Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Kinh Điển Phật Giáo


...... ... .


NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO 2004

KINH SỰ TÍCH THIỆN-HỮU-ÁC-HỮU 

Hòa Thượng Huệ Đăng chứng minh

Cư sĩ  Đỗ Phước Tâm  tự Minh Chánh  diễn nghĩa

Tỳ kheo THÍCH ĐỒNG BỔN hiệu đính và giới thiệu

--- o0o ---

 
Lời Giới Thiệu

 

Quyển kinh Sự tích Thiện Hữu Ác Hữu diễn nghĩa này, tôi tìm thấy trong bộ tạp chí Bác Nhã Âm, được đăng nhiều kỳ vào khoảng năm 1934 đến 1940, do Thiên Thai Thiền Giáo Tông Liên Hữu Hội ấn hành. Hội Phật học này do Hòa Thượng Huệ Đăng làm chứng minh, cư sĩ Minh Chánh – Đỗ Phước Tâm làm chủ bút, chính ông là tác giả của các bản kinh diễn nghĩa về báo hiếu đã được sử dụng rộng rãi đến nay, được kính ghi Hòa Thượng Huệ Đăng như là tác giả gồm: Kinh Vu Lan Bồn, Kinh Báo Đáp Công Ơn Cha Mẹ, và nay là bản kinh này.

Ông là một cư sĩ có trình độ Phật học và thế học uyên thâm, các tác phẩm của ông đều do Tổ Huệ Đăng chứng nghĩa và cho phép phổ biến. Việc sưu tầm tác phẩm Kinh tạng này nằm trong chương trình Tục Tạng Phật Giáo Việt Nam mà Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam đang tiến hành, nhờ đó tôi thêm phần chú thích và hiệu đính lại, giới thiệu đến mọi người phổ biến tụng đọc, lợi ích trong mùa Vu Lan Báo Hiếu.

Xin hồi hướng công đức lên mười phương Tam bảo chứng minh, cầu cho hương linh tác giả, tứ sanh phụ mẫu, hết thảy mọi người tụng đọc quyển kinh này và pháp giới hữu tình đồng ân triêm lợi lạc.

Xá Lợi, mùa Vu Lan PL.2549

Tỳ kheo Thích Đồng Bổn


 

 

NGHI THỨC TỤNG

KINH SỰ TÍCH THIỆN HỮU ÁC HỮU

(Thắp 3 cây hương, quỳ ngay thẳng, cầm hương ngay trán niệm lớn bài Cúng Hương)

 

CÚNG HƯƠNG

Nguyện đem lòng thành kính

Gởi theo đám mây hương

Phưởng phất khắp mười phương

Cúng dường ngôi Tam bảo

Thề trọn đời giữ đạo

Theo tự tánh làm lành

Cùng pháp giới chúng sanh

Cầu Phật từ gia hộ :

Tâm Bồ đề kiên cố

Xa bể khổ nguồn mê

Chóng quay về bờ giác.

 

(Xá rồi đọc tiếp bài Kỳ Nguyện)

 

KỲ NGUYỆN

Nay chính là ngày chư Tăng xuất hạ, đem đức lành chú nguyện chúng sanh, chúng con một dạ kính thành, cúng dường trì tụng đem công đức này, nguyện khắp mười phương ba ngôi Tam bảo, đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, đức Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, cùng các vị Bồ tát, tịnh đức chúng Tăng, từ bi gia hộ, cho Cửu Huyền Thất Tổ, cha mẹ nhiều đời của đệ tử, cùng tất cả chúng sanh sớm rõ đường lành, thoát vòng mê muội, ra khỏi u đồ, siêu sanh Lạc quốc. Ngưỡng mong oai đức vô cùng, xót thương tiếp độ.

 

NAM MÔ THẬP PHƯƠNG THƯỜNG TRỤ TAM BẢO.(3 lần)

(Đứng dậy cắm hương và đọc bài kệ Tán Phật)

 

TÁN THÁN PHẬT 

Đấng Pháp Vương vô thượng

Ba cõi chẳng ai bằng

Thầy dạy khắp trời người

Cha lành chung bốn loại

Quy y tròn một niệm

Dứt sạch nghiệp ba kỳ

Xưng dương cùng tán thán

Ức kiếp không cùng tận.

 

QUÁN TƯỞNG 

Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng

Đạo cảm không thể nghĩ bàn

Lưới đế châu thông không thể nghĩ bàn

Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời

Trước bảo tọa thân con ảnh hiện

Cúi đầu xin thệ nguyện Quy y.
 

 

ĐẢNH LỄ

- Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tận hư không biến pháp giới, quá, hiện, vị lai Thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trú Tam bảo.       (1 lạy)

- Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo chủ Điều ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương lai Hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát.(1 lạy)

- Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 lạy)

(Đứng hay ngồi tụng tùy ý)
 

 

TÁN LƯ HƯƠNG

 

Kim lư vừa bén chiên đàn

Khắp xông Pháp giới đạo tràng mười phương

Hiện thành mây báu kiết tường

Chư Phật rõ biết ngọn hương chí thiền

Pháp thân toàn thể hiện tiền              

Chứng minh hương nguyện phước liền ban cho.

 

NAM MÔ HƯƠNG VÂN CÁI BỒ TÁT.(3 lần)

  

CHÚ ĐẠI BI

NAM MÔ ĐẠI BI HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT.(3 lần)

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni.

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da,Nam mô a rị da bà lô kiết đế thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ số đát na dát tỏa.

Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà dũ nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà đạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lợi thắng yết ra dạ, ta bà ha.

Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàn ra dạ ta bà ha.

Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ ta bà ha.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.(3 lần)
 

 

KHAI KINH KỆ 

Phật pháp cao siêu rất nhiệm mầu,

Trăm ngàn ức kiếp khó tìm cầu

Con nay nghe đặng chuyên trì niệm

Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.

 

NAM MÔ ĐẠI HIẾU MỤC KIỀN LIÊN BỒ TÁT.(3 lần) 
 

 

KINH ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHẬT BÁO ÂN

QUYỂN ĐỆ TỨ – PHẨM ĐỆ LỤC

SỰ TÍCH THIỆN HỮU - ÁC HỮU

 

Một thuở nọ, Thế-Tôn đang tọa,

Đại chúng đồng lễ bái cúng dường,

Một lòng tôn trọng tán dương,

Như-Lai từ-mẫn khắp thương muôn loài.

 

Khi ấy vậy Như-Lai quan sát,

Thấy chúng tâm khải phát thiện căn,(1)

Vui lòng hiện xuất kim nhan,

Chím cười phóng xuất hào quang sáng trời.

Hào quang ấy khắp soi mười cảnh,

Trên thấu trời hữu đảnh thiên cung,

Dưới soi mười tám ngục môn,

Là nơi địa-ngục giam cầm Đạt-Đa.

Đương thọ khổ kêu la thảm thiết,

Bị hành hình chi xiết than van,

Hào quang chiếu đến thân chàng,

Tự nhiên thân-thể nhẹ nhàng thảnh-thơi. (2)

Trong đại chúng ai ai cũng thấy,

Sự từ-bi, bác ái Phật đà,

Khen rằng : “hi hữu thậm đa,

Thế-Tôn thương đến Đề-Bà Đạt-Đa.

Ấy là kẻ tâm xà khẩu Phật,

Thường lập mưu sát hại Thế-Tôn,

Vậy mà Phật chẳng cưu hờn,

Lại còn chiếu Đại-bi-quang giải nàn”.

Phật mới bảo bốn ban pháp lữ :

“Nghe ta phân mọi sự vẹn tuyền,

Vốn ta với gã tiền duyên,

Kiếp nào gã cũng liền liền gặp ta.

Hoặc đời này, hoặc là tiền kiếp,

Gã vẫn thường húng hiếp ghét ghen,

Làm ta khổ sở lắm phen,

Song ta nhẫn nhịn, không phiền hà chi.

Giữ một lòng từ bi hỉ xả,

Nên đặng mau kết quả thâu công,

Nay ta thành Phật chí tôn,

Là nhờ có gã giúp công một phần”.

Nghe Phật nói, A Nan, Thánh chúng,

Đều có lòng viễn vọng hoài nghi,

Chẳng hay gã làm việc gì,

Đời trước hãm hại Như Lai thế nào?

Bèn cầu Phật nói trao cho biết, (3)

Những nghiệp duyên ác nghiệt của chàng, (4) 

 

Thế Tôn mới bảo A Nan,

Các ngươi yên lặng, ta phân cho tường.

Đời quá khứ vô lường kiếp trước,

Nhằm Tỳ Bà-Thi Phật thời kỳ,

Ra đời giáo hóa sanh-linh,

Đặng mười ngàn tuổi mới lên Niết bàn.

Chánh pháp tồn mười hai ngàn tuổi,

Kế tiếp theo tượng pháp khởi ra,

Nước Ba-La-Nại đương thời,

Quốc-vương danh hiệu Ma-Ha La-Xà.

Rất thông minh, thuần hòa, hỉ-xả,

Ân trạch ban khắp cả hoàn cầu,

Trị vì mười tám chư hầu,

Tám trăm tụ lạc, đâu đâu an nhàn.

Vua đã có năm trăm năm bạch tượng,

Cùng hai muôn mỹ-mạo cung nhơn,

Nhưng mà rất muộn chưa con,

Vậy nên vua mới khẩn cầu khắp nơi.

Hoặc non núi chỗ nào linh thính,

Hoặc sông ao, kẻ kính người vì,

Hoặc là thọ mộc, thần kỳ,

Cùng là chùa miễu, bất kỳ gần xa.

Mười hai năm thiết tha cầu khẩn,

Vợ nhất, nhì, kiết tử nhâm thần,

Quốc vương hết sức ân cần,

Miếng ăn chỗ ngủ đích thân chỉ bày.

Mười tháng qua mau như nháy mắt,

Đến thời kỳ nhụy nở hoa khai,

Cả hai sanh đặng con trai,

Vua mừng chi xiết, lệnh khai tiệc mừng.

Lại ân xá các hàng tù phạm,

Xuất của kho chẩn cấp bần nhơn,

Tiệc xong vua bảo quan quân,

Mời thầy xem tướng an danh nhị hoàng.

Thầy tướng hỏi khi sanh hoàng tử,

Có điềm gì lành dữ hay chăng?

Vua bèn đáp lại lời rằng :

“Mẹ hoàng tử nhất trước hằng kiêu căng.

Tánh tự cao, nói năng tự đại,

Lòng bạo tàn, hủy hoại mọi người,

Từ ngày kiết tử đến giờ, (5)

Tánh tình đổi hẳn, nhơn từ khiêm cung.

Thường trợ ban kẻ cùng người cực,

Hay xót thương bênh vực các loài”,

Thầy rằng : “do đức thai nhi,

Hiền từ phước huệ, đổi xoay tánh bà.

Vậy nên đặt cho Hoàng đệ nhất,

Thiện Hữu danh, đúng với điềm lành”,

Thầy hỏi những sự hiện thành,

Trước khi sanh đặng ông hoàng thứ hai. 

Vua lại bảo : “việc này khác hẳn,

Bấy lâu nay thứ hậu thẳng ngay,

Từ ngày kiết tử đến rày,

Sanh ra tật đố, thường ngày sân si”.

Thầy tướng nói : “cũng vì nghiệp cảm,

Ác thai nhi nên phạm lỗi nghì,

Vậy đặt Hoàng tử thứ nhì,

Tên là Ác Hữu cũng vì điềm hung”.

Thời thấm thoát hết đông xuân chí,

Mười bốn năm nghĩ lại rất mau,

Thiện Hữu trí tuệ cao sâu,

Tài năng xuất chúng làu làu đài gương.

Lòng thuận thảo kính vâng cha mẹ,

Dạ nhân từ thương kẻ nghèo nàn,

Vậy nên cha mẹ hân hoan,

Tưng tiu như ngọc như vàng, quí thay!

Còn Ác Hữu tánh hay hung dữ,

Lòng bạo tàn làm sự trái ngang,

Phạm điều ác đức bất nhơn,

Vậy nên cha mẹ lòng buồn chẳng thương.

Thấy như vầy gã thường tật đố,

Ganh ghét anh tốt số hơn mình,

Việc chi một chút bất bình,

Thời hắn hỗn ẩu, sân si chẳng nhường.

Song Thiện Hữu xem dường vô sự,

Cứ khoan hòa, dung thứ đệ thân,

Một hôm hội hiệp quần thần,

Cùng là bạn lữ ngoại thành dạo chơi.

Ngài xem thấy nhiều người vất vả,

Xuất mồ hôi ướt cả thân người,

Lại thêm quần áo tả tơi,

Cày sâu cuốc bẫm tại nơi ruộng vườn.

Mỗi đường cày, dế trùn, sâu bọ,

Bị lật nhào, kiếm chỗ ẩn thân,

Chim chóc bay xuống mổ ăn,

Hoàng tử xem thấy bâng khuâng trong lòng.

Ngài mới hỏi tùy tùng cho biết,

Họ làm gì rất mệt nhọc thay!

Các quan thị vệ tâu bày,

Ấy là nông nghiệp, cấy cày ruộng nương.

Phàm có nước có dân đông đúc,

Phải gieo trồng ngũ cốc nuôi thân,

Lúc sau vào đến xóm làng,

Thấy người dệt cửi nuôi tằm ươm tơ.

Đồng hăng hái không ai ngơi nghỉ,

Coi mỗi người phấn chí siêng năng,

Thái tử bèn hỏi các quan,

Làm gì mà họ nhọc nhằn thế ni?

Thưa : “kẻ ấy chuyên nghề tơ lụa,

Dùng để may quần áo che thân”, (6)

 

Khi ngài vào đến thị thành,

Thấy điều hung dữ, sát sanh thú cầm.

Người vác búa đập bầm súc vật,

Kẻ cầm dao, cắt chặt phân thây,

Khác chi quỉ sứ Diêm đài,

Hành hình những kẻ bị đày Âm cung.

Hoàng tử thấy hãi hùng kinh sợ,

Hỏi các quan : “bọn nọ người gì,

Nhẫn tâm tàn hại sanh linh,

Tội chi mà họ hành hình bò heo”?

Thị vệ tấu : “ấy theo phong tục,

Chúng sát sanh lục súc đổi tiền,

Làm rồi đem bán chợ phiên,

Lấy lời dùng để dành riêng gia đình”.

Nghe phân tỏ bất bình khủng bố,

Chẳng khác chi sét nổ bên tai,

Than rằng : “thật khổ cho đời,

Giết nhau đặng lấy đồng lời nuôi thân”.

Bỏ thị thành lại sang đồng cả,

Thấy những người lưới cá, rập chim,

Hỏi ra cũng bởi nuôi thân,

Miễn cho no ấm không cần quả nhơn.

Thương cho đời yếu thua, mạnh được,

Có thế quyền lấn lướt kẻ cô,

Kể chi sanh tử luân hồi,

Oan oan tương báo đời đời vấn vương.

Vì xác thân, dầm thương phản mại, (7)

Cực khổ nhiều, còn hại lẫn nhau,

Hỡi ai có kế nhiệm mầu,

Cứu dân độ thế, đâu đâu an nhàn.

Khi dứt lời, truyền quân hồi bước,

Chán cuộc đời buồn bực lo âu,

Khi về đến chốn cung tâu,

Phụ hoàng xem thấy âu sầu hỏi han :

“Bởi cớ chi bàng hoàng thân thể,

Xem dường như thất chí chẳng an” ?

Thái tử tâu lại rõ ràng,

Những điều trông thấy khi ngài nhàn du.

Vua bèn phán : “vì còn thơ ấu,

Nên con chưa rõ thấu mọi đàng,

Ấy là thường sự thế gian,

Cổ kim như thế, lo toan làm gì” ?

Đã có lòng từ bi cứu khổ,

Thái tử liền khải tấu phụ vương :

“Con xem dân chúng thê lương,

Vì ăn vì mặc lầm than vô cùng.

Làm cực khổ chân bùn, tay lấm,

Mà trọn đời không thấm vào đâu,

Nhiều người chẳng kể trước sau,

Làm điều thất đức, hại nhau vì tiền.

Miễn ăn no không kiêng nhân quả,

Dầu phải mang nghiệp cả cũng cam,

Vì dân khổ sở nghèo nàn,

Ý con muốn xuất bạc vàng trong kho.

Chẩn cấp cho người nghèo đa thiểu,

Đặng đỡ cơn thốn thiếu đương thời,

Cúi xin vương - phụ nhậm lời,

Thì con mới đặng thảnh thơi trong lòng”.

Vua cha cũng tâm đồng ý hiệp,

Muốn cho con thừa dịp thi ân,

Truyên quan thủ khố ân cần,

Xuất ra châu ngọc, bạc vàng, lụa tơ.

Lại phụ thêm đồ ăn thức uống,

Cùng thuốc thang không sót món chi,

Năm trăm voi mạnh chở chuyên,

Tứ môn đều mở lệnh truyền nhơn dân :

“Nếu trong nước ai cần của thí,

Cứ tự nhiên đến lãnh về dùng”,

Tiếng đồn Thái tử khắp cùng,

Tứ phương tề tựu trùng trùng như ong.

Không mấy chốc trong kho đã hết,

Hai phần ba dành để từ lâu,

Thủ kho thấy vậy lo âu.

Bèn vào trào nội vọng tâu Cửu-trùng.

Vua mới phán : “chiều lòng Thái tử,

Ngươi không nên sanh sự cản ngăn”.

Bá quan hay chuyện lo toan,

Nếu như hữu sự kho tàng trống trơn.

Làm sao đặng chống ngăn giặc dữ,

Lấy chi mà gìn giữ giang san ?

Bàn xong vào tấu Thánh hoàng,

Của kho gần hết, liệu toan như hà ?

Vua cũng phán : “ấy là nguyện ước,

Của Hoàng-nhi lấy phước độ dân,

Ta không trái ý Tử hoàng,

Các quan thư thả ta bàn định sau”.

Hoàng-tử dạy mở kho sau hết,

Song vắng người chức việc coi kho,

Sai người tầm kiếm hồi lâu,

Cũng vô hiệu quả, buồn rầu sanh nghi.

“Hoặc Vương-phụ nhơn vì công ích,

Muốn để dành chút ít phòng hờ,

Làm con không lẽ lẫn lơ,

Phá cho tan nát cơ đồ mẹ cha ?

Vả người đói hằng hà sa số,

Của kho tàng có đủ vào đâu,

Muốn đặng châu cấp dài lâu,

Phải tìm phương thế nhập thâu nhiều tiền”.

Nghĩ như vậy, ngài liền hội hiệp,

Các đại thần bàn định việc nầy,

Cách nào sanh lợi sanh tài,

Đủ dùng bố thí mỗi người rảnh rang.

Ông thì tin mở mang điền thổ,

Ông khác bàn nuôi thú vật hơn,

Một ông nói lợi nhơn gian,

Thì không có đủ chẩn ban khắp cùng.

Sao cho bằng tầm châu hải ngoại,

Cùng bạc vàng mới toại chí nguyền,

Nghe đồn Long-vương hiện tiền,

Có ngọc như-ý, vẹn tuyền quí cao.

Viên ngọc ấy muốn sao được vậy,

Như được rồi cả thảy ấm no,

Hoàng-tử đắc chí hết lo,

Chắc rằng có thế giúp cho mỗi người.

Bèn cần kiếp vào nơi cung-nội,

Cùng mẹ cha tỏ lại đuôi đầu:

“Xin cho nhập hải tìm châu,

Đặng rồi con sẽ phản hồi cố bang.

Vua nghe nói nghẹn ngang bất tỉnh,

Một giây lâu mới định tâm thần,

Than rằng : “Con chớ tự khinh,

Của cha trong nước mặc tình con xây.

Dẫu còn thiếu, cha đây biện dụng,

Cho đủ đầy con cũng mãn nguyền,

Cần chi tham muốn nhiều tiền,

Bỏ nhà bỏ nước xuống miền Long-cung.

Vả lại con thường dùng vật-quí,

Ăn uống thì hải vị sơn-trân,

Kẻ hầu người hạ chí thân,

Muốn chi đặng nấy, muôn phần thung-dung.

Nếu con đi muôn trùng nguy-hiểm,

Như biển to, nước xoáy, sóng dồi,

Nào là quỉ dữ hại người.

Nào cá Ma-Kiệt, nhận chìm thuyền ghe.

Sự hiểm trở không chi kể hết,

Đi muôn người về, chỉ một hai,

Nhứt sanh vạn tử như vầy,

Làm sao con nỡ đọa đầy thân con ?

Không thể nào cha cho con phép,

Lìa quê nhà tìm chết tha phương,

Khá nên nghĩ lại tận tường,

Con đi nỡ để cha thương mẹ buồn”.

Nghe cha phán tâm hồn Thái tử,

Như dại ngây, té ngửa dưới thềm,

Thưa rằng: “chẳng thể ngồi yên,

Mà xem những cảnh sanh linh nghèo nàn.

Thà con chết chẳng than chẳng tiếc,

Còn hơn là sống thấy chúng dân,

Lâm cơn nghèo đói gian nan,

Dầu cho con sống, ăn vàng không ngon.

Nếu cha mẹ vì con thương tiếc,

Chẳng cho đi, con quyết quyên sinh,

Nằm đây tới chết cũng đành,

Con không ngồi dậy, chí thành nguyện ra”.

Cha mẹ thấy xót xa sợ hãi,

Đồng vội vàng chạy lại đỡ nâng,

Cầm tay Thái tử than rằng :

Con nên ngồi dậy uống ăn như thường.

Con sao nỡ chẳng thương cha mẹ,

Làm phiền lòng không kể dưỡng sanh” ?

Hoàng tử tỏ thiệt song thân :

“Nếu không đi được, bỏ ăn qua đời.

Vì không nỡ thấy người cực khổ,

Mà vô phương tế độ khỏi nguy”

Dù con có sống ích gì,

“Khác chi những kẻ bạch y trong đời”.

Khuyên hết cách chẳng dời tâm-ý,

Một, hai, ba cho đến sáu ngày,

Không ăn, không uống như vầy,

Cha mẹ lo sợ bảy ngày chết oan.

Hết sức dỗ, song ngài chí quyết,

Bỏ uống ăn cho chết thân nầy,

Bữa sau là đúng bảy ngày,

Nếu ngài cự tuyệt, chắc rày mạng vong.

Hoàng-hậu mới vọng tâu Thiên-tử:

“Xem ý con khó nỗi chuyển lay,

Nếu ta quyết chẳng cho đi,

Ắt con phải chết tại đây bây giờ.

Ta nỡ nào làm lơ như vậy,

Tốt hơn là tử biệt sanh ly,

Nhược bằng dằn chí cho đi,

May nhờ hồng phước, còn khi trở về”.

Vua nghe gián, không còn nê chấp,

Phải chiều lòng cho nhập hải dương,

Thái-tử nghe vậy rất mừng,

Vội vàng ngồi dậy, lại gần mẹ cha.

Trước đành lễ xin tha tội trọng,

Sau tỏ lòng hoài vọng viên dung,

Tiếng đồn phút chốc khắp cùng,

Trong trào, ngoài quận, thảy đồng hân hoan.

Nghe Thái-tử chịu ăn, chịu uống,

Thì hết lo oan-uổng thân ngài,

Chúng sanh hưởng phước còn dai,

Vì ngài còn sống, họa tai không còn.

Vua mới hỏi: “sao con quyết chí,

“Vào hải dương có ý chi không” ?

Thưa rằng : “con xuống Long cung,

Cần cầu Như-Ý bửu châu đem về.

Viên ngọc ấy, muốn chi được nấy,

Mới đủ dùng chẩn-tế sanh-linh.

Vua liền bố-cáo khắp nơi,

Nhơn dân trong nước, ai ai đặng tường:

“Người nào muốn xuất dương đại hải,

Cùng Tử hoàng thì phải đăng tên,

Bảy đời con cháu hiện tiền,

Đều đặng châu cấp lương tiền phủ phê”.

Năm trăm người chuyên nghề hàng-hải,

Rất vui lòng hiệp lại xin đi,

Trong nước có ông Hải-sư,

Nhiều lần đi biển, chẳng từ gần xa.

Nên ông biết đâu là hiểm trở,

Hoặc chỗ nào thong thả vào ra,

Song ông nay lại rất già,

Tuổi trên tám chục, mắt lòa lãng tai.

Đích thân vua đến nhà ngài trụ,

Nói rằng: “ta có một Tử-hoàng,

Tánh nết đã đặng vẹn toàn,

Sau nhờ lấy trẻ, trị an chư hầu.

Song trẻ muốn tầm châu hải ngoại,

Phiền Đạo-sư hết dạ phò-trì”,

Hải-sư nghe nói tức thì,

Hai hàng rơi lụy, phục quỳ tâu qua :

“Đường cam khổ gian nan chi xiết,

Sự  hiểm nguy chẳng biết dường nào,

Muôn người nhập hải tầm châu,

Thảy đều bỏ mạng, có đâu đặng về !

Trừ vài người đủ đầy phước  đức,

Hoặc thánh thần phụ lực thành công,

Sao vua không xét đục trong,

Mà cho Thái-tử vào vòng hiểm nguy”?

Vua liền phán : “cũng vì thương trẻ,

Nên mới đành chia rẽ tình thâm,

Trẫm đã hết sức cản ngăn,

Mà con tự quyết băng ngàn tầm châu.

Trẫm cảm phiền Sư-ông gìn giữ,

Và phò trì Hoàng-tử xuất dương”

Hải-sư vội vã phân tường :

“Xin đem thân mọn, đảm đương vụ này”.

Ác-Hữu thấy anh mình nhơn-đức,

Cha mẹ yêu căm tức trong lòng,

Nay còn nhập hải tầm châu,

May mà thành việc báu mầu vinh quang.

Chắc cha mẹ lại càng trọng thể,

Thì thân mình còn kể ra chi;

Tốt hơn mình cũng xin đi,

Tùy cơ hãm hại trong khi hành trình.

Bên vội-vã vào xin cha mẹ:

“Cho con theo hộ vệ trưởng huynh,

Hoặc khi hữu sự thình lình,

Anh em con sẽ đồng tình giải nguy.”

Song thân xét gã tuy ngỗ nghịch,

Nhưng lời xin quả thiệt đoan trang,

Vui lòng cho hắn nhập đoàn,

Lại còn căn-dặn, bảo toàn nghĩa –nhân.

Khi sắp đặt sẵn sàng hành-lý,

Hoàng-tử cùng hộ-vệ ra đi,

Đến gần bờ biển an-dinh,

Đại-thuyền chờ sẵn bảy dây neo bờ.

Hoàng-tử dạy đánh ba hồi trống,

Tựu mọi người cổ động như vầy :