Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Kinh Điển Phật Giáo


 . .

 

BÁT NHÃ BA LA MẬT KINH
TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG

GIÁO ÁN TRƯỜNG CAO CẤP PHẬT HỌC 

Pháp Sư Thích Từ Thông

 

 

--- o0o ---

 

Mục Lục

 

Lời nói đầu

1. Bối cảnh thời pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa

2. Vấn đề cơ bản của một Bồ tát phải làm

3. Vấn đề hàng phục tâm mình

4. Phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng ChánhGiác, phải trụ tâm như thế nào?

5. Thế nào là một đức tin có giá trị

6. Vấn đề thành Phật và thuyết pháp của một Như Lai

7. Đệ tử Phật phải làm gì để có được phước đức nhiều

8. Vấn đề chứng đắc trong đạo Phật, người Phật tử phải hiểu như thế nào?

9. Làm thế nào để trang nghiêm cho mình một cõi Phật?

10. Người đệ tử Phật phải làm gì để có được phước đức nhiều?

11. Bát Nhã Ba La Mật là thứ kinh ưu việt

12. Phải hiểu rõ ý Phật và đúng như pháp mà thọ trì, phước đức mới nhiều

13. Ly nhất thiết chư tướng cách nào để được gọi là Chư Phật?

14.Sự lợi ích của người thọ trì đọc tụng và xiển dương giáo lý Bát Nhã

15.Bát Nhã Ba La Mật với vấn đề nghiệp chướng ba thì

16.Tột cùng chân lý ngã pháp đều không

17.Qua sự nhận thức của Phật nhãn thì tất cả là một và một là tất cả

18.Vấn đề phước đức hành giả phải hiểu như thế nào?

19.Phải chiêm ngưỡng thế nào mới đích thực chiêm ngưỡng một Như Lai

20.Năng sở song vong, nếu nói Như Lai có thuyết pháp là phỉ báng Phật

21.Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác không là quả vị chứng đắc của Như Lai

22.Giá trị của Bát Nhã Ba La Mật vượt ngoài tỉ lệ thông thường

23.Với Bát Nhã Ba La Mật, năng sở song vong

24. Phải chiêm ngưỡng cách nào mới đích thực thấy Như Lai

25.Sắc thân 32 tướng với Như Lai bất tức bất ly.

26.Lý vô ngã thể nhập như pháp nhãn vô sanh người đó phước đức rất nhiều

27.Phải hiểu thế nào về một Như Lai

28.Vi trần và thế giới chỉ là hai mặt của một thực thể tồn tại khách quan

29.Phải hiểu thế nào về tứ tướng của Như Lai nói

30.Như như bất động là đạt đáo điểm của Bát Nhã Ba La Mật

31.Vấn đề sắc tâm qua cái nhìn của Bát Nhã Ba La Mật (Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh)

32.Mười hai nhập, mười tám giới vẫn là pháp nhân duyên y tha khởi

33.Pháp tứ đế, thập nhị nhân duyên chỉ là phương chước dĩ độc trị độc của Như Lai

34.Bát Nhã Ba La Mật là duyên nhơn của Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác

Phụ Lục

 

 

LỜI NÓI ĐẦU

BÁT NHÃ BA LA MẬT là một trong những hệ tư tưởng của Đaị thừa Phật giáo Bắc tông. Bát Nhã Ba La Mật, Trung Hoa dịch: TRÍ TUỆ ĐÁO BỈ NGẠN. Thành ngữ đáo bỉ ngạn, chỉ cho sự viên mãn cứu kính, sự hoàn thành trọn vẹn về một lãnh vực tri thức, một công hạnh lợi tha, một sự giải thoát giác ngộ hoàn toàn.. 

Bát Nhã Ba La Mật, với nhà Phật học được xem là thứ trí tuệ cứu kính, so với các trí tuệ. Sử dụng trí tuệ đáo bỉ ngạn, con người có khả năng nhận thức thế giới, thông qua ngũ nhãn của mình. Khi đề cập thứ trí tuệ cứu kính, nhà Phật ít dùng từ trí tuệ theo nghĩa thông thường. Để chỉ thứ trí tuệ độc đáo cứu kính ấy, nhà Phật thường xử dụng nguyên âm bằng cái từ Bát Nhã. Nói đến Bát Nhã, người Phật học hiểu ngay là thứ trí tuệ độc đáo cứu kính, có khả năng nhận thức vũ trụ nhân sinh. 

Các thiền đường, nói nôm na là chỗ các tu sĩ Phật giáo ăn cơm, ngồi thiền, tham cứu kinh điển, tiếp khách thập phương, thường có tấm biển chữ to. Biển đẹp hay tầm thường tùy khả năng tài chánh của nhà chùa, nhưng tuyệt đại đa số chùa đều có tấm biển với ba chữ:  

"BÁT NHÃ ĐƯỜNG"

Ba chữ đó, vừa có ý nghĩa cảnh tỉnh, vừa có ý nghĩa biểu trưng: Rằng người tu sĩ Phật giáo phải sống bằng Bát Nhã, nên sống trong Bát Nhã, vì đây là ngôi nhà BÁT NHÃ của chốn tòng lâm. 

Theo Thiên thai phái giáo, hệ tư tưỏng Bát Nhã chiếm khoảng 22 trên 49 năm trong đời giáo hóa của Đức Phật. Cho nên nhìn vào công trình phiên dịch, sớ giải, trước thuật của các tiền bối Phật học mà kinh khiếp! Chỉ đọc đề mục, tên kinh, niên đại, dịch giả, thuật giả, sớ giải giả, trong hệ tư tưởng Bát Nhã Ba La Mật thôi, tôi cảm thấy đã mệt. Dưới đây tôi xin nêu một số nhỏ danh mục kinh, thuộc hệ tư tưởng Bát Nhã để giới thiệu đại khái, cùng chư thiện hữu tri thức tường lãm, và cũng thưa là xin miễn nêu tôn danh các dịch giả tiền bối để khỏi rườm rà, vì ở đây không cần thiết: 

1.Phỏng quang Bát Nhã Ba La Mật Kinh 20 quyển, 90 phẩm.

2.Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh 30 quyển, 90 phẩm.

3.Quang tán Bát Nhã Ba La Mật Kinh 10 quyển, 27 phẩm

4.Đạo hạnh Bát Nhã Ba La Mật Kinh 10 quyển, 30 phẩm

5.Tiểu phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh 10 quyển, 29 phẩm

6.Phật Mẫu Xuất Sanh Tam Pháp Tạng, Bát Nhã Ba La Mật Kinh 25 quyển, 32 phẩm

7.Phẩm Mẫu Bảo Đức Tạng, Bát Nhã Ba La Mật Kinh 3 quyển, 20 phẩm.

8.Đại Minh Độ Vô Cực Kinh (hệ Bát Nhã) 6 quyển, 30 phẩm/

9.Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Sao Kinh 5 quyển, 13 phẩm.

10. Thắng Thiên Vương, Bát Nhã Ba La Mật Kinh 7 quyển, 16 phẩm.

11. Văn Thù Sư Lợi sở thuyết Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh 1 quyển.

12. Phật Thuyết Nhụ Thủ Bồ Tát Vô Thượng Thanh Tịnh phần Vệ Kinh 2 quyển

13. Kim Cang  Bát Nhã Ba La Mật Kinh 1 quyển. Cưu Ma La Thập dịch (Tài liệu căn bản giáo án này)

14. Kim Cang  Bát Nhã Ba La Mật Kinh 1 quyển. Chân Đế dịch

15. Đại Bát Nhã Ba La Mật Kinh 600 quyển. Hơn 80.000 lời. 785 phẩm, Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang dịch. Đời Nhà Đường. 600 = 666 niên đại. 

Nêu đại cương mà đã có từng ấy kinh hệ tư tưởng Bát Nhã Ba La Mật Đa. Xem thế, nghiên cứu Bát Nhã mà tham khảo hết ngần ấy tài liệu, có lẽ đến chết già. Đã bao lần tôi định bụng lội khơi vào biển Bát Nhã bao la ấy. Rồi lòng tự nhủ lòng. Không thể lội trong biển mênh mông không bờ bến. Mà biển nào cũng phải có bờ chứ. Tay lưới dù lớn, dài bao nhiêu cũng phải có giềng. Áo rộng cỡ nào cũng phải có bâu. Tôi cương quyết phải tìm bờ để vào, phải nắm giềng để phăng lưới, phải xách bâu mới xếp áo đựợc. Nghĩ vậy tôi để tâm nghiên cứu viết tài liệu giáo án này. Trước hết lợi mình, đồng thời hướng dẫn đàn em hậu học đang theo học ở các trường Phật học Cao cấp: Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tôi là một trong số giảng viên được phân công hướng dẫn các môn Kinh luận Đại thừa. 

Theo nội dung tài liệu giáo án này được gọi là: BÁT NHÃ BA LA MẬT KINH TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG. 

Không biết có chủ quan lắm không, chứ theo tôi, nghiên cứu Bát Nhã Ba La Mật Kinh Trực Chỉ Đề Cương này, rồi dựa theo cơ sở tư duy đó, phát triển tự nhiên trí, vô sư trí của mình, theo đó, các độc giả có thể xem các bộ kinh Bát Nhã khác, ta sẽ thấy giáo lý không còn khó khăn lắm. 

BÁT NHÃ BA LA MẬT KINH TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG, do bỉ nhân tôi tóm lược từ chất liệu ở bộ kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa và Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. Nói cách khác, tôi dịch Tỉnh lược bộ Kim Cương Bát Nhã Kinh và Bát Nhã Tâm Kinh viết thành giáo án này. 

Phần trực chỉ, để giảng rộng, giải thích lý nghĩa của kinh văn. Phần này cũng do bỉ nhân tôi, tư duy tìm hiểu nghĩa lý ẩn tàng trong chất giáo lý Bát Nhã mà viết ra. Về văn tự vụng về, chẳng đáng là bao. Nhưng pháp dược này được bổ ích nhiều hay ít đối với xã hội nhân quần, cần có sự diễn đạt để hướng dẫn tư tưởng người đọc qua phần TRỰC CHỈ đó. Nếu nó là pháp dược, là thuốc quí, lợi ích chúng sanh, thì người ta sẽ vun trồng chăm quén, gầy giống lâu dài. Nếu nó là thứ cỏ dại, có nó chỉ làm tổn thương sự sanh trưởng của lúa mạ hoa màu, nhân quần xã hội sẽ đào thải nó đi. Nếu chưa nhổ bỏ lúc này, thì người ta cũng để cho nó chết khô một ngày nào đó. 

Cùng một bộ Kim CangBát Nhã Ba La Mật mà xưa nay khó có thể đếm hết phương danh những người dịch, giải, diễn đạt lý kinh. Nhưng phong phú thay! Ý tưởng không ai giống ai cả. Có giống nhau chăng là giống ở những chỗ ngôn từ "vô thưởng vô phạt" "rẻ rề" ấy! Đó là do sự tìm hiểu, tư duy THÂM NGHĨA theo Tri kiến Phật ở mỗi con người. 

Những tiểu đề phân đoạn mục ở kinh văn cũng do bỉ nhân tôi tự đặt. Công dụng của nó gần như đại ý của mỗi đoạn kinh văn ấy. 

Tôi đề nghị các bạn đọc: Đọc Bát Nhã Ba La Mật Kinh Trực Chỉ Đề Cương, tiếp theo là tư duy phân tích, rồi so sánh nghĩa lý của bộ Kim Cang  Bát Nhã Ba La Mật  và Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, làm như thế rất có lợi cho phần tri kiến. Vận dụng cơ sở tư duy đó, đọc nhiều kinh Bát Nhã khác càng được lợi lớn hơn. 

Vì là một giáo án, đề cương không thể đáp ứng yêu cầu đa diện cho các hàng thức giả muốn tìm hiểu Phật học uyên thâm. Nếu đòi hỏi triết lý sâu xa, chứng minh đa diện, tài liệu này không thể thỏa mãn yêu cầu to lớn như vậy. 

Nếu có sự bất như ý trong đây, xin chư thiện hữu tri thức niệm tình tha thứ 

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Viết tại Huỳnh Mai Tịnh Thất

  28-2-1985  
Thích Từ Thông
Cẩn Chí

 

I.  BỐI CẢNH THỜI PHÁP BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA

ÔNG A NAN TRẦN THUẬT: 

MỘT HÔM NỌ, ĐỨC PHẬT Ở TRONG VƯỜN KỲ THỌ CẤP CÔ ĐỘC, TẠI NƯỚC XÁ VỆ CÙNG VỚI SỐ CHÚNG ĐẠI TỲ KHEO 1250 NGƯỜI CÂU HỘI.  LÚC GẦN ĐẾN GIỜ ĂN, ĐỨC THẾ TÔN MANG BÁT VÀO ĐẠI THÀNH THỨ LỚP KHẤT THỰC.  KHI TRỞ VỀ TỊNH XÁ, DÙNG CƠM XONG, CẤT BÁT THAY Y, SAU ĐÓ ĐỨC PHẬT RỬA CHÂN VÀ TRẢI TỌA CỤ MÀ NGỒI. 

TRỰC CHỈ

Bát Nhã Ba La Mật là thứ trí tuệ rốt ráo. Sử dụng thứ trí tuệ nầy, người ta sẽ thấy nó vượt ngoài tập quán lễ nghi có tính cách hình thức rườm rà. Cho nên, đức Phật nói thời Pháp Bát Nhã Ba La Mật trong một bối cảnh thời gian không gian thật là giản dị.

Thành tựu Bát Nhã Ba La Mật, đời sống của một bậc Thế Tôn, giống y như mọi người không có gì cách ngăn, lập dị: Ăn cơm rồi, cất bát, đổi y, rửa chân rồi trải tọa cụ ra ngồi. Hành động đó, với nhãn quan của phàm phu ham danh hiếu vị, họ thấy Như Lai Thế Tôn chỉ là một người tầm thường. Nhưng với nhãn quan của người đạt đạo, thì đó là biểu hiện của Bát Nhã Ba La Mật, thể hiện qua nếp sống của một Như Lai.

Với tâm hồn đạt đạo, một thiền sư cũng đã thấy và nói:

"...Nhậm vạn trước y thường
    Tùy duyên trừ cựu nghiệp" 
 

Chuyện tu hành như chuyện mặc áo thay xiêm. Sự đạt đạo giống như việc ăn cơm uống nước. Đang tắm biết mình đang tắm, uống trà biết mình uống trà, trải chiếu ngồi biết mình đang trải chiếu ngồi, nhìn ngắm một cành mai biết mình đang nhìn ngắm một cành mai....Muốn có Bát Nhã Ba La Mật, ta phải học làm cho được những cái tầm thường ấy. Thể hiện hành động tầm thường, có phải chăng Đức Thế Tôn nhằm dạy cho đệ tử mình sử dụng Bát Nhã Ba La Mật trong cuộc sống hằng ngày và qua hành động giản đơn thực tiễn trước mắt.

 

*****

 

II. VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA MỘT BỒ TÁT PHẢI LÀM

ÔNG TU BỒ ĐỀ THƯA: BẠCH THẾ TÔN! THẬT LÀ HI HỮU! NHƯ LAI ĐÃ HỘ NIỆM TỐT CHO CÁC BỒ TÁT VÀ PHÚ CHÚC TỐT CHO CÁC BỒ TÁT. 

BẠCH THẾ TÔN! NẾU CÓ THIỆN NAM, THIỆN NỮ PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC THÌ PHẢI AN TRỤ TÂM NHƯ THẾ NÀO? VÀ HÀNG PHỤC TÂM NHƯ THẾ NÀO? 

TRỰC CHỈ

Câu hỏi của ông Tu Bồ Đề là nhơn duyên phát khởi của thời pháp Bát Nhã Ba La Mật. Nó có tánh cách quan trọng: Nêu lên một tiền đề lớn, để từ đó Đức Phật dạy cho các đệ tử mình phương pháp sống, vận dụng Bát Nhã Ba La Mật vào cõi đời nhiều va chạm, nhiều phiền não khổ lụy có thể xảy ra. 

Tu Bồ Đề là một đại đệ tử xuất sắc trong mười đệ tử xuất sắc của Phật. Cũng vì vậy mà ông có cái tên KHÔNG SANH, lại còn có cái tên THIỆN HIỆN và THIỆN KIẾT. Tương truyền: Rằng lúc cha mẹ sanh ông ra, có điềm lành và hiện tượng tốt. 

Qua lời phát biểu, tỏ ra ông Tu Bồ Đề rất thâm hiểu Như Lai: có bồ tát tâm nào không phát xuất từ Như Lai tâm. Có bồ tát hạnh nào không thể hiện từ Như lai hạnh. Như Lai tâm và Như Lai hạnh hàm dung châu biến cả thập giới thánh phàm, thì có Bồ tát nào không được Như Lai hộ niệm tốt cho! 

Thiện tai! Thiện tai! Là lời ấn chứng thể hiện sự bằng lòng của Như Lai. Vì đó là sự thật, là chân lý, hiểu như thế là hiểu được giáo lý liễu nghĩa của kinh, hiểu như thế mới là hiểu rỏ về NHƯ LAI, hiểu rỏ thế nào là là một pháp thân Phật!

 

*****

III. VẤN ĐỀ HÀNG PHỤC TÂM MÌNH

NgưỜi phát tâm Vô ThưỢng Chánh ĐẲng Chánh Giác phẢi hàng phỤc tâm mình như thẾ nào? 

PhẬt bẢo ông Tu BỒ ĐỀ: Phàm có mưỜi loẠi chúng sanh như: thai sanh, noãn sanh, thẤp sanh, hóa sanh, hỮu sẮc, vô sẮc, hỮu tưỞng, vô tưỞng, phi hỮu tưỞng, phi vô tưỞng. Ta đỀu khiẾn cho diỆt đỘ hẾt vào vô dư niẾt bàn. DiỆt đỘ vô lưỢng vô sỐ vô biên chúng sanh như thẾ mà đỪng thẤy có chúng sanh nào đưỢc diỆt đỘ. 

Tu BỒ ĐỀ! NẾu BỒ tát thẤy rẰng: ta là ngưỜi diỆt đỘ chúng sanh, chúng sanh là NHỮNG ngưỜi đưỢc ta diỆt đỘ, thì BỒ tát còn có tưỚng chẤp ngã, chẤp nhơn, chẤp chúng sanh và chẤp thỌ mỆnh, thì không phẢi BỒ tát thẬt.

 

TRỰC CHỈ

Tuyệt diệu thay! Hệ tư tưởng Bát Nhã Ba La Mật! Bát Nhã Ba La Mật là thứ trí tuệ cao vút tuyệt vời, nó đưa người đệ tử Phật đến đỉnh cao của trí tuệ, đào tạo cho người Phật tử một sức sống lạc quan tích cực, một tâm hồn vị tha vong kỹ. Với tâm hồn lạc quan, vị tha vong kỹ, người Phật tử sống trong thực tế giữa hiện tượng vạn pháp của cuộc đời, mà mỗi bước đi không rời chân như thật tướng. 

Một tâm ta có khả năng xây dựng ra mười pháp giới, thì mười loại chúng sanh ấy sanh trưởng ở lòng ta. Nói rõ ra, chúng là những tư tưởng, những quan niệm phát xuất từ ý thức ở lòng ta, những khái niệm, tư tưởng từ vi tế đến thô động, từ trừu tượng đến cụ thể, luôn luôn chuyển biến trong tâm thức con người còn trong tam giới. 

Thai sanh là những loại sanh do kết tinh từ phôi thai. Noãn sanh là những loài sanh trứng rồi phát triển hình thành từ trứng. Thấp sanh là những loại sanh từ nước, từ chỗ ẩm ướt sanh ra. Hóa sanh là những loại sanh ra do biến hóa, do thoát xác mà thành. Hữu sắc là những loại có hình hài sắc chất. Vô sắc là những loại tư tưởng không nương gá sắc chất hình hài. Phi hữu tưởng là những loại tư tưởng vi tế, không còn tưởng thô. Phi vô tưởng là những khái niệm vi tế gần như bặt hẳn không còn niệm. Gọi mười loại  sanh ấy là chúng sanh, vì "giả chúng duyên nhi sanh, cố viết chúng sanh": Tất cả đều nương các duyên mà sanh khởi, nên gọi "chúng sanh". Là Bồ tát cần diệt độ (diệt trừ, độ tận) tất cả, khiến cho chúng vào vô dư Niết bàn. Nói rõ hơn: Bồ tát cần xóa sạch hình bóng, tác động, cho đến khái niệm vi tế của chúng trong tư duy, trong ký ức của mình. Diệt độ xóa sạch hết mà nên quên đi mình là người diệt và chúng sanh là đối tượng bị diệt độ. 

Vĩnh Gia Huyền Giác nói:

"Ngũ uẫn phù hư không khứ lai
Tam độc thủy bào hư xuất một" 

Vạn vật không ngoài năm uẩn, nhưng xét cho tột, ngũ uẩn chỉ là sự hợp tan. Vô minh không ngoài tam độc, nhưng tư duy cho cùng, tam độc tụ tán như bọt nước đầu ghềnh. Năng độ và sở độ chỉ có thể dùng khi còn:

"....Mộng lý minh minh hữu lục thú": Con người còn mê muội trong sáu nẻo luân hồi. 

Và nó không còn tác dụng lúc:

"Giác hậu không không vô đại thiên": Đến lúc giác ngộ rồi thì cõi tam thiên đại thiên trở thành "Nhất chân pháp giới", cảnh giới “bất nhị". 

Bởi vậy Bồ tát hàng phục tâm mình bằng cách xóa hết năng độ, sở độ ở lòng mình: Bồ tát thấy rõ là:

"Vô minh thật tánh tức Phật tánh"
"Ảo hóa không thân tức pháp thân". 

*****


 

IV. PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC, PHẢI TRỤ TÂM MÌNH NHƯ THẾ NÀO?

Đáp câu hỎi: Vân hà ưng trỤ kỲ tâm? 

PhẬt dẠY: Đúng VỚI pháp tánh, BỒ tát làm viỆc bỐ thí mà không nên trỤ chẤp viỆc bỐ thí cỦa mình làm.  ĐỐi vỚi sẮc, thanh, hương, vỊ, xúc, pháp BỒ tát nên bỐ thí hẾt. BỐ thí mà không chẤp nơi hành đỘng bỐ thí, bỐ thí như vẬy phưỚc đỨc nhiỀu vô lưỢng vô biên. Hư không Ở tám hưỚng, mưỜi phương nhiỀu không thỂ dùng trí óc suy lưỜng.  BỒ tát bỐ thí mà không trỤ, không chẤp tưỚng, thì phưỚc đỨc nhiỀu như hư không vô lưỢng vô biên cỦa mưỜi phương kia vẬy. 

Tu BỒ ĐỀ! BỒ tát nên trỤ tâm như lỜi dẠy cỦa Như Lai!

 

TRỰC CHỈ

Pháp tánh và Phật tánh chỉ là tên gọi khác của bản thể CHÂN NHƯ. Nhận thức trên mặt ĐỒNG, ta thấy Phật tánh và pháp tánh là một. Nhận thức qua mặt DỊ, ta thấy Phật tánh và Pháp tánh không phải một.

 "Phật tánh tại hữu tình

"Pháp tánh tại vô tình

"Phật pháp bản lai vô nhị tánh

"Nhất hỏa năng thiêu bách vạn sài"

Pháp tánh tự nó thanh tịnh. Pháp tánh tự nó không xan tham, không có thủ xả, không có cái của ta của mi. Cái tự tánh thanh tịnh sẵn có của hữu tình chúng sanh gọi là Phật tánh. Tánh thanh tịnh sẵn có của vô tình chúng sanh gọi là Pháp tánh. Phật tánh và pháp tánh không hai, ví như cùng một thứ lửa tùy đốt vào củi mà tên lửa và độ nóng có khác. Sự thật, pháp tánh là tự tánh "như thị bản nhiên" của hiện tượng vạn pháp. Nó không là sắc, là thanh, là hương, là vị, là xúc, là pháp...Cho nên sống đúng với pháp tánh, tùy thuận pháp tánh, thì gọi là bố thí, kỳ thật Bồ tát chẳng có bố thí gì.

 

Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là vật chất tồn tại khách quan, là hiện tượng vạn vật của vũ trụ. Tham lam mù quáng, chấp mắc si mê, bảo thủ, ù lì, đam mê rồ dại, thương cảm yếu hèn, luyến ái đần độn, nghĩ ngợi viễn vông là những thứ làm cho con người sống trái với pháp tánh thanh tịnh "như thị bản nhiên" của vạn hữu an bài. 

Bồ tát sống với ý thức an nhiên, theo quy luật vận hành biến dịch:

..."Chư pháp tùng bản lai
"Thường tự tịch diệt tướng
”Xuân đáo bách hoa khai
”Hoàng oanh đề liễu thượng..."

Trạng thái bố thí của Bồ tát là thí tất cả mà chẳng thấy có thí gì. Tu như thế, gọi là XỨNG TÁNH KHỞI TU. Sống như thế, gọi là TÙY THUẬN PHÁP TÁNH. Cho nên, gọi là làm việc bố thí, nhưng Bồ tát không TRỤ TƯỚNG, không chấp đó là CÔNG ĐỨC, đó là hành động bố thí do mình làm. Bởi vì sự tu hành đó chỉ là sống cho phù hợp với pháp tánh vốn vậy của chính mình. Sống đúng pháp tánh, tùy thuận pháp tánh là có phước đức, mà không cần TRỤ CHẤP CÔNG LAO để mong chờ, để đòi hỏi phước đức ở nơi ai khác ưu ái ban cho. 

"Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" 

Là Bồ Tát đối với hạnh bố thí phải cảnh giác với tự tâm: "ƯNG VÔ SỞ TRỤ" đừng chấp việc bố thí của mình. Bố thí như thế, phước đức nhiều như hư không trong mười phương, phước đức vô lượng vô biên vậy. 

*****


 

V. THẾ NÀO LÀ MỘT ĐỨC TIN CÓ GIÁ TRỊ?

Ông Tu BỒ ĐỀ thưa: BẠch ThẾ Tôn! Có thỂ có chúng sanh nghe nhỮng lỜi lẼ, ý thú vỀ vẤn đỀ hàng phỤc tâm và trỤ tâm như thẾ, sanh lòng tin thẬt chăng? 

PhẬt bẢo: Tu BỒ ĐỀ! Ông đỪng lo nghĩ như vẬy, sau Như Lai diỆt đỘ, 500 năm vỀ sau vẪn có ngưỜi tu hành và sanh lòng tin thẬt đỐi vỚi vẤn đỀ hàng phỤc và trỤ tâm như tHẾ. 

Tu BỒ ĐỀ! nhỮng ngưỜi sanh lòng tin thẬt là nhỮng ngưỜi tỪng vun trỒng căn lành không nhỮng Ở mỘt, hai, ba, bỐn, năm ĐỨc PhẬt.  HỌ đã trỒng căn lành vỚi vô lưỢng ngàn muôn ĐỨc PhẬt rỒi. 

NẾu có ngưỜi nghe ý thú kinh nẦy, sanh lòng tin trong sẠch thì Như Lai đỀu biẾt đỀu thẤy nhỮng chúng sanh đó phưỚc đỨc vô lưỢng vô biên, như hư không cỦa mưỜi phương. Vì nhỮng chúng sanh đó, không CÒN có tưỚng ngã, tưỚng nhơn, tưỚng chúng sanh và tưỚng thỌ mỆnh. HỌ cũng không còn tưỚng chẤp chánh pháp hay là phi pháp. Vì sao? Vì nẾu hỌ còn chẤp bỐn tưỚng thì đã không tin nỔi VẤN ĐỀ Như Lai nói.  Vì vẬy, BỒ tát không nên chẤp: Ngã, nhơn, chúng sanh và thỌ mỆnh, cũng không nên chẤp chánh pháp hay phi chánh pháp. 

Do nghĩa đó, Như Lai thưỜng nói: Các tỲ khưu, phẢi biẾt pháp cỦa Như Lai nói ví như thuyỀn bè. Chánh pháp còn phẢi bỎ, huỐng hỒ phi pháp!

 

TRỰC CHỈ

TIN là cửa ngõ vào đạo. Người không có đức tin coi như tự mình đóng bít cửa ngõ vào đạo của mình. Nhưng có đức tin quá nhẹ dạ, tin điên đảo quàng xiên, tin cậu cốt, cô đồng thì không phải là những đức tin cần có cho người Phật tử muốn đi trên đường giải thoát giác ngộ. Trái lại, đạo Phật xem những đức tin quàng xiên, nhảm nhí, như một thứ bùn đen, khi chiếc áo trắng bị nhuộm rồi, thì khó mà nhuộm những màu sắc thắm tươi, xinh đẹp. Người đệ tử Phật phải hết sức thận trọng đức tin. 

Về đức tin, trong nền giáo lý Phật được phân tích chọn lọc kỹ càng. Đại để chia thành sáu thứ: 

1.      Tín tự: Phải tin mình là Phật và tin khả năng thành Phật của mình. 

2.      Tín tha: Tin lời Phật dạy là thật. Hành đúng lời Phật dạy sẽ có giải thoát, giác ngộ thật. 

3.      Tín nhân: Rằng muốn ăn quả, tất phải trồng cây. Không trồng cây, chỉ cầu nguyện van xin để được có quả ăn là điều không thể có. 

4.      Tín quả: Quả ngọt được ăn hiện nay là do ta đã trồng cây ở những năm tháng trước. Không bao giờ có quả mà chẳng phát xuất tự hạt nhân. 

5.      Tín sự: Làm tất cả việc thiện, không phải Phật, diệt trừ vô minh phiền não nội tâm, cũng không phải Phật. Nhưng do làm những điều đó mà Phật tánh sẵn có của ta mới được hiện ra. 

6.      Tín lý: Si mê thì ta là chúng sanh, sống triền miên đau khổ ở cõi Ta Bà. Giác ngộ thì ta là Bồ Tát, Phật, Bồ Đề, Niết Bàn, Cực lạc thế giới, ở tại chỗ mà ta đang ở. 

Giáo lý kinh Bát Nhã Ba La Mật nghe mà sanh lòng tin trong sạch là người chánh tín. Sự chánh tín đó được nhân lên gấp nhiều lần. Vì người có được chánh tín là người đã dứt trừ được bốn tướng chấp.....Người đó cũng dứt hết tướng chấp về CHÁNH PHÁP và PHI PHÁP nữa. Họ đã có Bát Nhã Ba La Mật, thể nhập Bát Nhã Ba La Mật và sống với Bát Nhã Ba La Mật rồi vậy. Người đó đã trồng căn lành với vô lượng nghìn muôn Đức Phật rồi. Do vậy, phước đức của họ nhiều vô lượng vô biên. 

Là Phật tử chân chính, phải hết sức thận trọng đức tin. Phải tránh xa những gì MÊ TÍN, có tánh cách huyển hoặc hoang đường. Giá trị của một lòng tin CHƠN CHÁNH phải được phát xuất từ Bát Nhã Ba La Mật, một thứ trí tuệ đến nơi đến chốn. Thứ trí tuệ tột chót đỉnh cao! 

*****


 

VI. VẤN ĐỀ THÀNH PHẬT VÀ THUYẾT PHÁP CỦA MỘT NHƯ LAI 

PhẬt bẢo ông Tu BỒ ĐỀ: Ý ông nghĩ sao? Như Lai có chỨng quẢ Vô ThưỢng Chánh ĐẲng Chánh Giác chăng? Như Lai có thuyẾt pháp chăng? 

Ông Tu BỒ ĐỀ thưa: BẠch ThẾ Tôn! Như con hiỂu ý nghĩa cỦa PhẬt nói, không có pháp cỐ đỊnh nào gỌi là Vô ThưỢng Chánh ĐẲng Chánh Giác và Như Lai cũng chẲng nói pháp nào cỐ đỊnh.  Vì vẬy pháp Như Lai nói ra không nên khư khư chẤp thỦ, cũng không nên phê phán hỜi hỢt: RẰng pháp nẦy đúng, pháp nỌ không đúng. Vì sao? Vì Như Lai chỈ thuyẾt mỘt thỨ giáo pháp mà ngưỜi thì nghe chỨng đưỢc quẢ thánh, lẠi cũng có kẺ chỈ chỨng đẾn bẬc hiỀn.

 

TRỰC CHỈ

Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là quả vị Phật, quả vị của một Như Lai. Thế mà ở đây, Phật lại hỏi ông Tu Bồ Đề: "Như Lai có chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác không?".  Đấy là câu hỏi kỳ lạ bất bình thường. Đặt vấn đề đúng, giải thích đúng câu hỏi đó, thì nên mừng rằng mình đã nếm được hương vị của Bát Nhã Ba La Mật, đã phá vỡ cái vỏ tri thức, vượt ra cái khung lồng kiến giải tầm thường về Như Lai, Phật. Thật ra, vấn đề không phải phức tạp khó khăn nhiều, chỉ cần sự nhận thức tư duy trong sáng, dám lột bỏ chiếc áo thần tượng thiêng liêng do cảm tình thấp kém, người ta đã khoác lên cho Đức Phật, cho các bậc Như Lai, thì ta sẽ thấy rỏ vấn đề. 

GIÁC đối với MÊ, nếu không có MÊ thì cũng không có GIÁC. PHẬT là đối với CHÚNG SANH, nếu không có CHÚNG SANH thì không có PHẬT. VÔ THƯỢNG là đối với HỮU THƯỢNG, nếu không có HỮU THƯỢNG thì VÔ THƯỢNG bất thành. Phật thì sống theo giác tánh, sống đúng giác tánh, sống hợp giác tánh. Bất cứ ai sống theo giác tánh, đúng giác tánh, hợp giác tánh gọi là người giác ngộ, người tỉnh thức, là Phật. Trình độ giác ngộ của Phật, là trình độ giác ngộ tuyệt đỉnh cao của trí tuệ, không còn mức độ nào trên, cho nên gọi là VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC: Bậc Chánh Giác VÔ THƯỢNG, trong những người chánh giác. Thế thôi! 

MÊ là chúng sanh. Tuy nhiên, chúng sanh cũng có giác tánh như Phật. Song, chúng sanh sống trái giác tánh, sống ngược và sống sai giác tánh, nên gọi người mê. Mê là người có nhiều tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, phẩn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, siễm, hại, kiêu, vô tàm, vô quý, điệu cữ, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri. Chúng sanh là thế đấy! 

Qua nhận thức đó, ta thấy Như Lai chẳng có CHỨNG ĐẮC gì. 

Phật là người. Chúng sanh cũng là người. Phật có giác tánh, chúng sanh cũng có giác tánh. Chỉ khác nhau ở chỗ:

Phật thì sống theo, sống hợp, sống đúng giác tánh. Còn chúng sanh thì sống trái, sống sai, sống ngược giác tánh, mà thôi. 

Bởi lẽ đó, trên bước đường tu tập, người đệ tử Phật chơn chính, không nên có ý mong cầu CHỨNG ĐẮC. Bởi vì quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác không phải cái ở ngoài ta. Lại cũng không phải do ai cho mới có. Cầu CHỨNG ĐẮC PHẬT QUẢ  bên ngoài, vô tình ta xua đuổi mất ông Phật thật, ông Phật thường trú của chính ta! 

Pháp Phật là bất định pháp. Khư khư chấp cố định một pháp nào là không hiểu Phật, là kẻ vu oan giá họa Phật. 

Pháp tà bỏ đi đã đành, pháp chánh cũng không được khư khư bảo thủ. Mà có lúc cần phải bỏ nốt nó đi. Một thầy thuốc đại tài không bao giờ tuyên bố một "diệu dược thần phương" nào cố định. Phật là "vô thượng y vương" luôn luôn gia giảm phương thang pháp dược, tùy đối tượng, tùy tâm bệnh của mỗi người mà cắt thuốc. Ta hãy học tập cái nhìn Phật pháp qua nhận thức của các bậc tiền bối như sau: 

"Lãm ngũ thời bát giáo, kỹ cương kinh luật luận, chân tam muội hải".
"Chiếu thất đại tứ khoa, khai hợp văn tư tu đệ nhất nghĩa thiên". 

Phải hiểu Phật pháp bằng tri kiến bao quát suốt thông, ta mới sử dụng pháp dược đúng yêu cầu của chúng sanh tâm bịnh. 

Sở dĩ Phật phủ nhận sự thuyết pháp của mình, nhằm ngăn ngừa những tư tưởng chấp mắc, bảo thủ ở pháp Như Lai nói. Cùng hấp thụ nước của một trận mưa mà cỏ cây lùm rừng sanh trưởng khác nhau. Phật nói một thứ VÔ VI PHÁP, nghe ra có kẻ chứng THÁNH, còn người chỉ chứng đến bậc HIỀN. Đó không phải: PHẬT PHÁP BẤT ĐỊNH PHÁP là gì! "Thuyết pháp giả vô pháp khả thuyết". Gọi là thuyết pháp mà Như Lai chẳng nói pháp gì, Phật sẽ dạy rõ ở một chương sau. 

*****


 

VII.  ĐỆ TỬ PHẬT PHẢI LÀM GÌ ĐỂ CÓ ĐƯỢC PHƯỚC ĐỨC NHIỀU?

PhẬt bẢo: NẦy Tu BỒ ĐỀ! GiẢ như có ngưỜi đem thẤt bẢo đẦy tam thiên đẠi thiên thẾ giỚi, đỂ làm viỆc bỐ thí, vẬy phưỚc đỨc cỦa ngưỜi đó có nhiỀu chăng? 

_ BẠch ThẾ Tôn: rẤt nhiỀu. Ông Tu BỒ ĐỀ thưa, nhưng phẢi hiỂu đúng lỜi Như Lai dẠy: Không nên chẤp phưỚc đỨc có tỰ tánh.  NẾu không chẤp phưỚc đỨc có tỰ tánh, Như Lai nói phưỚc đỨc nhiỀu. 

PhẬt bẢo: ĐỐi vỚi kinh nẦy, có ngưỜi thỌ trì, nẾu không đưỢc nhiỀu thì chỪng bỐn câu kỆ, rỒi giẢng nói cho ngưỜi khác nghe, phưỚc đỨc cỦa ngưỜi nẦy nhiỀu hơn ngưỜi làm viỆc bỐ thí trưỚc. 

Tu BỒ ĐỀ! TẤt cẢ chư PhẬt và pháp Vô ThưỢng Chánh ĐẲng Chánh Giác cỦa chư PhẬt, đỀu tỪ kinh nẦy ra. 

NẦy! Tu BỒ ĐỀ! GỌi là PhẬt pháp mà không phẢi PhẬt pháp!

 

TRỰC CHỈ

* Người đời thường gọi phước đức, nhưng nào ai thấy được phước đức là gì.  Phước đức là một danh ngôn trừu tượng. Người ta chỉ có thể khái niệm về phước đức qua cuộc sống hàng ngày. Đại để: Sự bình an, vui tươi, khỏe mạnh, sự êm đẹp, may mắn của đời sống con người. Nếu có người hỏi: Phước đức là gì? Người ta sẽ lúng túng và thấy rằng phước đức không là gì cả. Nó không có kích thước, dung lượng, không thể tích trọng lực, không màu sắc: xanh, vàng, đỏ, trắng....Tóm lại: phước đức không có tự thể. Thế nên, người trí làm việc phước đức mà không chấp phước đức, Như Lai mới nói là phước đức nhiều. 

Trong vô lượng pháp môn tu, ta tìm xét: Phước đức không phải bất sát, bất đạo, bất dâm, bất vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, bất tham, bất sân, bất vô minh. Phước đức cũng không phải bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Đó là ý nghĩa phước đức bất tức (không là). Nhưng người đệ tử Phật, cũng nên nhớ rỏ rằng: Ngoài những việc tu sửa thân tâm nói trên, không có điều kiện làm nên phước đức. Đó là nghĩa phước đức bất ly (là). Vậy, phước đức nhiều, có nghĩa là người Phật tử phải sống phù hợp với tự tâm thanh tịnh, sống đúng thật tướng Bát Nhã của mình.  Như Lai nói đó là người được phước đức nhiều. 

      Bố thí thất bảo...phước đức đã nhiều. Thọ trì đọc tụng giảng nói kinh Bát Nhã Ba La Mật, phước đức lại nhiều hơn. Vì sao? Vì người tu học, truyền bá kinh Bát Nhã Ba La Mật là mầm tược cây trí tuệ đã sanh sôi, phát triển mạnh. Họ gần đạt đến mục tiêu hái được hoa trái GIÁC NGỘ GIẢI THOÁT hoàn toàn mỹ mãn rồi vậy! 

Không có Bát Nhã Ba La Mật, là mê mờ, gọi là chúng phàm phu. Có Bát Nhã Ba La Mật, không bao lâu đạt đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Do nghĩa đó,  Bát Nhã Ba La Mật là kinh sản sanh ra chư Phật và pháp của chư Phật. 

* Nói rằng Phật pháp, người trí không cho là cái gì xa lạ và kinh khiếp gớm ghê. Phật vốn là một con người như tất cả con người. Pháp của Phật, cũng chẳng phải cái gì huyền bí xa xăm. Pháp chẳng phải là một thứ sở hữu riêng của một đức Phật. Pháp Phật nói ra đều nhằm chỉ bày sự thật của hiện tượng vạn hữu. Hiện tượng vạn hữu (pháp) là của chung, mọi người đều có quyền biết, có quyền sống đúng theo quy luật của sự thật hiện hữu, của vạn pháp, và mọi người đều có quyền thừa hưởng một đời sống an lành, hạnh phúc trong sự nghiệp giải thoát giác ngộ của chính mình. 

Thế nên, nói rằng: Phật Pháp, kỳ thật chẳng phải PHÁP RIÊNG CỦA PHẬT. 

*****

 

VIII. VẤN ĐỀ CHỨNG ĐẮC TRONG ĐẠO PHẬT,  NGƯỜI PHẬT TỬ PHẢI HIỂU NHƯ THẾ NÀO?

PhẬt bẢo: Tu BỒ ĐỀ! Ông hiỂu thẾ nào? NhỮng ngưỜi chỨng đẮc tỨ quẢ Thanh văn, có thỂ nghĩ rẰng chính mình đã chỨng đưỢc tỨ quẢ Thanh văn chăng? 

Ông Tu BỒ ĐỀ thưa: Không thỂ, theo con hiỂu

_ TU Đà Hoàn là đưỢc quẢ nhẬp lưu, nhưng thỰc ra không nhẬp vào đâu cẢ. TẠi vì không nhẬp, không dính mẮc vỚi sẮc, thanh, hương, vỊ, xúc, pháp gỌi là TU Đà Hoàn.

_ TƯ Đà Hàm là NGƯỜI đưỢc quẢ nhẤt lai, nhưng thẬt ra chẲng thẤy có vãng lai, nên gỌi là Tư Đà Hàm.

_ A Na Hàm là ngưỜi đưỢc quẢ bẤt lai, mà không thẤy có tưỚng bẤt lai, nên gỌi là A Na HÀm. 

BẠch ThẾ Tôn! GỌi là A La HỚn, kỲ thỰc chẲng có cái chi là A La HỚn cẢ.  BẠch ThẾ Tôn! NẾu có vỊ A La HỚn nghĩ rẰng: Tôi đưỢc quẢ A La HỚn thì mẮc vào bỐn tưỚng chẤp: Ngã, nhơn, chúng sanh và thỌ mỆnh, thẾ thì không còn đưỢc gỌi là A La HỚn nỮa. 

BẠch ThẾ Tôn! PhẬt đã khen: RẰng Tu BỒ ĐỀ đưỢc vô tránh tam muỘi, là ngưỜi bẬc nhẤt, là A La HỚn ly dỤc đỨng đẦu. 

BẠch ThẾ Tôn! NẾu con có ý nghĩ: RẰng con đưỢc quẢ A La HỚn thì ThẾ Tôn đã hẲn chẲng khen: Tu BỒ ĐỀ là con ngưỜi ưa hẠnh tỊch tỊnh.  Do vì con không móng niỆm chẤp mẮc, ThẾ Tôn mỚi khen: Tu BỒ ĐỀ là con ngưỜi ưa hẠnh tỊch tỊnh.

 

TRỰC CHỈ

* Vấn đề chứng đắc là phương tiện giả lập danh ngôn. Hành giả chân chính không bao giờ để tâm ước mong chứng đắc. Uớc mong chứng đắc và xem sự chứng đắc như một chức tước, phẩm trật thụ phong là một sự sai lầm trầm trọng đáng thương. Người đó vĩnh viễn ở ngoài lề Phật pháp. Phải hiểu rằng: Tất cả quả vị từ thấp tới cao là do sự giác ngộ chân lý, giải thoát vô minh phiền não trọn vẹn hay chưa của hành giả mà ước định. Không một đấng tha nhân, một thế lực siêu nhiên nào có quyền ân sủng ban cho hay thương tình phong tặng. Sự giải thoát giác ngộ đến mức độ nào, tùy thuộc sự nhận thức của hành giả đối với: Vô minh, hoặc lậu và công dụng hóa giải, đấu tranh, giữa hai lực lượng GIÁC và MÊ của thâm tâm mình trong cuộc sống hằng ngày. Theo Phật học: Mâu thuẩn cơ bản và cũng là mâu thuẩn đối kháng giữa triền phược và giải thoát, giữa giác ngộ và mê mờ của hành giả, được thể hiện qua ba tầng hoặc lậu. Đó là những đối tượng cần được hóa giải và đấu tranh của một hành giả phát tâm đi con đường Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. 

Những hoặc Lậu đó là: 

1. HOẶC KIẾN, TƯ: Hoặc nầy ràng buộc chúng hữu tình trôi lăn trong tam giới, lên xuống ở sáu đường (hoặc giới nội). Gọi là hoặc KIẾN TƯ cho nên có:

A. Kiến hoặc: Kiến hoặc là sự sai lầm về nhận thức, hoặc nầy gồm có:


1. Thân kiến
2. Biên kiến
3. Tà kiến
4. Kiến thủ kiến
5. Giới cấm thủ kiến 

B. Tư hoặc: Đây là sự sai lầm cả nhận thức lẫn hành động, gồm có:


1. Tham
2. Sân
3. Si
4. Mạn
5. Nghi
6. Ác kiến  

2. HOẶC TRẦN SA: Hoặc trần sa che chướng chân lý, làm cho năng lực giác ngộ bị kềm hãm, sự giáo hóa chúng sanh bị hạn chế tiêu cực. Những người đã được ra ngoài ba cõi, vẫn còn bị tác động bởi hoặc nầy. Còn hoặc trần sa, chưa hóa giải hết, địa vị chỉ đến A La Hớn quả và Bích chi Phật của nhị thừa. Khác với hoặc kiến tư, hoặc trần sa không biểu hiện một trạng thái cụ thể nhất định nào ở chủ quan nội tại. Nó là hậu quả của sự nhận thức chân lý chưa hoàn thiện. Vì nó cũng chỉ là thứ hoặc lậu vốn dĩ hư huyễn của tha nhân. Nói một cách dễ hiểu: Đối với chân lý, người nhị thừa chỉ nhận thức ước độ 60 phần trăm. Do trần sa hoặc che chướng mất đi 40 phần trăm chân lý còn lại. 

3. VÔ MINH HOẶC: So với hoặc trần sa của người nhị thừa, hoặc vô minh che chướng một phần vi tế đối với chân lý. Hoặc vô minh làm hạn chế một phần nhỏ sự giác ngộ chân lý của Bồ tát. Nó chỉ có thể làm cho Bồ tát còn một chút ngần ngại bước tiến của mình trên đường đến đích: Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.  

Tóm lại, vấn đề chứng đắc quả vị chỉ là sự ước định cái năng lực hóa giải đấu tranh, diệt trừ hoặc chướng trên đường tu tập từ phàm phu đến Phật quả. Nó chỉ được xem như những trụ số ghi dấu trên đường dài. Người trí đi đường chỉ cần đến đích, không lưu luyến quẩn quanh ở nơi trụ số, lưu luyến trụ số, không thể tiến đến xa hơn. Hành giả Phật tử chấp mê tham luyến quả vị là phạm phải sai lầm nghiêm trọng, bước tiến sẽ bị chận đứng trên đường giác ngộ giải thoát. Vướng mắc vào quả vị cũng tức là vướng mắc: ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mệnh. Vướng mắc vào chứng đắc, cũng tức là vướng mắc bốn chứng bịnh trầm kha:  ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mệnh. Đã vướng mắc rồi, tinh tấn bao nhiêu, có khổ công khổ hạnh thế nào, cũng chỉ là người mò trăng đáy nước, nấu cát mong được thành cơm! Không có ngày hiện thực. 

Vấn đề chứng đắc, người đệ tử Phật nên thận trọng, lưu tâm!

 

*****

IX. LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRANG NGHIÊM CHO MÌNH MỘT CÕI PHẬT

PhẬt bẢo ông Tu BỒ ĐỀ: Ông hiỂu thẾ nào?  Trong thỜi PhẬt Nhiên Đăng xa xưa, đỐi vỚi PhẬt pháp lúc bẤy giỜ, Như Lai có chỨng đẮc gì không?
 

_ BẠch ThẾ Tôn: Không, Ở thỜi PhẬt Nhiên Đăng, Như Lai không đẮc mỘt pháp gì. 

_ Tu BỒ ĐỀ! Ông hiỂu thẾ nào? BỒ tát có thỂ trang nghiêm cho mình mỘt cõi PhẬt không? 

_ BẠch ThẾ Tôn: Không, vì sao? Vì gỌi rẰng trang nghiêm cõi PhẬt, nhưng thỰc ra không có trang nghiêm mà gỌi trang nghiêm vẬy thôi. 

_ Đúng vẬy, Tu BỒ ĐỀ! Các ĐẠi BỒ tát nên sanh tâm trong sẠch như thẾ. Không nên sanh tâm trỤ chẤp nơi sẮc, không nên sanh tâm trỤ chẤp nơi thanh, nơi hương, vỊ, xúc, pháp, nên sanh tâm vô sỞ trỤ.

Tu BỒ ĐỀ! Ví như có ngưỜi thân lỚn như núi chúa tu di, ông nghĩ thẾ nào? Thân ngưỜi đó có lỚn không? 

_ BẠch ThẾ Tôn: RẤt lỚn. Vì sao? Vì theo lỜi PhẬt: SỰ to lỚn đó, phẢi đưỢc hiỂu là tương đỐi lỚn và đỪng chẤp lỚn thì đưỢc gỌi là rẤt lỚn.

 

TRỰC CHỈ

* Nếu hiểu được phẩm NHƯ LAI THỌ LƯỢNG ở kinh Pháp Hoa, ta sẽ thấy rõ thêm nghĩa NHƯ LAI ở kinh Bát Nhã nầy: Như Lai giả, vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ. Như Lai là cái bản thể chân như, bất tăng bất giảm, bất diệt bất sanh. Đến không chỗ từ, đi không chỗ tới: Như Lai vô thỉ vô chung. Hiểu như vậy rồi, thì Như Lai hiện tại hay Như Lai ở thời Phật Nhiên Đăng xa xưa, cũng chẳng có gì gọi là CHỨNG ĐẮC. Hiểu đúng chánh pháp, qua lăng kính Bát Nhã Ba La Mật: Từ bạc địa phàm phu, tiến lên quả vị Phật, trải qua bao giai đoạn biến dịch sanh tử, bất tư nghì, hãy còn không được gọi là CHỨNG ĐẮC, huống hồ địa vị một Như Lai! Mê thì vô minh phiền não tác động hoành hành gọi là phàm phu chúng sanh. Giác thì vô minh phiền não tự tan biến hết. Có giải thoát, giác ngộ thì gọi là Như Lai, Phật. Thế nên, biết rằng, xưa kia cũng như hiện nay, Như Lai nào có CHỨNG ĐẮC Phật pháp gì đâu! 

Vấn đề, trang nghiêm cõi Phật, cần có chất liệu gì? 

Bồ tát trang nghiêm một cõi Phật tôn nghiêm, để khi thành Phật, mình có một cõi nước bằng thất bảo đẹp đẽ huy hoàng như cõi nước chư Phật mười phương, được kinh điển mô tả. Muốn trang nghiêm cõi Phật, là nguyện vọng chánh đáng, Phật không cấm đoán quở rầy. Vấn đề là ở chỗ: phải biết lấy chất liệu gì để trang nghiêm xây dựng.  

Đem vàng ròng cúng chùa, xây cất trai đường, tăng xá, để ngày thành Phật mình có cõi nước Phật bằng vàng ròng ư? - Không được. 

Đem bạc lát nền chùa, đem vàng đúc tượng Phật, tạo khánh ngọc, chuông vàng, để sau này thành Phật, có được cõi Phật bằng vàng bạc kim cương châu báu ư? - Không phải 

Đem tất cả của cải quý giá cúng chùa, khắc tên họ vào bia đồng, bảng đá trước điện Phật, nhờ chư tăng chú nguyện hồi hướng công đức cho, để sau nầy thành Phật, mình sẽ có cõi nước toàn những thứ quý giá lộng lẫy ấy ư? - Mê tín lắm! 

Nếu có những ý nghĩ trên, thật rất ngây thơ. Đem cái nhân vật chất hữu vi, trang nghiêm xây dựng để mong cầu cái quả giải thoát giác ngộ vô vi, vĩnh viễn trong tương lai không có ngày hiện thực.  

Theo giáo lý Bát Nhã Ba La Mật, mọi người có khả năng trang nghiêm cho mình một cõi Phật mà không cần khởi tâm dụng ý trang nghiêm. Tùy khả năng hoàn cảnh thích hợp với mình, hành giả có thể thực hành từng phần hay toàn phần những pháp môn sau đây:

1. QUÁN TỨ NIỆM XỨ

  1. Quán thân bất tịnh.

  2. Quán thọ thị khổ.

  3. Quán tâm vô thường.

  4. Quán pháp vô ngã.

2. TU TỨ CHÁNH CẦN

  1. Việc thiện chưa sanh siêng năng kích khởi.

  2. Việc thiện đã sanh siêng năng phát triển.

  3. Việc ác chưa sanh siêng năng ngăn chận.

  4. Việc ác đã sanh cương quyết dứt trừ.

3. ĐỀ KHỞI TỨ NHƯ Ý TÚC

  1. Dục

  2. Tinh Tấn

   3.      Hỷ

  1. Nhất tâm.

4. KÍCH KHỞI NGŨ CĂN

  1. Tín

  2. Tấn

  3. Niệm

  4. Định

  5. Tuệ.

5. PHÁT TRIỂN NGŨ LỰC

  1. Tín

  2. Tấn

  3. Niệm

  4. Định

  5. Tuệ

6. TƯ DUY THẤT BỒ ĐỀ PHẦN

  1. Trạch pháp

  2. Tinh tấn

  3. Hỷ

  4. Khinh an

  5. Niệm

  6. Định

  7. Xả

7. THỰC HÀNH BÁT CHÁNH ĐẠO

  1. Chánh kiến

  2. Chánh tư duy

  3. Chánh ngữ

  4. Chánh nghiệp

  5. Chánh mệnh

  6. Chánh tinh tấn

  7. Chánh niệm

  8. Chánh định

8. VẬN DỤNG TỨ NHIẾP PHÁP

  1. Bố thí

  2. Ái ngữ

  3. Lợi hành

  4. Đồng sự

9. THỂ NHẬP LỤC ĐỘ TRONG CUỘC SỐNG HẰNG NGÀY

  1. Bố thí

  2. Trì giới

  3. Nhẫn nhục

  4. Tinh tấn

  5. Thiền định

  6. Trí tuệ

Thực hiện những điều trên hành giả sẽ có cõi Phật TRANG NGHIÊM mà không cần chất liệu: kim, ngân...thất bảo để trang nghiêm xây dựng. Đó là thâm nghĩa của câu: TRANG NGHIÊM PHẬT ĐỘ GIẢ, TỨC PHI TRANG NGHIÊM, THỊ DANH TRANG NGHIÊM: gọi là trang nghiêm cho mình một cõi Phật, kỳ thật chẳng có trang nghiêm gì! 

Vấn đề nhiều ít lớn nhỏ cũng vậy. Hành giả Bát Nhã Ba La Mật luôn luôn trong tỉnh giác, cho nên khi nhận thức một sự vật, có phân biệt lớn, nhỏ. Rất lớn hay rất nhỏ. Nhưng hành giả hiểu rằng: lớn là lớn đối với cái nhỏ. Rất lớn là lớn đối với cái khá to. Cho nên dù là rất lớn, nhưng cái lớn đó phải hiểu là cái lớn trong vòng tương đối: hiểu như vậy, Bồ tát sanh tâm VÔ SỞ TRỤ. Vì TRỤ thì tự khắc đã sai lầm. Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp cũng thế. Chúng là đối tượng của lục căn, là pháp nhân duyên sanh khởi. Hãy nhìn sự vật hiện tượng bằng Bát Nhã Ba La Mật và luôn luôn thức tỉnh: ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SANH KỲ TÂM

*****


 

X. NGƯỜI ĐỆ TỬ PHẬT PHẢI LÀM GÌ ĐỂ CÓ ĐƯỢC PHƯỚC ĐỨC NHIỀU?

ĐỨc PhẬt bẢo: Tu BỒ ĐỀ! Ông hãy tưỞng tưỢng: NẾu sỐ sông HẰng nhiỀu bẰng sỐ cát cỦa sông HẰng thì sỐ sông HẰng đã là nhiỀu vô sỐ kỂ.  Nói đẾn sỐ cát cỦa nhỮng sông HẰng kia quẢ là vô lưỢng vô biên, vưỢt ngoài con sỐ tính toán suy lưỜng. 

Tu BỒ ĐỀ! Như Lai nói thẬt cho ông biẾt: NẾu có thiỆn nam thiỆn nỮ nào đem thẤt bẢo chỨa đẦy cõi tam thiên đẠi thiên và nhiỀu bẰng sỐ cát cỦa nhỮng sông HẰng kia dùng làm viỆc bỐ thí, ngưỜi nẦy đưỢc phưỚc rẤt nhiỀu. 

Nhưng nẦy! Tu BỒ ĐỀ! NẾu có thiỆn nam thiỆn nỮ nào thỌ trì đỌc tỤng kinh Bát Nhã Ba La MẬt, rỒi giẢng nói cho ngưỜi khác nghe, nẾu không đưỢc nhiỀu thì chỪng bài kỆ bỐn câu, phưỚc đỨc cỦa ngưỜi nẦy nhiỀu hơn ngưỜi bỐ thí cỦa cẢi trưỚc. 

TRỰC CHỈ

Nỗi thống khổ của con người có nhiều dạng khác nhau, nhưng chung quy có hai thứ: khổ thân và khổ tâm. 

Giúp cho người bớt khổ thân thì giúp cho của cải vật chất. 

Giúp cho con người hết khổ tâm thì giúp cho sự hiểu biết chân lý, thông qua giáo pháp Phật. Giúp cho của cải vật chất đem lại sự an vui hiện tại trong cuộc sống gia đình. Giúp cho giáo pháp Phật hiểu biết chân lý sẽ đem lại an vui giải thoát giác ngộ cho hiện tại và tương lai. Theo giáo lý Phật, hành vi của cuộc sống hiện tại, ảnh hưởng sự vui khổ của con người trong hiện tại cả tương lai. Vật chất vĩnh viễn tồn tại khách quan trong quá trình vận động sinh diệt, diệt sinh của nó. Con người là một dạng vật chất, ngũ uẩn hợp thành, con người cũng vĩnh viễn tồn tại, cũng theo quá trình vận động sinh diệt, diệt sinh. Nhưng con người khác vạn vật ở chỗ con người có tạo tác hành vi. Hành vi tạo tác thiện ác của con người sẽ là một dẫn lực hấp dẫn con người đến hậu quả an vui hay sầu khổ. 

Nghiệp nhân (hành vi) thiện ác, quả báo khổ vui hấp thụ nhau trong định luật "Đồng khí tương cầu" "Đồng thanh tương ứng". Theo giáo lý Phật, vạn tượng vật chất và con người vật chất cùng có chung một bản tánh chơn như. Tánh chơn như tác động vào vạn tượng vật chất gọi là Pháp tánh. Tánh chơn như tác động vào con người vật chất gọi là Phật tánh. Tánh chơn như duy thức học còn gọi là tánh THẮNG NGHĨA là THỰC TÁNH DUY THỨC. 

Duy thức luận nói:
 

"Thử chư Pháp thắng nghĩa.
"Diệt túc thị chơn như
"Thường như kỳ tánh cố
"Tức duy thức thực tánh." 

Giúp cho của cải vật chất dù nhiều vô lượng vô biên, nhưng sự giúp đỡ đó chỉ trừ được khổ thân cho con người trong giai đoạn. Với giáo lý Phật, nếu con người chỉ biết hưởng thụ dục lạc cho thỏa mãn hả hê trong hiện tại mà không gieo hạt giống lành, trồng nhơn tốt là một thiếu sót lớn lao. Theo giáo lý Phật, chết không có nghĩa là đoạn diệt. Cũng như vật chất có hư hoại nhưng hư hoại không có nghĩa là vĩnh viễn tiêu ma. 

Hướng dẫn cho nhiều người nghe học Bát Nhã Ba La Mật là gieo vào lòng người ta hạt giống Bồ đề, Niết bàn để có ngày đơm bông kết trái. Thế nên, phước đức của người làm việc bố thí của cải không thể sánh bằng. 

*****

 

XI. BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA LÀ MỘT THỨ KINH ƯU VIỆT

PhẬt bẢo: Tu BỒ ĐỀ! NẾu chỖ nào có ngưỜi giẢng nói kinh Bát Nhã Ba La MẬt chỈ đưỢc chỪng bỐn câu kỆ, trỜi, ngưỜi, A Tu La đỀu nên cúng dưỜng và xem chỖ đó như tháp miẾu PhẬt.  

NgưỜi thỌ trì đỌc tỤng toàn kinh thì phưỚc đỨc vô lưỢng vô biên, là ngưỜi thành tỰu pháp tỐi thưỢng hi hỮu bẬc nhẤt. ChỖ nào có kinh điỂn nẦy là Ỏ chỖ đó có PhẬt hoẶc hàng đỆ tỬ lỚn cỦa PhẬt Ở đó. 

TRỰC CHỈ

Phật là người giác ngộ chân lý hoàn toàn. Căn bản của sự giác ngộ chân lý là trí tuệ Ba La Mật. Kinh nầy dạy con người sử dụng trí tuệ để nhận thức chân lý. Mà trí tuệ ở đây là thứ trí tuệ Ba La Mật ấy. Sử dụng được thứ trí tuệ nầy, quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác bước đến chẳng còn xa. Thế cho nên, giảng nói ý nghĩa chừng bốn câu kệ mà phước đức đã là nhiều, giảng nói hết ý nghĩa của toàn kinh thì công đức lại càng nhân lên gấp vạn bội. 

Kinh là lời dạy của Phật. Kinh dạy con người phương pháp để trở thành Phật. Do đó, ở đâu có kinh như có Phật ở đó, hoặc đệ tử tôn túc của Phật ở đó. Chẳng những thế, người ta còn hiểu: Rằng "Bát Nhã Ba La Mật, còn là mẹ sanh ra chư Phật". Vậy mà chẳng mắc tội hỗn xược với Phật tí nào! 

*****
 

XII. PHẢI HIỂU RỎ Ý PHẬT VÀ ĐÚNG NHƯ PHÁP  MÀ THỌ TRÌ, PHƯỚC ĐỨC MỚI NHIỀU.

BẠch ThẾ Tôn! Kinh nẦy gỌi tên là chi? Chúng con phẢi tỤng trì như thẾ nào? 

PhẬt bẢo: Tu BỒ ĐỀ! Kinh nẦy tên là Bát Nhã Ba La MẬt, ông nên theo danh tỰ đó mà phỤng giáo hành trì. 

NẦy! Tu BỒ ĐỀ! Như Lai nói Bát Nhã Ba La MẬt, không phẢi Bát Nhã Ba La MẬt mà gỌi là Bát Nhã Ba La MẬt, đẤy thôi! 

Tu BỒ ĐỀ! Ông hiỂu như thẾ là đúng: Như Lai không có nói pháp. 

Tu BỒ ĐỀ! Vi trẦn và thẾ giỚi nhiỀu ngưỜi cũng hiỂu như ông, rẰng: vi trẦn cỦa tam thiên đẠi thiên thẾ giỚi là nhiỀu, còn tam thiên đẠi thiên thẾ giỚi là ít.

Tu BỒ ĐỀ! Vi trần, Như Lai nói chẲng phẢi vi trẦn, gỌi rẰng vi trẦn. Thế giỚi Như Lai nói chẲng pHẢi thẾ giỚi gỌi là thẾ giỚi vẬy thôi.

Tu BỒ ĐỀ! Ông hiỂu như thẾ là đúng: Không thỂ nhìn sẮc thân 32 tưỚng mà cho là đưỢc thẤy Như Lai. Như Lai nói 32 tưỚng là phi tưỚng, gỌi là 32 tưỚng vẬy thôi. 

Tu BỒ ĐỀ! GiẢ sỬ có thiỆn nam thiỆn nỮ đem thân mẠng nhiỀu như cát sông HẰng đỂ bỐ thí, nẾu có ngưỜi thỌ trì đỌc tỤng kinh nẦy chỪng bỐn câu kỆ, giẢng nói cho nhiỀu ngưỜi nghe, thì phưỚc đỨc cỦa ngưỜi nẦy nhiỀu hơn ngưỜi trưỚc.

 

TRỰC CHỈ

Bát Nhã Ba La Mật là thứ trí tuệ có khả năng nhận thức vũ trụ vạn hữu. Vì là một công năng nhận thức cho nên trí tuệ không có kích thước: ngắn, dài, rộng, hẹp.....Cũng không có màu sắc: đỏ, trắng, xanh, vàng...Lẽ ra nó cũng chẳng có danh xưng. Vũ trụ vạn hữu là pháp NHƯ THỊ nó tồn tại khách quan. Cái công năng nhận thức cũng là NHƯ THỊ mới nhận thức được thật tướng. Gạn hỏi chi ly, giải đáp tỉ mỉ, càng tỉ mỉ, chi ly càng rời xa thật tướng. Nhằm hướng dẫn cho đệ tử mình sử dụng thứ trí tuệ đó, bất đắc dĩ, Phật vận dụng hành sử ngôn từ: Bát Nhã Ba La Mật, để mà khai thị.  

Trong quá trình tu tập, người đệ tử Phật, sử dụng Bát Nhã Ba La Mật vào tri kiến mình, để ngắm nhìn vạn hữu, nhận thức thật tướng của vạn pháp. Sử dụng Bát Nhã Ba La Mật mà không chấp mắc Bát Nhã Ba La Mật, Phật tử hãy luôn luôn nhớ rỏ! 

PHẬT THUYẾT BÁT NHÃ BA LA MẬT, TỨC PHI BÁT NHÃ BA LA MẬT, THỊ DANH BÁT NHÃ BA LA MẬT. 

Vì sao Như Lai phủ nhận sự thuyết pháp của mình trong suốt cuộc đời hóa độ chúng sanh? 

Tìm hiểu nguyên nhân, ta thấy có hai lý do: 

1.      Pháp được gọi là pháp, Như Lai đã nói, nó không phải sở hữu riêng của Như Lai. Nó là sự sự vật vật tồn tại khách quan trong vũ trụ, là sở hữu chung của loài người. Phật là người giác ngộ chân lý, Phật đem cái vốn liếng quý báu đó, hướng dẫn cho con người, đưa con người vượt ra sự si mê lầm lạc về tư tưởng, vượt ra sự đói nghèo khổ cực, vì sự áp bức bất công của xã hội. Thuyết được những điều lợi lạc cho thế nhân, đều có thể gọi là thuyết pháp. Do đó, Như Lai phủ nhận sự thuyết pháp của mình, nhằm dạy cho các đệ tử biết: pháp là chân lý. Mà chân lý là sở hữu chung của nhân loại, chớ không phải độc quyền sở hữu của Như Lai. 

2.      Đã có lần Phật nói: Những pháp Phật đã nói ra ít như chút đất dính ở móng tay, còn pháp Phật chưa nói đến, nhiều như đất của ba ngàn đại thiên thế giới. Nếu nói Phật nói pháp, chấp chặt pháp Phật nói thì mắc tội đóng khung tri kiến Phật. Tri kiến Như Lai không chỉ gói gọn trong những ngôn từ văn tự ghi lại trong kinh điển mà người ta cho là pháp của Như Lai nói. 

Vấn đề thế giới và vi trần: Nếu bảo rằng thế giới chỉ có một, thế giới ít, vi trần vô lượng vô số, vi trần nhiều. Nói như vậy không đúng. Thử hỏi: vi trần nhiều, vậy vi trần từ đâu mà có? Thế giới ít, thế giới kết hợp bởi những gì? 

Chẳng qua, thấy vi trần nhiều, do ta nhìn ở mặt DỊ. Nhìn thế giới ít, do ta thấy phía mặt ĐỒNG. Vi trần nhiều do nhìn ở mặt HOẠI và DIỆT của thế giới. Thế giới thấy ít do nhìn ở mặt TỔNG và THÀNH. Vi trần và thế giới không phải khác mà cũng không phải một. Đó là diệu lý: bất tức bất ly, tương tức tương nhập của vạn pháp. Tu học Bát Nhã Ba La Mật hãy như vậy mà nhận thức, như vậy mà tư duy, như vậy mà thọ trì. Và do như vậy mà Như Lai nói: 

NHƯ LAI THUYẾT VI TRẦN, TỨC PHI VI TRẦN, THỊ DANH VI TRẦN, NHƯ LAI THUYẾT THẾ GIỚI TỨC PHI THẾ GIỚI, THỊ DANH THẾ GIỚI. 

Rằng Như Lai có 32 tướng tốt, Như Lai nói đó là những tướng của tướng sư, theo sự thấy biết của họ mà đề ra. Phỏng sử có tướng sư khác theo sự thấy biết của mình, ông ta viện ra thêm hai tướng nữa. Thế là một Như Lai có 34 tướng tốt! Một tướng sư khác, cũng theo sự thấy biết của mình, nhìn xem kỹ càng, ông ta tuyên bố rõ là Như Lai có 30 tướng chẵn. Thế nào? Phật có vì thế mà bị tăng giảm địa vị vô thượng chánh đẳng chánh giác của Như Lai? 

Như Lai, Phật là căn cứ trình độ giác ngộ chân lý trọn vẹn, giải thoát vô minh phiền não tận cùng. Vấn đề 30, 32, hay 34 tướng, tùy thuộc trình độ hiểu biết và ấn định của các tướng sư. Thế nên, đệ tử Phật, tu học Bát Nhã Ba La Mật, không dựa trên 32 tướng. Thấy Như Lai qua 32 tướng, không phải là cái thấy đích thực của chính mình, mà ta nhìn Như Lai qua con mắt của các tướng sư Ấn độ 25 thế kỷ trước! 

Phật e sợ đệ tử mình học đòi tướng sư hoặc đam mê tướng số, nên dạy kỹ cho tất cả môn đệ rằng: 

NHƯ LAI THUYẾT TAM THẬP NHỊ TƯỚNG, TỨC THỊ PHI TƯỚNG, THỊ DANH TAM THẬP NHỊ TƯỚNG. 

Giảng nói giáo lý Bát Nh