Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Kinh Điển Phật Giáo


 . .

 

 

Kinh Bách Dụ
Biên soạn: Tôn giả Tăng Già Tư Na
Hán dịch:Tôn giả Cầu Na Tỳ Địa (Gunavaddhi)
Việt dịch: TK Thích Tâm Khanh


Giới thiệu

 

Trong số các kinh thí dụ trong Đại Tạng kinh Hán văn, phổ cập đến Phật tử hơn cả là kinh Bách Dụ.

Kinh này do vị Tôn giả Ấn Độ là Ngài Tăng Già Tư Nai soạn vào thế kỷ thứ V, sau đó đệ tử của Ngài là Tôn giả Cầu Na Tì Địa dịch ra Hán văn vào năm Vĩnh Minh thứ 10 (492 CN) đời Tề Vũ đế thời Nam Bắc triều (Trung Quốc). Vì kinh sưu tập 100 chuyện thí dụ (nay còn 98 chuyện) có liên quan đến thiện ác, tội phước, báo ứng mà thành, dùng hình thức ngụ ngôn để thuyết minh giáo nghĩa của đạo Phật, nên lấy tên là Bách Dụ. Trong kinh này, chỉ một số ít chuyện nói về tín đồ ngoại đạo, chúng xuất gia, quốc vương; đại bộ phận còn lại lấy hạng bình dân làm đối tượng. Mặt khác, một số chuyện ngụ ngôn lại dùng cả loài vật như chó, khỉ, bồ câu làm nhân vật. Sau mỗi thí dụ đều có phần luận giải ngắn gọn.

“Thí dụ”, gọi tắt là “dụ”, là cách dùng những chuyện có thật hoặc ngụ ngôn để thuyết minh nhằm mục đích giúp người ta dễ hiểu nội dung ý nghĩa của giáo thuyết. Có thể nói tất cả thí dụ trong kinh Bách Dụ đều lấy những chuyện kẻ ngốc làm đề tài. Cái ngốc này chính là cái màn vô minh do tham sân si gây ra, khiến người ta sanh tâm điên đảo, vọng tưởng vọng động, không còn biết lẽ phải, không nhìn thấy lẽ thật.

Những thí dụ trong kinh này, ngắn nhất chỉ 3, 4 dòng (như thí dụ Con khỉ, thí dụ Vì nguyệt thực đánh choù, thí dụ Nắm đậu của chú khỉ), dài nhất 3 trang rưỡi (thí dụ Năm trăm viên thuốc bổ), còn thường thì dài từ 5, 7 dòng đến khoảng 1 trang. Đó là những chuyện vui, giản dị mà chất liệu là những sự việc lấy từ cuộc đời thường, dùng để chở chánh pháp. Tuy nhiên, nếu không có phần luận giải, thì người đọc khó có thể hiểu đúng giáo thuyết của mỗi thí dụ.

Đúng như lời kệ cuối kinh của Tôn giả Tăng Già Tư Na, những thí dụ này là “tiếu văn hòa chánh pháp”, là thứ thuốc thánh bất tử bọc trong lá. Người tu học một khi đã thể giải ý nghĩa tàng ẩn bên trong các thí dụ, tức đã uống thuốc thánh bất tử, thì tiếu văn chỉ còn là những mảnh lá:

Như thánh dược bất tử

Phải lấy lá bọc ngoài

Dùng thuốc trong trừ bệnh

Lá bọc cần thải hồi.

Bản Việt dịch kinh Bách Dụ của Thầy Thích Tâm Khanh thật lưu loát, sáng nghĩa và trung thành với bản Hán dịch của Ngài Cầu Na Tì Địa, rất cần thiết cho sự tu học của người Phật.

Xin trân trọng giới thiệu dịch phẩm đầu tay rất công phu, rất giá trị này của Thầy Thích Tâm Khanh với quý vị Tăng, Ni sinh các trường sơ cấp và trung cấp Phật học cùng quý vị đạo hữu.

                                                                                                      Tháng Trọng Thu năm Canh Thìn (2000)

                                                                                                      NGUYỄN KHUÊ

 

 

 

LỜI NGƯỜI DỊCH

 

 Từ lâu kinh Bách Dụ đã là bộ kinh rất quen thuộc với người Phật tử Việt Nam. Có thể nói đây là bộ kinh có thể loại văn học Phật giáo rất đặc thù. Bằng thể văn ngụ ngôn, sinh động, súc tích ẩn tàng các giá trị triết lý giáo dục nhân sinh, kinh Bách Dụ đã sớm được chuyển dịch sang Việt ngữ và được người Phật tử đón nhận như một bộ kinh phổ thông.

Nguyên tác kinh Bách Dụ do Tôn giả Tăng Già Tư Na (Sanghasena) tuyển soạn 98 câu truyện thí dụ từ kinh điển do chính kim ngôn đức Thích Tôn tuyên thuyết. Năm thứ 10 niên hiệu Vĩnh Minh (493 TL), bộ kinh được tôn giả Cầu Na Tỳ Địa (Gunavaddhi), người xứ Trung Ấn chuyển dịch sang Hán ngữ và bản này được xếp vào Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển thứ IV với ký số No 209, từ trang 543 đến trang 557 (Đại 1/Đỗ tượng 4/543). Trong bản Hán ngữ, bộ kinh được chia thành 4 quyển, phần đầu mỗi quyển đều có mục lục của số kinh trong quyển.

- Quyển thứ I gồm 21 bài kinh thí dụ từ thí dụ “Người ngu ăn muối” đến thí dụ “Người phụ nữ cầu con”.

- Quyển thứ II gồm 20 bài kinh thí dụ từ thí dụ “Ra biển tìm trầm” đến thí dụ “Quỉ Tỳ-xá-xà”.

- Quyển thứ III gồm 25 bài kinh thí dụ từ thí dụ “Con lạc đà của nhà buôn bị chết”đến thí dụ “Năm trăm viên thuốc bổ”.

- Quyển thứ IV gồm 33 bài kinh thí dụ từ thí dụ “Mồm lẩm bẩm cách lái thuyền, tay không biết lái” đến thí dụ “Đưá trẻ được rùa”.

98 thí dụ trong phần Chánh văn hợp với hai thí dụ “Thuốc hay hòa vị đường ngọt” và “Thánh dược bất tử gói trong lá bọc” trong bài kệ cuối quyển của Tôn giả Tăng Già Tư Na tự soạn là 100 thí dụ. Trong bản Việt dịch, để thuận tiện cho độc giả, chúng tôi đã cấu trúc bộ kinh theo cách trình bày của người Việt, đưa tất cả mục lục đầu 4 quyển vào phần cuối quyển kinh này. Tuy nhiên, sự thay đổi này không làm ảnh hưởng đến nội dung xuyên suốt của bộ kinh. Kính mong quí độc giả liễu tri.

Tại Việt Nam, kinh Bách Dụ đã sớm được chuyển dịch sang Việt ngữ khá sớm từ những năm cuối của thập niên 60. Trong xu thế nghiên cứu Phật học phát triển hiện nay, càng có nhiều tư liệu nghiên cứu về bộ kinh. Để hoàn thành bản Việt dịch này, chúng tôi đã tham khảo bản Việt dịch vào năm 1958 của dịch giả T.N.Như Huyền (Thành hội Phật giáo TP.Hồ Chí Minh ấn hành PL. 2538-1994). Đặc biệt chúng tôi cũng đã tham khảo đối chiếu với ấn bản song ngữ Hoa –Anh Phật Kinh Cố Sự Nhất Bách Thiên của học giả Trương Sàng Niên ( Nxb. Trung Quốc Đối ngoại Phiên dịch ấn hành năm 1995). Theo lời giới thiệu của ngài Tịnh Huệ trong bản tư liệu này, tác phẩm trên đã được học giả Trương Sàng Niên dịch sang Anh ngữ từ nguyên bản Hoa ngữ Si Hoa Man (癡花鬘- Chi hua man) của ngài Vương Phẩm Thanh (王品青-WangPingqing) , ngài Lổ Tấn viết lời tựa. Rất tiếc trong bản song ngữ này lại không có phần giáo luận (phần in nghiêng trong bản Việt dịch này). Do vậy, chúng tôi đã phải nỗ lực rất nhiều trong bản dịch ở phần này. Tuy nhiên không thể phủ nhận tính giá trị của dịch phẩm song ngữ này. Đây là tư liệu giúp chúng tôi rất nhiều trong việc tường giải các thuật ngữ mà bản Việt dịch của T.N.Như Huyền đã không đề cập đến. Chẳng hạn từ 癡花鬘 trong câu “Tôn giả Tăng Già Tư Na tạo tác Si Hoa Man cánh“(尊者僧伽斯那造作癡花鬘竟), câu cuối cùng trong bản Hán. Chính nhờ bản tư liệu Phật Kinh Cố Sự Nhất Bách Thiên, chúng tôi mới hiểu ra ẩn nghĩa của từ ấy. : Si, chỉ cho sự vô minh, mê mờ và 花鬘: Hoa Man là vòng hoa biểu trưng cho ánh sáng trí tuệ. Do vậy, từ này nhằm trỏ cho kinh Bách Dụ và nêu lên tôn chỉ của bộ kinh: đem ánh sáng trí tuệ quét tan màn si ám của những ý thức vô minh trong quá trình tu tập của người Phật tử. Có thể chính vì lí do này, ngài Vương Phẩm Thanh đã lấy đó làm tựa cho tác phẩm của mình.

Chúng tôi vẫn biết phiên dịch kinh điển là một công tác trọng đại, vô cùng khó khăn. Do vậy, trong quá trình phiên dịch chúng tôi đã cố gắng hết sức trung thành với nguyên bản Hán ngữ trong Đại Tạng. Tuy vậy, đôi khi phải áp dụng biện pháp tu từ, đảo cú để câu văn sáng nghĩa nhất. Việc làm này chỉ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho độc giả trong khi đọc một bộ kinh bằng tiếng Việt.

Để người Phật tử Việt Nam có thêm một tư liệu tham khảo trong khi tu học, chúng tôi không ngại kiến văn thô thiển nỗ lực hoàn thành dịch phẩm. Nếu có chỗ thiếu sót, chúng tôi xin trân trọng đón nhận sự chỉ dạy và góp ý của chư tôn đức và quí độc giả.

                                                                                                                  Mùa An cư kiết hạ PL. 2544 – 2000

                                                                                                                  Tỳ kheo THÍCH TÂM KHANH

 

 

 

 

PHẦN DUYÊN KHỞI (*)

 

T ôi nghe như thế này. Một thuở nọ Đức Phật đang trú trong thành Vương Xá, tại vườn Thước Phong Trúc cùng với các đại Tỳ-kheo, Bồ tát Ma-ha-tát và tám bộ chúng ba vạn sáu ngàn người câu hội.

Bấy giờ, có 500 vị Phạm chí dị học ở trong chúng hội từ chỗ ngồi đồng đứng dậy bạch Phật rằng:

- Bạch Ngài, tôi nghe Phật đạo sâu xa, không đạo nào có thể sánh bằng cho nên đến đây thưa hỏi, xin Ngài giảng cho tôi.

Đức Phật đáp:

- Rất hay!

Vị Phạm chí hỏi:

- Con người có hiện hữu hay không?

Đức Phật đáp:

- Có hiện hữu mà cũng không hiện hữu.

Vị Phạm chí hỏi tiếp:

- Như hiện nay có sao lại nói là không? Nếu như nay không có sao lại nói là có?

Đức Phật trả lời:

- Có sanh nên gọi là có, có chết nên nói là không. Vì vậy ta nói là có hiện hữu mà cũng không hiện hữu.

Lại hỏi:

- Con người từ đâu sanh?

Đức Phật đáp:

- Người từ ngũ cốc sanh.

Lại hỏi:

- Ngũ cốc từ đâu sanh?

Đức Phật đáp:

- Ngũ cốc từ tứ đại: đất, nước, gió, lửa sanh ra.

Lại hỏi:

- Bốn đại: đất, nước, gió, lửa từ đâu sanh?

Đức Phật dạy:

- Bốn đại: đất, nước, gió, lửa từ “Không” mà sanh.

Lại hỏi:

- “Không” từ đâu mà sanh?

Đức Phật đáp:

- Từ vô sở hữu sanh.

Lại hỏi:

- Vô sở hữu từ đâu sanh?

Đức Phật đáp:

- Từ tự nhiên sanh.

Lại hỏi:

- Tự nhiên từ đâu sanh?

Đức Phật đáp:

- Từ Nê-hoàn sanh.

Vị Phạm chí liền hỏi:

- Nê-hoàn từ đâu sanh?

Đức Phật dạy:

- Những điều ngươi hỏi hôm nay muốn tìm hiểu sâu đến mức nào nữa? Nê-hoàn là pháp không sanh không diệt.

Vị Phạm chí hỏi:

- Bạch Đức Phật, Ngài đã nhập Nê-hoàn chưa?

Đức Phật đáp:

- Ta chưa nhập Nê-hoàn.

Vị Phạm chí hỏi:

- Nếu chưa nhập Nê-hoàn, sao Ngài biết được Nê-hoàn là an lạc vĩnh viễn?

Đức Phật nói:

- Nay ta hỏi ngươi: Chúng sanh trong thiên hạ là khổ hay vui?

Vị Phạm chí thưa:

- Chúng sanh rất khổ.

Đức Phật hỏi:

- Thế nào gọi là khổ?

Phạm chí thưa:

- Tôi thấy chúng sanh khi chết đau khổ khó lòng chịu nổi cho nên biết chết là khổ.

Đức Phật liền dạy:

- Nay ngươi chưa chết mà cũng biết chết là khổ. Ta thấy mười phương chư Phật không sanh, không chết cho nên biết Nê-hoàn là an lạc vĩnh viễn.

Khi đó, tâm ý 500 vị Phạm chí đều thông suốt, xin thọ năm giới, chứng quả Tu-đà-hoàn, trở lại chỗ ngồi như cũ.

Đức Phật dạy:

- Các ông lắng nghe cho kỹ. Nay ta sẽ vì các ông rộng nói các thí dụ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(*) Bài kinh này trong bản Hán ngữ được xếp vào cuối 21 bài kinh thí dụ của quyển thứ nhất. Theo chú thích cuối trang 546 (bản Hán), chúng tôi đưa lên đầu sách như Phần Duyên Khởi của bộ kinh.

PHẦN CHÁNH VĂN

1-  NGƯỜI NGU ĂN MUỐI

Thuở xưa có một chàng ngốc đến nhà bạn chơi. Người chủ đãi tiệc. Anh ta ăn không vừa miệng, chê không ngon. Người chủ nghe thế bèn bỏ thêm muối vào. Người ngu ăn cảm thấy ngon nên tự nghĩ: “Ngon như vậy là do muối, ít muối mà còn ngon như vậy huống chi dùng nhiều”. Chàng ngốc kia liền lấy muối ăn không, tưởng rằng ăn vào rất ngon nhưng trái lại vì thế mà mang bệnh.

Ví như ngoại đạo nghe rằng: “Giảm bớt ăn uống có thể đạt đạo”. Liền nhịn đói suốt bảy ngày hoặc mười lăm ngày, tự hành hạ mình mà không biết việc nhịn đói không lợi ích gì cho việc tu tập. Cũng giống như người ngu kia cho rằng muối ăn ngon nên lấy muối ăn không cho sướng miệng chẳng khác gì.

 

2-  NGƯỜI NGU ĐỂ DÀNH SỮA BÒ

Thuở xưa có một người ngu sắp có bữa tiệc mời rất đông khách, nên muốn để dành sữa bò cho đủ để đãi khách, bèn nghĩ: “Nay nếu ta mỗi ngày vắt sữa bò cất giữ thì lâu ngày sữa sẽ không ngon hoặc có thể bị hư. Chi bằng ta cứ để sữa chứa đầy trong bụng bò, đợi đến ngày đãi tiệc sẽ vắt lấy ra một thể”. Nghĩ thế rồi, ông bắt bò mẹ đem nhốt riêng biệt. Một tháng sau, đến ngày đãi tiệc, ông mời khách an tọa rồi dắt bò ra để vắt sữa đãi khách, nhưng sữa của con bò kia đã khô cạn. Bấy giờ, quan khách mọi người vừa bực bội vừa tức cười.

Cũng như người muốn tu hạnh bố thí mà cho là: “Đợi đến lúc tôi có tài sản thật nhiều rồi mới bố thí”. Thế nhưng chưa kịp gom góp xong đã bị các nạn lũ lụt, hỏa hoạn, trộm cướp hoặc bị vua quan chiếm đoạt, hoặc bị vô thường lôi kéo chết đi không kịp bố thí. Giống như việc để dành sữa bò đãi khách của người ngu kia vậy.

 

3-  DÙNG GẬY ĐÁNH VỠ ĐẦU

Xưa kia có một chàng ngốc đầu không mọc tóc. Bấy giờ có một kẻ hai, ba lần dùng gậy đánh lên đầu y, lần nào cũng bị thương, nhưng chàng ngốc ta mặc nhiên chịu đòn không biết tránh đi. Người hàng xóm thấy thế hỏi:

- Sao anh không tránh đi mà đưa đầu ra hứng đến nỗi vỡ cả đầu như thế?

Chàng ngốc đáp:

- Hạng người như kẻ kia chỉ biết kiêu ngạo, ỷ mình có sức mạnh mà không có trí tuệ, thấy đầu ta không có tóc ngỡ là hòn đá nên dùng gậy đánh vỡ đầu ta đấy chứ.

Người hàng xóm nói:

- Ông tự bản thân ngu si mà không biết lại cho người kia là ngu. Nếu ông không ngu thì tại sao lại để cho hắn đánh đến vỡ đầu mà không biết tránh.

Các vị Tỳ-kheo cũng vậy. Không biết vâng giữ đầy đủ giới đức, trau dồi trí tuệ, chỉ lo chăm sóc hình tướng, điệu bộ bên ngoài để thâu lợi dưỡng cũng như chàng ngốc kia bị người ta đánh lên đầu không biết tránh đến nỗi phải bị thương tích mà còn nói rằng: “Hắn thật là ngu”. Những Tỳ-kheo này cũng thế.

 

4-  NGƯỜI VỢ GIẢ CHẾT

Xưa kia có chàng ngu cưới được người vợ rất đẹp nên rất yêu thương nàng. Nhưng người vợ không chung tình. Sau một thời gian vợ chồng chung sống, lòng tà dâm trỗi dậy, nàng muốn bỏ chồng trốn theo người tình. Cô ta bí mật bảo một bà lão:

- Sau khi tôi đi khỏi, bà hãy tìm một thi hài phụ nữ đem đặt trong nhà tôi, rồi bảo với chồng tôi là tôi đã chết.

Bà lão đợi khi người chồng ra khỏi nhà liền đem một xác chết phụ nữ vào nhà anh ta. Người chồng vừa trở về, bà ta liền nói: “Vợ anh chết rồi!”. Người chồng xem qua thi hài liền tin ngay là vợ mình nên làm đám tang, khóc lóc thảm thiết, lấy củi dựng giàn hỏa táng thi hài, cất giữ tro xương bên mình đêm ngày thương nhớ.

Sau một thời gian, người vợ bị người tình nhàm chán, phụ bạc, liền quay về nhà thưa với chồng:

- Tôi chính là vợ chàng.

Chàng ngốc liền trả lời:

- Vợ tôi chết đã lâu! Cô là ai mà đến đây nói dối là vợ tôi?

Người vợ nói đến hai ba lần, chàng ta cũng nhất quyết không tin.

Cũng như chàng ngốc kia, kẻ ngoại đạo nghe theo học thuyết sai lầm, tâm sanh mê hoặc, chấp thủ là chân lý, vĩnh viễn không thể sửa đổi được, dù được nghe giáo pháp chân chánh cũng không tin tưởng thọ trì.

 

5-  NGƯỜI KHÁT GẶP NƯỚC

Thuở xưa có một người ngu si, đần độn đi đường rất khát nước, muốn tìm nước uống. Vào lúc trời nóng bức, chàng ta nhìn dợn nắng ngỡ là nước liền chạy tới, thời may gặp một con sông. Anh chàng cứ đứng tần ngần bên sông nhưng không uống. Có người thấy thế hỏi:

- Anh đã khát khô cổ muốn tìm nước uống, nay đã đến chỗ có nước sao không uống?

Chàng ngốc trả lời:

- Nếu anh có thể uống hết nước dưới sông, tôi mới có thể uống hết. Nước sông nhiều như thế không thể nào uống hết nên tôi không uống.

Cũng vậy, những kẻ ngoại đạo chấp chặt lý lẽ của mình, cho là không thể giữ trọn vẹn giới luật trong đạo Phật nên quyết không thọ giới. Do vậy, trong tương lai không được một chút đạo hạnh gì còn bị trôi lăn trong vòng sanh tử. So với chàng ngốc gặp nước không uống nên bị mọi người cười chê trên không khác.

 

 

6-  CON CHẾT MUỐN AN TÁNG TRONG NHÀ

Thuở xưa có một người ngu có bảy đứa con. Một hôm, bỗng có một đứa lăn ra chết. Thấy con chết, chàng ta muốn an táng thi hài con trong nhà còn mình thì bỏ nhà ra đi. Có người hàng xóm thấy vậy liền bảo:

- Hai đường sống chết vốn khác nhau. Anh mau đem thi hài đứa bé ra ngoài chôn cất đàng hoàng. Sau lại để thi hài bé trong nhà, bỏ nhà ra đi như thế?

Nghe người hàng xóm nói, lúc ấy, chàng ta nảy sinh một ý nghĩ ngốc nghếch : “Nếu không được an táng trong nhà, phải đem ra ngoài chôn, ta cần giết thêm một đứa nữa để gánh hai đầu cho cân”. Thế rồi, chàng ta liền giết thêm một đứa con, gánh đến nơi xa, hoang vắng chôn. Mọi người nghe chuyện đó đều cười chê thậm tệ, cho là việc quái dị chưa từng có.

Thí như Tỳ-kheo phạm một giới không ăn năn, sám hối, sửa đổi, lại mặc nhiên che giấu tội lỗi còn tự nói mình thanh tịnh. Khi có bậc hiền trí khuyên bảo: “Người xuất gia giữ gìn cấm giới như gìn giữ viên ngọc sáng không để tỳ vết. Nay ông đã vi phạm giới đã thọ tại sao không phát lồ sám hối?”. Tỳ-kheo phạm giới lại nói: “Nếu phải phát lồ sám hối những tội đã phạm thì hãy để sau này phạm nhiều giới bất thiện, lúc ấy hãy sám hối luôn một thể”.

Cũng như người ngu trên đã bị chết một đứa con lại giết thêm một đứa nữa. Vị Tỳ-kheo ấy cũng giống như vậy.

 

 

7-  NHẬN NGƯỜI LÀM ANH

Thuở xưa có một chàng tướng mạo khôi ngô, thông minh, tài giỏi, lại rất giàu. Người đời không ai không khen ngợi. Bấy giờ có một gã ngốc thấy người ấy như thế liền nhận là anh mình. Chỉ vì người kia giàu có, gã ta muốn lợi dụng nên mới nhận là anh. Thế nhưng, khi thấy người kia trở nên nghèo khó, túng bấn thì y lại tuyên bố không phải là anh mình. Có người biết chuyện bảo:

- Anh thật ngốc nghếch quá! Cớ sao vì danh tiếng giàu có nhận người dưng làm anh, rồi khi người ta nghèo khó lại phủ nhận không phải anh mình?

Gã ngốc trả lời ngay:

- Tôi chỉ vì mong muốn tiền bạc của anh ta nên mới nhận y là anh, chứ thật ra y không phải là anh tôi. Nếu như y đã lâm vào cảnh nghèo khó thì không phải là anh tôi nữa.

Mọi người nghe lời gã nói không ai không cười khinh gã.

Ngoại đạo cũng vậy. Nghe giáo pháp trọn lành của Đức Phật liền nổi lòng tham nhận đó là của mình. Đến khi được bậc thiện hữu khuyên nên tu hành thì chẳng chịu tu tập còn bảo: “Tôi vì lợi dưỡng cúng dường nên mới dùng lời dạy của Đức Phật dạy bảo chúng sanh, chứ chẳng phải thật tu thì cớ gì phải tu tập”. Như gã ngốc trên vì muốn tiền bạc nên tuyên bố người giàu có là anh, đến khi người kia túng thiếu lại nói ngược không phải anh mình, những kẻ ngoại đạo kia cũng như thế.

 

 

8-  CHÀNG NHÀ QUÊ VÀO KHO VUA ĂN TRỘM

Thuở xưa có một anh chàng nhà quê lẻn vào kho vua ăn trộm rồi cao bay xa chạy. Sau khi vụ trộm bị phát giác, nhà vua liền sai người tầm nã khắp nơi và bắt được gã đưa về cung.

Vua tra hỏi nguồn gốc chiếc áo. Gã ta biện bạch:

- Chiếc áo này chính là vật gia truyền của ông cha tôi.

Đức vua truyền lệnh cho y bận chiếc áo. Chiếc áo ấy vốn không phải là vật của y nên gã ta cứ loay hoay không biết cách mặc, thứ phải mang trên cánh tay lại đeo dưới chân, thứ phải thắt ngang lưng lại đội lên đầu. Vua thấy y như thế liền truyền gọi quan lại trong triều đến cùng xem xét, rồi phán:

- Chiếc áo này nếu là vật gia truyền của ông cha ngươi thì ngươi phải biết cách mặc. Tại sao ngươi lại mặc vào lộn xộn như thế, thứ ở trên lại đưa xuống dưới mặc, chứng tỏ ngươi không biết cách mặc. Do vậy thấy rõ chiếc áo kia chắc chắn là ngươi lấy trộm, chẳng phải là vật gia truyền của ngươi.

Trong truyện này, nhà vua dụ cho Đức Phật, hoàng bào dụ cho giáo pháp, anh chàng nhà quê ngu muội dụ cho ngoại đạo trộm nghe Phật pháp, ăn cắp đưa vào trong giáo lý của mình rồi tự nhận là của họ. Thế nhưng, vì không giải thích được nên họ sắp xếp giáo lý của Phật một cách lung tung, lộn xộn; không thể biết được chân nghĩa của giáo pháp. Cũng như gã nhà quê trên được chiếc áo quí của nhà vua, không biết rõ thứ tự trước sau nên bận vào một cách lộn xộn, những kẻ ngoại đạo kia cũng như thế.

 

 

9-  KHEN CHA ĐỨC HẠNH

Thuở xưa có người thường ngợi khen cha mình trước mặt nhiều người:

- Cha tôi bản tánh rất nhân hậu, chưa từng làm hại hay trộm cắp của ai. Ông luôn nói chuyện một cách khẳng khái, trung thực và thường bố thí.

Khi ấy, có một chàng ngốc nghe được lời trên bèn lên tiếng:

- Đạo đức và việc làm của cha tôi còn tốt hơn cha anh nữa.

Mọi người liền hỏi:

- Cha anh có đức hạnh gì? Mời anh nói thử xem.

Chàng ta trả lời:

- Từ nhỏ đến giờ, cha tôi tuyệt hẳn dâm dục, hoàn toàn không bị dục nhiễm.

Mọi người đều nói:

- Cha anh nếu tuyệt hẳn dâm dục tại sao lại sanh ra anh?

Kẻ ngu ngốc thế chỉ bị người đời cười chê mà thôi.

Hạng người vô trí trên đời cũng vậy. Muốn tán dương chỗ tốt của người khác nhưng không hiểu rõ sự thật về người đó nên ngược lại trở thành lời mỉa mai, châm chọc giống như chàng ngốc trên có ý tán dương cha mình nhưng lời nói ra lại trở thành ngây ngô, sai lạc. Hạng người vô trí cũng như thế.

 

 

§10-  NHÀ LẦU BA TẦNG

Thuở xưa có một người giàu có nhưng ngu độn. Một hôm, ông ta đến thăm một gia đình cự phú trong vùng. Thấy một tòa nhà ba tầng vô cùng mỹ lệ, cao rộng và sáng sủa, lòng ông ta rất thích, tự nghĩ: “Tiền bạc của ta cũng đâu có thua hắn, lẽ nào ta không xây được một cái nhà lầu như thế”. Về đến nhà, ông ta lập tức cho mời vị kỹ sư trưởng xây dựng đến hỏi:

- Có phải ông đã làm tòa nhà lầu mỹ lệ kia không?

Vị kỹ sư trả lời:

- Vâng, chính là tôi làm.

Nghe vậy, ông phú hộ liền bảo:

- Nay ông hãy xây ngay cho tôi tòa nhà như của ông ta.

Vị kỹ sư trưởng liền cho thợ khởi công đào móng, đắp nền, xây tường làm nhà. Ông nhà giàu ngu ngốc nọ thấy thợ tiến hành làm móng, xây tường, phòng ốc ngổn ngang, ngạc nhiên liền hỏi vị kỹ sư trưởng:

- Các ông muốn xây cái gì vậy?

Vị kỹ sư trả lời:

- Thì làm nhà lầu ba tầng.

Ông phú hộ liền nói ngay:

- Tôi chưa cần hai tầng dưới. Ông hãy cho thợ xây ngay tầng trên cùng cho tôi.

Vị kỹ sư trưởng liền bảo:

- Việc ấy không thể nào được. Làm gì có việc không cất tầng trệt mà có thể xây tầng hai, không có tầng hai thì làm sao có thể xây tầng ba được.

Gã nhà giàu ngốc nghếch vẫn nằng nặc:

- Tôi nay không dùng hai tầng dưới. Ông chỉ xây tầng trên cùng cho tôi thôi.

Mọi người lúc bấy giờ biết chuyện đều chê cười ông ta:

- Không cất tầng một thì làm sao có thể xây tầng thượng cơ chứ!

Câu chuyện này dụ cho một số người trong bốn chúng đệ tử của Đức Phật không chịu nỗ lực, tinh cần tu tập, quy kính Tam bảo, lười biếng giải đãi mà lại mong cầu thánh quả, còn tuyên bố: “Tôi nay không cần trải qua ba thánh vị bậc dưới chỉ mong chứng đắc tứ quả A-la-hán mà thôi”. Những người như thế cũng sẽ bị mọi người cười chê giống như ông nhà giàu ngu ngốc trên không khác.

 

 

11-  BÀ LA MÔN GIẾT CON

Xưa kia có một vị Bà la môn tự xưng là học rộng hiểu nhiều, luôn tự phụ là làu thông thiên văn, địa lý, thuật chú, tất cả các môn không môn nào không biết. Muốn phô trương tài năng bản lãnh của mình, ông ta bèn sang nước khác, ôm con mà khóc. Có người hỏi ông:

- Vì sao ông khóc lóc như thế?

Vị Bà la môn trả lời:

- Đứa con nhỏ của tôi trong bảy ngày nữa sẽ chết. Tôi đang lo lắng con chết yểu nên đau xót mà khóc đấy thôi.

Mọi người đều khuyên:

- Mạng sống con người khó mà tính toán kiết hung, tốt xấu được. Biết đâu bảy ngày nữa con ông có thể không chết, ông vì sao lại khóc lóc thảm thiết như vậy?

Ông ta liền nói:

- Mặt trời, mặt trăng có thể mờ, sao trời có thể rơi chứ lời tiên đoán của tôi không thể nào sai lầm đâu.

Rồi vì danh tiếng của mình, đến ngày thứ bảy, anh ta tự tay giết chết đứa con để chứng minh lời tiên tri của mình. Sau bảy ngày, mọi người nghe con ông ta chết đều ca tụng:

- Quả là bậc đại trí, lời ông ta nói không sai chút nào.

Lòng họ rất khâm phục, tin tưởng, nên cùng nhau kéo đến tôn kính.

Câu chuyện này dụ cho một số người trong bốn chúng đệ tử của Đức Phật vì tiếng tăm quyền lợi nên tự xưng là đắc đạo, giả tướng từ bi đức độ, ngu si đoạn mất Bồ đề tâm. Do nhân ấy nên ở trong tương lai lãnh chịu quả khổ vô cùng giống như vị Bà la môn muốn chứng tỏ lời tiên tri của mình nên tự giết con, lừa dối mọi người vậy.

 

 

12-  NẤU  NƯỚC ĐƯỜNG

Thuở xưa có một chàng ngốc làm nghề nấu đường. Một hôm, có ông phú hộ đến nhà thăm. Khi ấy, chàng ta tự nghĩ: “Ta đang nấu nước đường. Nên đem một ít nước đường đang nấu mời ông ta dùng thử”.

Nghĩ vậy, anh ta thêm ít nước vào nồi mật đang đun trên lửa. Muốn nước đường mau nguội, anh ta ra sức quạt nước đường trong nồi đang đặt trên bếp lửa.

Người bạn thấy thế bảo:

- Anh không tắt lửa dưới lò mà cứ quạt mãi nước đường  trong nồi thì làm sao mà nguội được.

Mọi người có mặt khi đó đều cười lớn chế giễu anh ta.

Chuyện này dụ cho ngoại đạo không nỗ lực diệt trừ lửa tham, sân, si đang bốc cháy trong tâm, chỉ biết hành xác khổ hạnh, nằm giường gai, thiêu đốt thân mình trong nắng gắt mà vọng cầu đạt đạo quả thanh lương, tịch tĩnh thì cuối cùng không có kết quả mà còn bị bậc trí cười chê. Hiện tại chịu khổ, tương lai nhất định trôi lăn trong luân hồi sanh tử.

 

 

13-  NGƯỜI HAY SÂN HẬN

Thuở xưa có một người cùng bạn bè ngồi trong nhà bình luận phẩm hạnh của người khác. Anh ta nói:

- Nhân cách, đạo đức của anh ta thì rất tốt, chỉ có hai tật xấu: một là tánh hay nóng nảy, hai là chạm việc hay lỗ mãng.

Ngay lúc đó, anh chàng kia đi ngang qua nghe được lời ấy lập tức nổi giận đùng đùng, nhảy bổ vào nhà mắng chửi người vừa nói, rồi đấm đá anh ta một trận.

Mọi người trong nhóm lên tiếng:

- Tại sao anh lại đánh người ta như thế hả?

Anh chàng trả lời:

- Trước nay, tôi chưa từng bao giờ nổi giận hay lỗ mãng, vậy mà hắn lại nói tôi hay nóng nảy, chạm việc hay lỗ mãng cho nên tôi đánh hắn.

Người kia liền bảo:

- Hiện giờ chính bộ dạng sân hận và lỗ mãng của anh đã chứng minh rồi đấy! Sao lại cho là nói xấu anh?

Mọi người đều bực tức, trách mắng tánh hung bạo của anh ta. Thật đáng bị người đời khinh chê là ngu muội.

Những kẻ đam mê rượu chè cũng vậy, chìm đắm trong men say, làm nhiều điều xằng bậy. Nghe mọi người chê trách lại sanh lòng oán trách. Thế nhưng nỗi khổ do hậu quả của rượu tạo ra đã chứng minh cho việc đó. Bọn họ cũng giống anh chàng ngu ngốc trên không muốn nghe lỗi của mình, khi nghe người khác phê bình lại muốn sanh sự đánh lộn vậy.

14-  GIẾT NGƯỜI DẪN ĐƯỜNG ĐỂ TẾ TRỜI

Thuở xưa có một đoàn thương gia dự định vượt biển buôn bán. Chuyến hải trình cần có một người dẫn đường mới có thể đi được. Do vậy, tất cả cùng nhau bàn tính để mời một người dẫn đường.

Sau khi mời được người dẫn đường, đoàn thương gia bèn khởi hành. Chẳng bao lâu, tàu ghé vào một vùng đất rộng. Tại đó có một ngôi đền thờ chư thiên. Họ phải giết một người để hiến tế rồi mới có thể đi tiếp. Khi đó, các nhà buôn cùng họp bàn:

- Tất cả chúng ta đều là bè bạn, thân thích. Đã vậy thì làm sao có thể chọn một người để tế trời được. Trong đoàn, chỉ còn anh chàng dẫn đường kia. Chi bằng giết anh ta để hiến tế.

Bàn tính xong, họ bèn giết người dẫn đường đem hiến tế chư thiên. Cúng tế xong, muốn khởi hành thì mọi người trong đoàn đều lẫn lộn, quên mất phương hướng, chẳng biết đi về hướng nào. Cuối cùng, tất cả đều chết trong cảnh cùng khốn.

Người đời cũng thế. Muốn vào biển Phật pháp để tìm châu báu cần phải lấy việc tu tập pháp hạnh lành làm bậc Đạo sư. Phá hủy hạnh lành thì mãi mãi không thoát khỏi con đường sanh tử mênh mông, trải thân trong ba đường khổ, chịu khổ não triền miên cũng như đoàn thương gia vào bể cả bao la lại giết người dẫn đường nên quên mất bến về. Cuối cùng đành táng thân trong cảnh khổ.

 

 

15-LƯƠNG Y BỐC THUỐC MAU LỚN CHO CÔNG CHÚA CON VUA

Thuở xưa có ông vua sanh được một nàng công chúa. Ngày kia, nhà vua truyền gọi một vị lương y đến bảo:

- Khanh hãy bốc một loại thuốc để công chúa uống vào lớn ngay tức khắc cho trẫm.

Vị lương y thưa:

- Thần có một phương thuốc rất hay uống vào có thể lớn ngay tức khắc nhưng phải đến phương xa mới có. Thần chỉ xin Bệ hạ một điều là từ nay đến khi thần mang thuốc về, Bệ hạ không được đến thăm công chúa. Đợi khi nào thần đem thuốc về cho công chúa uống xong, sẽ đưa công chúa diện kiến Bệ hạ.

Vị lương y lập tức lên đường đến phương xa tìm thuốc. Trải qua mười hai năm mới đem thuốc về cho công chúa uống rồi đưa công chúa đến diện kiến đức vua. Nhà vua thấy công chúa đã trưởng thành, vui mừng kêu to:

- Thật là thánh dược! Con ta uống xong đã lớn ngay lập tức.

Nhà vua truyền lệnh cho cận thần đem ngọc ngà, châu báu ban thưởng cho vị lương y. Người đương thời đều cười chê vua ngốc nghếch, không biết tính tuổi con mình nên khi thấy con đã lớn lại ngỡ do hiệu quả của thuốc.

Người đời cũng thế, mong trở thành con người hiền thiện nên phát nguyện: “Tôi nay mong cầu đạo giải thoát, kính nguyện được gặp bậc lương sư chỉ dạy để tôi thành ngay bậc hiền nhân”. Vị đạo sư dùng phương tiện dạy anh ta tọa thiền, tu quán giáo lý mười hai nhân duyên, dần dần nuôi dưỡng các đức hạnh lành cho đến khi đắc quả A-la-hán. Khi chứng quả A-la-hán, người ấy vô cùng hân hoan thốt lên: “Thật là nhanh chóng! Chính nhờ bậc Đạo sư nên chúng ta mới có thể sớm đạt được diệu pháp tối thượng”.

 

 

16- TƯỚI MÍA

Thuở xưa có hai người cùng nhau trồng mía. Cả hai người đồng ý lập ra một qui ước: ai trồng mía lên tốt thì được thưởng, ai trồng lên xấu thì phải bị phạt.

Bấy giờ, trong hai người, có một người suy nghĩ: “Mía thì ngọt, nếu ta ép mía lấy nước rồi đem tưới cho cây mía thì chắc mía sẽ rất tốt, chắc chắn thắng hắn ta”. Nghĩ thế, muốn cho mía ngọt hơn, người ấy đem rất nhiều mía ra ép lấy nước tưới cho khoảng mía mới trồng. Thế nhưng kết quả trái ngược: tất cả mía mới trồng của anh ta đều hư hoại hết!

Người đời cũng thế, mong cầu phước lành như giàu sang, phú quí mà lại chuyên ỷ mình giàu có, cậy quyền thế ức hiếp người lương thiện để chiếm đoạt tài sản, rồi dùng tiền đó làm việc phước thiện mong được quả lành. Họ không biết rằng ngược lại trong tương lai sẽ gặp nhiều hoạn nạn cũng như việc dùng nước mía tưới mía nên tất cả mía đều mất trắng vậy.

 

 

17-  NỢ NĂM TIỀN

Thuở xưa có một thương gia cho bạn hàng vay năm tiền, mãi lâu không thấy trả, liền đến nhà đòi nợ. Trước nhà người kia có một con sông lớn. Ông phải mất hai đồng tiền đò để sang sông. Đến nơi không gặp người vay nợ nên ông đành quay về, sang sông lại tốn thêm hai đồng nữa. Thế là, vì đòi nợ năm đồng mà phải tốn đến bốn đồng. Chỉ vì ngại đi bộ mệt nhọc nên tiền nợ thì ít mà tiền trả tổn thất lại quá nhiều! Kết quả là bị mọi người cười chê.

Người đời cũng thế. Vì chút ít lợi danh, hủy hoại hạnh thanh cao; vì tư lợi không màng lễ nghĩa, hiện tại phải mang tiếng xấu, tương lai phải chịu quả báo khổ đau.

 

 

18-  LÊN LẦU MÀI DAO

Thuở xưa có một người nghèo làm việc cho nhà vua rất cực khổ. Trải qua một thời gian dài, thân thể y càng suy yếu. Nhà vua thấy thế thương hại ban cho xác một con lạc đà.

Anh chàng toan lột da xác lạc đà vua ban nhưng dao đã cùn nên vội đi tìm một viên đá để mài dao. Kiếm được đá mài trên lầu, chàng ta liền mài bén dao rồi xuống lầu bắt đầu công việc. Thế rồi, chàng ta cứ lên lầu xuống lầu nhiều lần để mài dao. Cuối cùng, quá mệt vì phải lên lầu xuống lầu mãi, chàng ta khiêng luôn xác con lạc đà lên lầu để tiện việc vừa mài dao vừa lột da. Hành động của anh chàng bị mọi người cười chê thậm tệ.

Câu chuyện này dụ cho hạng người ngu phá hủy giới cấm, tích trữ tiền của rồi dùng đó để bố thí, cúng dường, tu phước cầu được sanh thiên giới. Hạng người ấy chẳng khác gì chàng ngốc khiêng xác lạc đà lên lầu để tiện việc mài dao kia, bỏ công sức ra quá nhiều mà kết qủa thu được lại rất ít.

 

 

19-  ĐI THUYỀN RƠI CHÉN BẠC

Xưa kia có một người lái thuyền vượt biển. Giữa đường, anh ta lỡ tay rơi một cái chén bằng bạc xuống nước. Chàng ta liền khởi lên một ý nghĩ ngu ngốc: “Nay mình phải đánh dấu để nhớ vùng nước này, rồi cứ để đó mà đi. Sau này sẽ lặn xuống lấy”.

Đi được hai tháng, đến nước Sư tử, chàng ta gặp một con sông liền lặn xuống nước để tìm chén bạc đã mất. Có người hỏi:

- Anh muốn tìm gì vậy?

Anh ta trả lời:

- Trước đây, tôi đã đánh rơi một cái chén bạc. Nay muốn tìm lại.

Người ấy liền hỏi:

- Anh làm rơi ở chỗ nào?

Chàng ta trả lời:

- Tôi đánh rơi khi mới ra biển.

Người kia hỏi tiếp:

- Mất độ bao lâu rồi?

Anh chàng đáp:

- Đã mất trước đây hai tháng.

Người ấy lại hỏi:

- Mất hai tháng trước mà sao lại tìm ở đây?

Chàng ta liền đáp:

- Khi đánh rơi cái chén, tôi đã vạch nước làm dấu để nhớ. Chỗ nước mà tôi đánh dấu và chỗ nước ở đây đâu có khác nhau, cho nên tìm ở đây.

Người ấy cười hỏi:

- Nước tuy không khác nhau nhưng anh đánh rơi đồ ở chỗ khác, nay lại tìm ở đây thì làm sao có thể tìm được.

Lúc bấy giờ, mọi người đều phá lên cười giễu.

Ngoại đạo cũng như thế. Không tu tập theo hạnh chân chính, cho rằng các hạnh lành đều như nhau nên chọn ngay lối tu khổ hạnh để cầu mong giải thoát. Bọn họ cũng như chàng ngốc trên mất chén bạc ở một nơi mà lại tìm ở một nơi khác vậy.

 

 

 20-  PHÊ BÌNH VUA BẠO NGƯỢC

Thuở xưa có một người kể tội vị vua đương thời, phê phán rằng:

- Nhà vua hiện nay tánh tình bạo ngược, trị nước bất công.

Lời ấy truyền đến tai vua, vua liền nổi trận lôi đình nhưng mãi vẫn không tra xét được ai đã nói ra lời ấy. Sau đó, vua nghe lời nịnh thần, ra lệnh bắt một vị hiền thần, xử hình phạt tùng xẻo, lóc nơi xương sống lấy 100 lạng thịt. Có người chứng minh được vị hiền thần kia không nói lời đó. Lòng vua rất hối hận nên lệnh đem 1000 lạng thịt đắp trả lại nơi xương sống của vị quan kia.

Suốt đêm vị hiền thần đau đớn rên rĩ, khổ não vô cùng. Vua nghe tiếng rên la liền hỏi:

- Sao ngươi còn rên la khổ não như vậy? Ta đã trả lại gấp mười lần số thịt đã lấy cho ngươi. Hẳn là ngươi cho là chưa đủ chăng? Cớ sao lại đau khổ như thế?

Có vị quan thân tín tâu:

- Tâu đại vương! Nếu như chặt một cái đầu thì dù có lại được 1000 cái đầu cũng không tránh được cái chết. Dù được gấp mười lần số thịt đã mất, ông ta cũng không khỏi đau đớn, khổ não được.

Người ngu cũng thế. Không sợ quả đời sau, tham hưởng thú vui hiện tại, gây tạo khổ não cho chúng sanh rồi lại đem nhiều tiền của đền bù, phân phát cho mọi người, tưởng rằng tội chướng kia được tiêu trừ, hưởng phúc báo vô tận. Hạng người này cũng giống như vị vua kia nạo xương lóc thịt người rồi đem thịt đắp vào đền trả, ngỡ rằng người kia không đau đớn, bình yên vô sự.

 

 

21-  NGƯỜI PHỤ NỮ CẦU CON

Thuở xưa có nàng thiếu phụ đã có một con nhưng lòng vẫn mong ước có thêm một đứa nữa. Nàng ta liền đi hỏi các phụ nữ trong vùng:

- Trong các chị, có ai biết cách xin hướng dẫn cho tôi sinh được một đứa con nữa.

Có một bà lão lên tiếng bảo cô ta:

- Tôi có cách để cô có thể sinh con nhưng trước tiên cô phải cúng chư Thiên đã.

Nàng thiếu phụ bèn hỏi bà lão:

- Thế lễ cúng cần những gì?

Bà lão nói:

- Giết đứa con kia của cô, lấy máu cúng chư Thiên thì chắc chắn sẽ sanh được nhiều con.

Vừa nghe xong, nàng ta theo lời bà lão toan giết con mình. Một người bạn sáng suốt biết chuyện liền chê cười quở trách:

- Sao cô lại ngu ngốc hàm hồ đến như thế! Đứa con chưa sinh không biết có sinh được không mà nay lại toan giết đứa còn sống.

Người ngu cũng như nàng thiếu nữ kia. Vì mong cầu sanh lên các cõi trời nên tự hành hạ xác thân. Niềm vui ở cõi trời chưa thấy mà hiện tại xác thân phải chịu thiêu đốt trong vô vàn điều đau khổ, bức bách.

 

 

22-  RA BIỂN TÌM TRẦM

Thuở xưa có một vị trưởng giả ra biển tìm trầm. Trải qua nhiều năm gom góp được hơn một xe trầm, ông ta liền trở về nhà, đem ra chợ bán. Nhưng giá trầm rất cao nên chẳng ai chịu mua. Nhiều ngày ròng rã không bán được đồng nào, lòng ông sanh ra mệt mỏi, buồn phiền vô cùng. Thấy người bán than bên cạnh bán rất đắt, ông liền nảy ra ý định: “Nếu đã không bán được, chi bằng ta đem trầm đốt thành than. Chắc có thể bán được rất nhanh”.

Nghĩ xong, ông đem hết trầm đốt thành than rồi đưa ra chợ bán mà không biết rằng giá trị một xe than không bằng một nửa giá trị của xe trầm.

Những kẻ mê muội trên đời này cũng vậy. Nỗ lực tinh tấn tu tập vô lượng hạnh lành chỉ mong cầu Phật quả. Nhưng chỉ vì ngại khó nên sanh tâm thối thất nghĩ rằng: “Nếu Phật vị khó thành như thế chi bằng phát tâm tu tập cầu quả vị Thanh văn, có thể mau dứt đường sanh tử, chứng quả A-la-hán”.

 

 

23-  KẺ TRỘM DÙNG GẤM BỌC ÁO VẢI THÔ

Thuở xưa có một kẻ trộm lẻn vào nhà một gia đình giàu có trộm được một mớ vải gấm và một số đồ vật khác. Để tiện mang đi, y lại dùng vải gấm bọc bên ngoài mớ quần áo cũ và các thứ đồ trộm khác. Tới khi mang ra ngoài liền bị mọi người cười đùa, nhạo báng.

Những người mê muội trên đời cũng thế. Từ lòng tin phát tâm tu tập các pháp lành, vun bồi công đức, nhưng chỉ vì tham đắm danh lợi, phá hủy tịnh giới, tiêu hoại mọi công đức đã tạo nên bị người đời cười khinh giống như tên trộm kia vậy.

 

 

24-  TRỒNG MÈ RANG

Xưa kia, có một chàng ngốc ăn mè sống thấy không ngon, liền đem rang lên ăn thử cảm thấy ngon. Anh chàng tự nghĩ: “Nếu ta rang chín mè giống rồi mới đem gieo chắc hẳn mè sẽ ngon lắm”. Thế rồi chàng ta đem tất cả mè giống ra rang hết, rồi đem gieo. Kết quả chẳng mọc được cây nào cả!

Người đời cũng thế. Nghe kinh dạy: “Chư Bồ tát trải qua vô số kiếp cần khổ tu hành, làm những việc khó làm”, họ cho là quá khó tu, nghĩ rằng: “Nếu không thể tu tập Bồ tát hạnh, nay tu theo A-la-hán quả mau chóng đoạn sanh tử thì dễ hơn rất nhiều”. Trong tương lai muốn cầu Phật quả thì trọn không thể được ví như mè giống đã rang đem trồng không thể mọc được, những kẻ mê muội trên đời cũng như thế.

25-  NƯỚC VÀ LỬA

Thuở xưa có một người có việc cần dùng lửa và nước lạnh. Anh ta đổ đầy nước vào nồi để lát nữa tắm, và để giữ lửa khỏi tắt, anh ta lại đặt nồi nước lên trên bếp lửa. Một lát sau, khi anh ta muốn dùng lửa thì lửa đã tắt ngấm, muốn dùng nước lạnh thì nước lại nóng. Cả lửa và nước đều không dùng được.

Người đời cũng thế. Phát tâm xuất gia cầu đạo giải thoát, nhưng khi đã xuất gia thì lại tưởng nhớ đến vợ con, họ hàng thân thuộc, say đắm thú vui năm dục của thế gian. Do vậy, tự thân làm mất hết lửa - công đức và nước - trì giới. Hạng người say mê dục lạc cũng lại như thế.

 

 

26-  BẮT CHƯỚC VUA NHÁY MẮT

Xưa kia có một chàng muốn lấy lòng vua bèn dò hỏi mọi người:

- Tôi phải làm sao để vua ưng ý?

Có người lên tiếng:

- Nếu anh muốn được lòng vua, phải bắt chước theo điệu bộ, cử chỉ của ngài.

Người ấy nghe xong liền đến chỗ vua. Thấy nhà vua nháy mắt, anh ta cũng bắt chước hấp háy đôi mắt. Nhà vua thấy thế liền hỏi:

- Ngươi bị bệnh hay bị gió thổi bụi vào mắt mà sao lại nháy như thế?

Gã ta liền trả lời:

- Mắt thần không có bệnh gì cả, cũng không bị bụi rơi vào. Chỉ vì thần muốn được lòng Bệ hạ nên thấy Bệ hạ nháy mắt thần cũng nháy mắt theo mà thôi.

Đức vua  nghe lời ấy liền nổi trận lôi đình, lệnh cho quân đánh đòn một trận rồi đuổi ra khỏi nước.

Người đời cũng thế. Muốn được gần gũi Phật pháp để tu học, mong được tăng trưởng căn lành. Thế nhưng, khi đã được gần gũi Phật pháp lại không hiểu rằng Đức Phật - Như Lai, đấng Pháp vương vì chúng sanh nên hiển bày nhiều phương tiện, thuyết giáo lý vừa tầm hiểu biết của chúng sanh. Người ấy nghe giáo lý ấy, dựa vào câu chữ, ngôn từ không hay nên sanh lòng cười chê, phỉ báng hoặc rập khuôn theo ngôn từ một cách máy móc mà không hiểu rõ. Do vậy, ở trong Phật pháp mất hẳn lợi ích, sau này bị rơi vào ba đường dữ, cũng giống như chàng ngốc bắt chước vua ở trên vậy.

27-  TRỊ THƯƠNG

Thuở xưa có một người bị vua phạt đánh đòn, bị thương rất nặng. Muốn mau lành, người ấy lấy phân ngựa xoa vào vết thương. Một chàng ngốc thấy thế, lòng rất vui mừng thốt lên:

- Hay quá! Ta vừa biết một phương thuốc trị thương.

Y lập tức về nhà kêu con ra bảo:

- Con hãy đưa lưng cho cha đánh. Cha vừa học được phương thuốc trị thương rất hay. Nay muốn dùng thử.

Nói xong, y quất vào lưng con mình cho bị thương, rồi lấy phân ngựa xoa vào để trị thương. Làm xong, y tự cho mình là rất thông minh, khéo léo.

Người đời cũng thế. Nghe dạy: “Tu quán bất tịnh là phương thuốc để trừ bỏ thân năm ấm”, liền nói: “Tôi muốn quán bất tịnh đối với nữ sắc và năm dục nhưng chưa gặp thì không thể quán bất tịnh được”. Thế nhưng, trái lại bị nữ sắc làm điên đảo, trôi lăn trong vòng sanh tử, rồi rơi vào địa ngục. Những kẻ mê mờ trên đời cũng lại như thế.

 

 

28-  ĐỔI MŨI CHO VỢ

Thuở xưa có một người có cô vợ rất xinh nhưng chỉ có cái mũi thì hơi khó coi. Chàng ta ra đường gặp một cô gái có khuôn mặt khả ái, mũi nàng ta cũng rất xinh, liền tự nhủ:

- Sao mình không xẻo lấy cái mũi xinh đẹp kia đem về gắn lên cho vợ mình, có phải nàng cũng xinh đẹp như vậy không?

Nghĩ xong, y liền xẻo ngay mũi của cô gái đẹp kia đem về nhà gọi vợ:

- Em ra đây mau lên! Anh sẽ cho em một cái mũi rất xinh.

Người vợ chạy ra. Y bèn cắt cái mũi của vợ rồi lấy cái mũi của người con gái kia ráp lên mặt vợ. Nhưng mũi đã không ráp được mà vợ y còn mất đi cái mũi của mình. Hành động điên rồ ấy làm cho vợ y càng đau đớn, khổ não hơn.

Người mê trên đời cũng thế. Nghe các bậc Sa môn, Bà la môn, trưởng lão nhiều đức độ được người đời cung kính cúng dường liền tự ngh