thú
- cũng toại nguyện cho
- những gì chúng cầu.
- (52) Trong mọi nữ nhân,
- như đỉnh núi cao.
- Sống lâu ở đời
- như tiên nhân xưa.
- Thường xuyên ly dục
- như Thiếu nữ thiên.
- Lời nói chân thành
- như Đại thế chúa.
- (53) Nhìn khắp thế giới
- chủng loại khác nhau,
- cho đến chư thiên
- của cả Dục giới,
- chỉ thấy Thiên nữ
- đáng xưng tôn quí,
- không thấy có ai
- hơn được Thiên nữ.
- (54) Những ai kinh hoàng
- ở trong chiến trận,
- những ai sa vào
- ở trong hố lửa,
- sông ngòi hiểm nạn
- và gặp đạo tặc,
- thì được làm cho
- hết cả sợ hãi.
- (55) Ai bị phép vua
- bắt bớ cùm kẹp,
- ai bị oán thù
- muốn giết muốn hại,
- mà nhớ Thiên nữ
- lòng không dao động,
- quyết định thoát được
- mọi nỗi lo sợ.
- (56) Người hiền kẻ dữ
- đều giúp đỡ cả,
- ý niệm từ bi
- thường ở trước mắt.
- Thế nên nay tôi
- đem lòng chân thành
- kính lạy ngưỡng vọng
- Đại biện thiên nữ.
Bà la môn, lúc ấy, lại chú tán
(75) Đại biện tài thiên nữ như sau:
- (57) Tôi kính lạy bậc
- tôn quí trong đời,
- là mẹ hơn hết
- tất cả bà mẹ.
- Ba loại thế giới (76)
- đều hiến cúng cả.
- Mặt và dáng dấp
- ai cũng thích nhìn.
- (58) Diệu đức đa dạng
- trang sức thân thể.
- Mắt như cánh sen
- xanh mà lớn dài.
- Ánh sáng phước trí
- nổi tiếng khắp nơi,
- tựa như ngọc quí
- như ý vô giá.
- (59) Tôi nay ca tụng
- một bậc siêu việt,
- bậc làm thành tựu
- cho sự mong cầu,
- bậc diệu cát tường
- chân thật công đức,
- bậc như hoa sen
- rất ư thanh khiết.
- (60) Thân sắc uy nghiêm
- ai cũng thích nhìn.
- Tướng tốt hiếm có
- không thể nghĩ bàn.
- Phóng ra ánh sáng
- trí tuệ trong sạch.
- Ý niệm hơn hết
- trong mọi ý niệm.
- (61) Ví như sư tử
- nhất trong loài thú,
- thường có tám tay
- tự trang hoàng mình:
- cầm cung, cầm tên
- cầm đao, giáo, búa,
- chày, bánh xe sắt,
- cùng với dây buộc.
- (62) Đẹp đẽ thích nhìn
- tựa như trăng tròn.
- Nói năng thông suốt
- mà lại hòa nhã.
- Những ai trong lòng
- cầu nguyện những gì,
- bậc Thiện sĩ này
- tùy niệm thỏa mãn.
- (63) Đế thích, chư thiên
- đều kính trọng cả,
- đều cùng tán dương
- là nơi nương tựa.
- Công đức xuất sinh
- thật khó nghĩ bàn,
- trong mọi thì gian
- tôi khởi cung kính
- Soa ha (svaha) (77) .
- (64) Ai muốn cầu đảo
- Đại biện thiên nữ,
- hãy y lời chữ
- bài chú tán này,
- hôm sớm tinh khiết
|