Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Kinh Điển Phật Giáo


 . .

 

PHẬT HỌC VIỆN QUỐC TẾ XUẤT BẢN

PHẬT LỊCH 2533 - 1989

 

Nhị Khóa Hiệp Giải

(Thời khóa tụng khuya và thời khóa tụng chiều)

 

Chú giải: Ngài Quán Nguyệt

Dịch giả: HT Thích Khánh Anh

--- o0o ---

Chương 7

Kinh A Di Ðà

PHẬT THUYẾT A DI ÐÀ KINH MÔNG GIẢI

(Ðức Thích Ca Mâu Ni nói kinh này là : để chỉ rõ y báo chánh báo của Phật A Di Ðà đều đủ có công đức thanh tịnh trang nghiêm, cốt khuyên chúng sanh tu pháp “Trì danh niệm Phật” được vãng sanh lên bực Bất thoái, vì có chư  Phật ở sáu phương hộ niệm và chư Thượng thiện nhơn đề huề. Lời mông giải là : Lời của Ngài Quán Nguyệt Pháp Sư giải rõ chỗ khuất tối như sau đây ) :

các học giả bên Tiểu thừa không tin nhận có các quốc độ thanh tịnh ở các phương hay thế giới khác; những tu sĩ bên phái Thiền tông, cũng có người chê phương pháp niệm cầu vãng sanh tịnh độ. Ðấy đều là hạng học tu ngoài da của Phật pháp, vì đối với mùi vị “vi diệu pháp” thì, tỷ như họ chỉ mới thưởng thức chất vị cặn bã mà đã cho là thức ăn cam mỹ, chứ chẳng biết còn có món ăn rất ngon quý hơn. Ðối với pháp vị “niệm Phật cầu sanh”, dẫu cho bực đã no đủ Thiền học đi nữa cũng chẳng dám có ý trái nghịch, huống là ai.

Chính các vị Ðại Tông Sư như là : Vĩnh Minh, Sở Thạch v.v....những lời nói của các Ngài đều họp với Kinh Phật, đều đem pháp niệm Phật ra để dạy người tu học cầu nguyện vãng sanh tịnh độ. Bởi vì trong đại tạng kinh các bộ Ðại thừa, đều có nói kèm lời khen ngợi pháp niệm Phật được sanh về nước cực lạc, vì cho là lối tu học này chóng tắt hơn.

Những Kinh chuyên nói rặt ròng về pháp tịnh độ thì, tức là : Kinh Ðại bổn, kinh Thập Lục Quán và các nghĩa của kinh tiểu bổn này, thảy đều khắp gồm thâu hết ba căn cơ là trình độ những người tu học. Tỷ như biển lớn thâu nạp cả nước trăm sông. Chí như, tìm một pháp rất dễ hơn giữa các pháp dễ, chọn đường tắt hơn hết trong các đường tắt, thì chỉ có pháp trì danh niệm Phật và kinh tiểu bổn này là rất dễ rất tắt nhứt hơn hết mà thôi. Vì số văn tự dù dón gọn, mà lời lẽ rất đầy đủ; nghĩa của nó bao trùm cả cái lượng rộng của kinh đại bổn, kinh thập lục quán; lý của nó đủ suốt cái phẩm mầu các bộ đại tạng. Dường như trong bầu vũ trụ nó bao hàm cả vạn tượng.

Nên từ đời Tấn, Tổ Huệ Viễn bắt đầu tổ thành hội Liên Hoa xã tại núi Khuôn lư, tỉnh Chiết Giang, mãi đến nay trải qua đã hàng nghìn mấy năm, mà những kẻ tu các kinh khác số được giải thoát cũng không bằng số người tu kinh này được giải thoát nhiều hơn, vì được vãng sanh mới chắc là giải thoát sanh tử.

Thế nên, với kinh Tiểu bổn này, các đức Tổ Sư xưa đã chú giải, sớ sao rất đông, như Tổ Hải Ðông làm Di Ðà kinh sơ, Tổ U Khê làm Di Ðà viên trung sao, Tổ Vân Thê làm Di Ðà sớ sao, Tổ Linh phong làm Di Ðà yếu giải v.v.... đều vạch ra nghĩa lý rất rõ ràng, tỷ như ánh thái dương sáng rỡ giữa trời, khắp soi cả mặt đất. Vậy phàm là kẻ trí thức, xin chính mình tự xét lấy.

Song, đối với các bổn kinh đã sớ giải trên, kẻ sơ cơ xem đến chưa khỏi dội ngược, vì khó hiểu được, bởi văn từ quá rộng nhiều, ý nghĩa rất tinh vi. Tôi chẳng nệ nhọc nhằn, lập lại và làm nghĩa “mông giải” này, để làm cái cơ sở hầu tiến lên nơi nhà trên của Phật pháp, tưởng không phải là vô ích ?

Sắp giải thích kinh tiểu bổn này trước hết xin lập ra năm lớp nghĩa mầu, để thích rõ danh đề là tên Kinh đây :

A/ Với Kinh đây, riêng chỉ dùng tên người làm danh danh là đề mục của kinh. Với đề mục của kinh này có hai bổn : một, tên là “Phật thuyết A di đà Kinh”, hai, danh là “Nhứt thế chư Phật sở hộ niệm kinh”. Ơû đây chỉ lược giải về kinh đề của bổn trước là : Phật thuyết A Di Ðà Kinh :

Phật : Ðức Giáo chủ ở cõi Ta bà, là người đã chứng quả vị tột bực mà năng nói.

A Di Ðà : Ðức Giáo chủ ở cõi Cực lạc, là người đã chứng quả vị tột bực mà bị nói.

Rằng quả vị tột bực là : Với phiền não sanh tử đã dứt hết, với bồ đề niết bàn đã trọn nên, đầy đủ muôn đức tốt, khắp hiện ba tướng thân, ngôi tột không chi trên, nên gọi là Phật.

Thế thì đức A Di Ðà , đức Thích Ca đã đồng là bực Cực quả rồi, còn cần chi nữa lại phải dùng lời của Phật đây để khen tặng cho Phật kia bằng cách nói ra kinh này ư ? nguyên bởi thế giới ta bà đây là cõi đời uế ác thì, y báo là quốc độ, chánh báo là thân tâm, đều được thiệt hiện ra như thế này là, nguyên do nơi lòng vọng tưởng làm việc mê hoặc nên đều cảm chịu như thế đó, nghĩa là phát khởi ra nhiều đến vô cùng những k iếp sanh tử ảo thuật như phim chớp bóng, trôi giạt trong ba cõi, chúng sanh này không được nương nhờ vào đâu, như lũ con côi quạnh ! mặc dầu có đức Phật Thích Ca ra đời, nhưng chỉ một thời kỳ rất ngắn để dạy độ những phần tử có căn cơ thích hợp mà thôi, còn những chúng sanh vô  duyên với Phật không tin tưởng thì làm gì độ được.

Nếu nói về cõi cực lạc thanh tịnh, thì y báo là cõi nước, chánh báo là mình vóc, đều sạch trong, tốt đẹp, vì trái đất  bằng vàng rồng, thân người bằng hóa sanh. Thân và cõi được trang nghiêm như thế là đều bởi toàn thể loài người bên thế giới ấy, tâm đủ cả công đức niệm Phật thanh tịnh, nên thật hiện ra cái thân thơm đẹp bằng liên hoa hóa sanh, và tâm đủ cả chí nguyện kiên cố, nên hiện thiệt ra cái cảnh giới chắc rỡ bằng hoàng kim vi địa.

Với việc thuyết pháp để giáo dục, thì hiện có đức Di Ðàthường giảng dạy luôn luôn; còn thuyết pháp bằng cảnh vật để nhắc nhở, thì vẫn có nước, chim, cây, rừng thường reo hót khuyên rao mãi mãi.

Chúng sanh là nhơn dân đều được nghe rồi, cả ba bực căn tánh đồng đặng tăng phần phẩm đạo rút ngắn cái đời tu học, để chóng đắc quả Phật. Thế nên với Kinh này không những một đức Thích Ca cao giọng tán dương, mà hẳn còn được nhiều chư Phật ở sáu phương cũng đồng ca ngợi nữa. Như thế, đâu chẳng là nhắc thức chúng ta, cần phải tin tu theo bổn kinh đây là kinh có công đức rất trang nghiêm mà không thể ý nghĩa lời bàn, đã được chư Phật xưng dương tán thán. Vậy chúng ta, nên kíp phát tâm dũng mãnh tụng Kinh niệm Phật đây để cầu nguyện vãng sanh về cõi tịnh độ của Phật A Di Ðà.

A Di Ðà tiếng Phạm : Amita, dịch chữ : Vô lượng quang, nghĩa : ánh sáng không lường. Trong văn kinh nói : Phật kia có hào quang sáng rộng không lường, vì ánh chiếu đến cả mười phương thế giới, không chi làm chướng ngại được. Lại đổi chữ là : Vô lượng thọ, nghĩa : Sốn lâu không lường. Trong văn Kinh nói : Ðức A Di Ðà cùng nhơn dân kia đều sống lâu đến vô lượng vô biên vô số kiếp. Vì “Quang” thì xứng với tánh giáp khắp pháp giới; còn “Thọ” thì đúng với tánh vẫn không sanh diệt. Thật ra những trí huệ, thần thông, y báo, chánh báo, căn cơ, giáo khoa v.v...mỗi chi chi cũng đều xứng với con số vô lượng cả.

Thế thì, khi người ta niệm Phật : mỗi câu rành rõ, tương ưng với Phật, tức là nghĩa của chữ “Quang” đấy ; mỗi câu không gián đoạn, được nhứt tâm bất loạn, tức là nghĩa của chữ “Thọ” đấy. Vì hiệu Phật với tâm niệm liền liền không dứt không loạn, nên tức là nghĩa trường thọ bất diệt ; cũng như câu niệm Phật với lòng niệm rành rõ sáng suốt, nên tức là nghĩa quang minh vô tận.

Quang tức là trí như như ; Thọ tức là lý như như; Trí chiếu nơi Lý, lý rõ trí sáng, lý trí vẫn một, quang thọ chẳng hai, thế, với lẽ tự tánh Di đà, di tâm tịnh độ, mỗi niệm của tu đều chiếu thấu suốt cả. Ðó niệm Phật mà đúng như thế, thì Quang và Thọ há phi rõ bày nơi tự tâm ư ?

 Song, còn có nghĩa Lục tức vì chia ra vị trí chẳng đồng nhau, bởi cái tâm hiện bây giờ của chúng sanh.

1/ Với Quang Thọ mặc dù sẵn đủ, nhưng mê lững di mà chẳng tự khai giác ra được, thì chỉ gọi bằng “xứng lý tức Quang thọ”,

2/ Nhờ nghe nên hiểu biết tịnh độ và hiệu Phật, là “danh tự tức Quang Thọ”.

3/ Ðã nghe tin rõ, giữ niệm luôn danh hiệu Phật, là “quán hành tức Quang Thọ”

4/ Cái thô cấu của phiền não đã phủ giũ rụng trước là “tương tợ tức Quang Thọ”.

5/ Với vô minh phá được từ phần, để rõ bày tự tánh Phật là “phân chứng tức Quang Thọ”

6/ Với vô minh phá trừ đã hết, với lý trí chứng đã tột tròn, đó mới chính thật đáng gọi là “cứu cánh tức Quang Thọ”

thế biết rằng : Ðức Phật A Di Ðà là bực người cứu cánh, thì “Quang” và “Thọ” đều rộng khắp ra giúp họp đến vô cùng tận. Vậy nếu là người muốn cầu giải thoát mà lại rời đây ra, thì đâu có dễ gì thật đặng giải thoát.

B/ Kinh này dùng thật tướng làm thể. Thể là cái lý. Kinh mà không có lý, thì đâu có thể khế họp với Phật pháp và căn cơ con người, thành ra đồng với sách tiểu thuyết của thế tục. Thật tướng là cái tâm hiện tiền của chúng ta; nó là cái bản thể vô hình vô tướng, phi diệt phi sanh, mà lại hay rổng rang sáng tỏ như gương chiếu rõ vật tượng không sót một tí hào.

Song, cái có sanh có diệt đó, là những cái bóng luống dối của vọng tưởng trong tâm; cái tâm thật tướng kia, tuy trọn ngày ở nơi vọng, mà trọn ngày nó vẫn là chơn; từ nghe thinh thấy sắc, đến cả hành động cử chỉ gì, nó đều rõ suốt rành rẽ tất cả, khôn sáng riêng tỏ, rảnh hẳn ngoài căn, trần; nếu xảy một niệm vừa phân biệt, thì tâm đã bị rượt theo trần cảnh mà, rồi đến sanh tử vô cùng !

Thế nên đức Như Lai đã chứng rõ cái thật tướng rồi, lại vẫn y nơi tâm từ bi thật tướng đó, để phát minh ra bổn kinh này, mỗi câu toàn là thật tướng. Lời nào lời nấy đều rõ lý thể, để khiến cho những người niệm Phật tự rõ nhận lấy mỗi niệm mỗi niệm đâu chẳng là chứng cái thật tướng của duy tâm tự tánh đấy mà thôi. Hết hay trùng.

C/ kinh này lấy lòng tin, lời nguyện giữ niệm danh Phật làm tông. Tông : tông yếu cũng như nồng cốt. Trong văn kinh nói : cần phải tin xưng tụng tán thán kinh đây, và khuyên nên tin. Lại rằng : Cần phải phát nguyện...khuyên nguyện...lại nói :giữ niệm danh hiệu..khuyên hành, là bảo phải thật hành niệm Phật phát nguyện cầu vãng sanh.

Sách yếu giải nói : phi tin, chẳng đủ dấy nguyện, phi nguyện chẳng đủ dẫn hành, phi thật hành giữ danh để niệm, thì chẳng đủ để đầy chỗ nguyện, chứng chỗ tin. Ba cái tin, hành và nguyện đó, là món tư lương hay cơm ăn đi đường, để cầu sanh sang về tịnh độ, tỷ như cái đảnh có ba chơn, thiếu một thì không đứng  vững được.

Tín : Tin, là tin sáu điều này : Tự tha, nhơn quả, sự lý; đủ sáu cái nguyên nhân đó chung lại giúp lẩn nhau mới thành lập được tịnh độ. Nguyện là : nguyện xã bỏ cõi ta bà, mà hâm mộ về cõi cực lạc. Hành là : thật hành bằng cách giữ gìn danh hiệu A Di Ðà Phật để niệm luôn luôn mãi đến chừng nào được nhứt tâm bất loạn. Nghĩa : cái tâm chỉ thành một khối niệm Phật, chớ không còn niệm gì nữa xâm loạn.

Tự : Mình, rằng tin tự là biết cái bản thể tự tâm của mình nó dọc cùng ba giới, ngang khắp mười phương, nguyên sẵn thanh tịnh; nay nó bị cái vọng niệm vô minh làm lừa dối, nên chi chẳng thể rõ suốt lại được cái bản thể kia. Bây giờ đây, nếu ta có thể mỗi niệm tức là Di Ðà  thì chắc chắn hẳn hiển nhiên tự tánh duy tâm tức là Phật độ (tịnh độ)

Tha : kẻ khác, rằng tin tha, là biết đức Thích  Tôn nói kinh này chẳng dối gạt. Chư Phật sở dĩ có cái tướng lưỡi rộng dài hơn chúng nhơn là tượng trưng cái kết quả đã nhiều đời không nói dối; còn đức Di Ðà lại có cái cõi thanh tịnh hơn các thế giới khác là để biểu dương cái tâm nguyện rộng lớn đã chơn thật làm nên; nay đây chỉ có điều là chúng sanh cần phải nương nơi đức tin dấy lòng nguyện là quyết định được vãng sanh đấy thôi.

Nhơn : Nhơn do, nguyên nhân; tin nhơn có hai cách “Ðịnh tâm niệm Phật” và “Tán tâm niệm Phật” đều thành giống Phật (hột giống Phật)

Quả : Kết quả; tin quả có hai điều lành là Ðịnh thiện, Tán thiện, kiêm cả nguyện trọn đủ, thì chắc được đi ngay đến liên đài (chín phẩm đài sen).

Sự : Việc sự tướng, thật sự; tin sự là tin ngoài mười muôn ức cói Phật, ắt có nước Cực lạc mà ta có thể tìm đặng, vì bởi sự là do nơi lý hiện thành, chứ không phải như cái cảnh giới ngụ ngôn của ong Trang Sanh kia đâu; vì sự thật chẳng đồng với sự bịa đặt.

Lý : lẽ, lý tánh, chơn lý; tin lý, là tin rất đỗi, cái cũng tột hư không, khắp thế giới kia cũng là duy nơi tự tâm biến hiện thay, phương chi với cái đường xa chỉ có mười vạn ức Phật thổ ư ? vì bởi lsy nó do nơi sự để rõ bày.

Kinh Tịnh Danh chép : Tâm sạch thì cõi nước sạch, tâm dơ thì cõi quốc thổ dơ, ở vào tịnh độ thì chúng sannh ấy được hưởng phước vui vô sanh, ở uế độ thì chịu tội khổ sanh tử. Thế nên chúng ta cần phải tha thiết phát nguyện: nguyện hy sanh xả hết những cái gì mà cõi uế độ hiện có, để tiến thủ các sự chơn thường chơn lục cõi tịnh độ Phật đã để dành cho. Phát khởi cái công hạnh tốt để chấp trì danh hiệu, đức tin, lòng nguyện đều trọn vẹn, niệm Phật là niệm tâm, niệm tâm tức niệm Phật, tâm Phật vẫn một, thủ xả đều không, cho đến thành quả Phật thanh tịnh đi nữa, há phi do ba tư lương tín, hành, nguyện đó là trước nhứt sao. Hết ba trùng.

D/ Kinh này dùng đắc vãng sanh, bất thoái chuyển làm dụng. Dùng; lực dụng. Trước dùng  cái sức lực của ba tư lương, hản có phần thật chứng của chín phẩm, vì đã được vãng sanh, đều là bực A Bệ Bạt Trí (dịch : bất thối chuyển) nghĩa là : đối với “A Nộc Ða La, Tam Miệu Tam Bồ Ðề” là quả vị Phật, người đã vãng sanh thường ngày thường tu tiến tới quả vị ấy là cứu cánh, chứ chẳng hề ngã lòng thối chí như người tu ở thế giới ta bà này, nên gọi là Bất thoái chuyển.

Song, các bổn kinh kia đều nói có bốn quốc độ, và đều bàn có chín phẩm vãng sanh, với bất thoái chuyển cũng có bốn hạng. Còn kinh tiểu bổn này đây thì : với bốn độ, độ nào cũng đều thanh tịnh, với chín phẩm cũng tùy nguyện lực thế nào sẽ được vãng sanh thế nấy, mà hễ đã sanh về rồi là được hạng Bất thối. Như thế, khá gọi là : vowtj khỏi tam giới bằng cách đi tắt ngang ra, tiến ngay đến địa vị vô sanh. Chí như cái lẽ ràng : “ đi ra khỏi sanh tử bằng cách đi dọc lên” của các Kinh đã phát minh, thì chẳng thể sánh bì với Kinh Tiểu bổn này được.

Xem biểu đồ bốn độ chín phẩm

THẾ GIỚI CỰC LẠC CÓ BỐN ÐỘ, MỖI ÐỘ ÐỀU CÓ CHÍN PHẨM, CHÚNG BÀN CÓ BA BỰC BẤT THOÁI.

HÀNH TƯỚNG VÃNG SANH CỦA CỬU PHẨM LIÊN HOA

Dón rút những văn của Kinh Thập Lục Quán.

  1. Thượng phẩm thượng sanh

Trọn dấy lên ba tâm là : chí thành tâm, thâm trọng tâm, hồi hướng tâm, và phát cái nguyện đại thừa, để tu pháp niệm Phật, khi lâm chung được htấy Phật, thành nhiều đến vô lượng; tự thân người được nương ngồi trên cái đài hoa sen bằng ngọc Kim Cang chỉ trong rất ngắn là “một đờn chỉ” vãng sanh về Cực lạc kia, tức thời được nghe pháp của Phật thừa tâm liền mở mang được Phật huệ, chứng ngay quả vô sanh nhẫn; chỉ trong một giây phút có thể vâng hầu đủ cả thập phương chư Phật theo thứ tự liền được chư Phật thụ ký cho, cũng chỉ trong giờ phút đó, liền về nước Cực lạc, liền sáng suốt đặng các pháp môn tổng trì (đà la ni) nhiều đến vô lượng.

  1. Thượng phẩm trung sanh

Những người nghe pháp Ðại thừa mà tâm không kinh sợ, tin sâu lý nhơn quả, niệm Phật và làm phúc thiện chi, cũng đều hồi hướng về nước cực lạc; người ấy khi lâm chung được thấy một nghìn đức Hóa Thân, Phật của A Di Ðà đồng thời nắm tay trao dắt, các thánh chúng cũng đông nhiều để đón tiếp. Tự thân của người lên ngồi trên cái hoa sen bằng vàng tía, chừng trong một niệm, đã đến ao sen, cách qua một đêm, hoa sen mới nở thân hóa sanh của người bằng màu vàng tía. Nhờ ánh vàng của Phật và thánh chúng, người được mở sáng mắt huệ, nhớ rõ lại những việc lành đã làm từ kiếp trước đều đúng với đệ nhất nghĩa. Người xuống đài sen để lạy Phật. Từ bữa hoa nở về sau bảy ngày, người mới đắc quả tam miệu tam bồ đề, mãi đến tiểu kiếp, mới đặng pháp vô sanh nhẫn.

  1. Thượng phẩm hạ sanh

Hạng người này cũng tin lý nhơn quả của pháp đại thừa chỉ mới phát cái đạo tâm vô thượng chứ chưa thật hành được mấy có hồi hướng về lạc quốc; khi lâm chung người được thấy năm trăm đức Hóa Phật đồng thời trao tay. Tự thân của người lên hoa sen, hoa liền xếp lại, theo Phật đến ao sen, qua một ngày đêm hoa mới nở, sau bảy ngày rồi dù được thấy Phật nhưng chưa thấy rõ tướng tốt sau ba tuần thất, mới thấy rõ đủ. Ðược thân cận cúng hầu chư Phật nghe pháp thậm thâm, trải qua ba tiểu kiếp mới tỏ đặng b ách pháp minh môn mới tiến lên trụ nơi Hoan hỷ địa.

  1. Trung phẩm thượng sanh

Hạng người này chăm ăn chay, giữ giới niệm Phật hồi hướng về nước cực lạc; khi lâm chung thấy Phật thánh chúng hào quang vàng và được nghe pháp : Khổ không, vô thường vô ngã. Tự thân lên hoa sen lạy Phật, trong lúc vừa ngóc đầu là liền được sanh sang nước cực lạc, khi hoa nở cũng như đẻ ra liền được nghe pháp tứ đế, liền chứng quả thứ tư là A La Hán trọn rõ đủ các pháp : tam minh bát giải.

  1. Trung phẩm trung sanh

Hạng người này ngoài pháp tu niệm Phật với, hạn trong một ngày đêm : hoặc giữ bát quan trai giới hoặc giữ Sa di giới, hoặc giữ cụ túc giới : với các giới ấy tùy giữ được một nào cho tinh nghiêm hạn trong một ngày đêm, đem công đức đó hồi hướng về nước cực lạc. Khi lâm chung được thấy Phật, thánh ánh vàng, tự thân ngồi trên đài hoa sen bằng bảy chất báu, hoa liền xếp lại tức thì đến ao báu, sau bảy ngày hoa nở ngươi lạy và tán thán Phật nghe pháp đắc Sơ quả trải qua nửa kiếp mới đắc La Hán quả.

  1. Trung phẩm hạ sanh

Hạng này, thường hành cái hiếu đạo, lòng rất nhơn từ; khi sắp lâm chung, được gặp bạn thiện tri thức nhiều lời tán dường nước cực lạc và nguyện rộng lớn của đức Phật A Di Ðà. Người nghe vừa rồi là mạng vừa chung, trong lúc như co duỗi cánh tay, liền sanh về nước cực lạc. Qua bảy ngày, được nghe đức Quán Thế Âm, Ðại Thế Chí nói pháp, liền đắc Sơ quả. Qua một tiểu kiếp mới đắc quả A La hán.

  1. Hạ phẩm thượng sanh

Những người dù không hủy báng Phật, cố gây nhiều thứ nghiệp; khi lâm chung, gặp Thiện Tri thức dạy, nghe nói tên Kinh Ðại Thừa, liền diệt được trọng tội từ ngàn kiếp; lại dạy chấp tay niệm Phật, liền được trọng tội từ ngàn kiếp; lại dạy chấp tay niệm Phật, liền trừ được tội sanh tử từ năm chục ức kiếp. Ðược thấy các đức Hóa Phật. Hóa thánh chúng đều phóng hào quang chiếu sáng đầy thất xá, người mạng chung, nương đài sen bảo hoa, theo sau Phật đến bửu trì, trải qua bốn mươi chín ngày hoa sen mới nở, thấy hào quang của hai thánh là Quán Âm, Thế Chí và nghe hai Ngài nói Kinh sách đại thừa, phát khởi ngay cái tâm vô thượng đạo. Trải qua mười tiểu kiếp, học đủ bách pháp minh môn rồi, mới đắc chứng lên bực Sơ địa.

  1. Hạ phẩm trung sanh

Hạng này đã phá trai phạm giới, trộm cắp của Tăng kỳ, tức tứ  phương hay thập phương Tăng vật là những tài vật của các Chùa như : Ruộng vườn, nhà cửa, gạo thóc, mà các vị Bí Khu, Bí Khu Ni ở nơi các phương khác đều có phần hưởng dụng, kêu bằng tứ phương tăng vật, hay hiện tiền tăng vật. Ba nghiệp bất tịnh mà thăng tọa thuyết pháp. Người ấy đến lúc sáp mạng chung, những hình tướng độc ác của địa ngục đồng thời hiện cho người ấy thấy; may gặp vị Thiện Tri thức, vì nói công đức của A Di Ðà Phật và các điều giới, định, tuệ; nghe rồi dứt được tội sanh tử tám mươi ức kiếp, cái ác tướng ngục hỏa kia liền hóa làm gió thanh lương, thổi đưa đến các thứ hoa rất tốt đẹp, trên hoa đều có các đức Hóa Phật, Bồ Tát đến đón rước người, chỉ trong một niệm, liền sanh về nơi ao báu, nghén trong hoa sen mãi đến sáu kiếp nở ra, nghe hai đức Ðại Thánh nói Kinh Ðại thừa, liền dấy tâm vô thượng.

  1. Hạ phẩm hạ sanh

Hạng này dù đã lỡ lầm gây đủ các tội quá nặng như ngũ nghịch, thập ác, đến lúc sắp thở hơi cuối cùng, mắt người thấy cảnh rất khổ của A Tỳ địa ngục hiện ra, bấy giờ may gặp bạn tri thức khuyên bảo niệm Phật ; nhưng người vì quá ư khốn khổ ngặt lắm, chưa thể yên rảnh tâm để niệm Phật ! bạn lại răn nhắc nữa, người mới dốc lòng khứng niệm, lại càng niệm một cách thành thiết lắm, vì tự biết sắp chết, nên không còn xen tưởng niệm được mười niệm, dứt ngay các tội sanh tử từ tám mươi ức kiếp. Người tự thấy hoa sen vàng như mặt nhựt hiện trước mắt, tự thân người nương ngồi trên hoa, chẳng bao lâu chừng trong một niệm đã sanh về cực lạc, trải lâu qua mười hai đại kiếp, hoa ấy mới nở; được nghe hai đức Quan âm, Thế Chí nói đủ cái thật tướng của các pháp, người liền phát tâm bồ đề.

Ðà La Ni : Dịch chữ Tổng trì : gom giữ, là : gom tất cả pháp, giữ hết thảy nghĩa. Lại dịch : Cha trì : ngăn giữ, là : ngăn cấm mọi điều ác, giữ gìn các việc lành.

Vô sanh nhẫn : nhịn không sanh. Vô sanh tức là chơn tánh nó vốn không sanh diệt gì cả, do vì mới phá trừ được cái vô minh hoặc, hẳn thấy đặng cái tánh của các pháp, hiểu rõ luôn cái thể các pháp, mà ẩn nhẫn ở tự tâm, chứ chẳng thể nói hay hình dung ra được. Tỷ như người uống nước nóng hay nguội là chỉ tự mình biết lấy, chớ không thể nói hay hình dung cái nóng nguội đó ra bằng cái tướng gì được. Bởi với tánh thể ấy, tuyệt hẳn lẽ nói năng, vì lời nói phô thuộc về danh tướng rồi. Vô sanh nhẫn đây vị trí nó ở về bực Sơ trụ của Viên giáo, và bực Sơ địa bên Biệt giáo

Chỉ mới phát cái đạo tâm Vô thượng : nếu ở  trong ngôi “danh tự tức Phật” mà phát cái tâm ấy thì cái “vô thượng đạo tâm” đó nó thuộc về ba phẩm Hạ; ở trong ngôi “Quán hành tức Phật” phát cái tâm ấy thì nó thuộc về ba phẩm Trung; ở trong ngôi “tương tợ tức Phật”phát tâm ấy thì nó thuộc về ba phẩm Thượng.

Sau bảy ngày rồi dù được thấy Phật mà chưa rõ :

Nhơn vì bực “Thượng phẩm hạ sanh” đây, vị trí nó đương ở nơi Tập chủng tánh (Tập là tập học tu hành, nhơn nghe được các giáo pháp, rồi tập tu các việc lành mà thành cái chủng tánh này. Chủng là chủng tử : hột giống nó có cái nghĩa sanh; Tánh là tánh phận, nó có cái nghĩa chẳng đổi ), ở tu học lớp “tập chủng tánh” đây, mặc dầu đã trừ phá được cái kiến hoặc, tư hoặc rồi, mà chưa trừ dứt cái trần sa hoặc; nên chi với chỗ thấy các tướng tốt của Phật, tâm chẳng hiểu rành cho tường tất được ( đó là trong bảy ngày đầu sau khi hoa khai kiến Phật). Mãi đến ba lần bảy ngày, tiến lên lớp Tánh chủng tánh (Tánh là bổn tánh : từ vô thỉ lại, tánh nó vỗn sẵn thế là thế cả sáu căn hay lục nhập, lục xứ vẫn tự nhiên thù thắng, mà chưa gieo cái phần giải thoát). Ơû tu học nơi lớp đây, để dứt cái hoặc trần sa, chừng đó, với tám vạn tướng tốt của Phật, đều thấy được mỗi mỗi phân minh.

Khổ không vô thường vô ngà : Là pháp của tiểu thừa, Sơ quả, tứ quả là địa vị của Tiểu thừa. Tất cả Kinh pháp của tiểu thừa, dùng ba pháp ấn để ấn chứng rằng thật là Phật thuyết (với cả thảy kinh sách đại thừa, dùng một thật tướng ấn để ấn chứng, mới thật là  giáo pháp liễu nghĩa của đại thừa Phật thuyết, trái lại, Kinh sách nào mà chẳng có ý nghĩa tam pháp ấn, nhứt thật tướng ấn, thì đều ma thuyết). Tam pháp ấn là : 1/ chư hành vô thường : Hành có nghĩa là: Trau dồi, là : pháp hữu vi, rằng tất cả pháp hữu vi, tướng nó mỗi niệm sanh diệt vô thường, thế chư hành vô thường ấn. 2/ chư Pháp vô ngã ấn; cái danh của Hành nó bị cuộc vào pháp hữu vi, cái danh của pháp nó thông đồng với pháp vô vi, rằng trong tất cả các pháp hữu vi, vô vi đều chẳng có cái thật thể của “Ngã”, thế là chư pháp vô ngã ấn. 3/ Niết bàn tịch tịnh ấn : Rằng cái pháp Niết bàn nó diệt trừ hết những thống khổ của tất cả sanh tử, mà thay vì làm ra thành cảnh giới vô vi tịch tịnh, thế là Niết bàn tịch tịnh ấn.

Hỏi : Bên nước Cực lạc chẳng có các Thanh văn, sao ở đây lại nói có đó ?

Ðáp : Ðối với lối tu pháp đại thừa, những người ấy thối chí đã lâu, còn với pháp tiểu thừa, có công tập học đã thâm lắm, lúc người săp mạng chung, dù phát tâm đại bồ đề để vãng sanh, nhưng với cái tánh quen tập tu tiểu thừa kia đã thâm lâu đó nên khó dứt liền được, thành thử Phật ngài nói có Sơ quả, tứ quả như vậy là tùy thuận nơi cái tập tánh của người Thinh văn kia, ngó để họ liền hưởng về Ðại thừa cho sớm đấy thôi,

Sơ quả, Tứ quả đây chẳng phải những ngôi sơ quả tứ quả của Tạng giáo, Thông giáo, mà chính là ngang hàng với sơ quả, tứ quả của  Biệt giáo, Viên giáo, vì đã đoạn trừ rồi kiến hoặc, tư hoặc

Tứ đế : khổ, tập, diệt, đạo là bốn pháp của La Hán học tu, với cái biểu đồ pháp tứ đế, đã có chỉ rõ ở khoản tâm kinh của thời kinh mai rồi. Tam minh, bát giải, bát giới sẽ có những biểu đồ ở sau kia, hai đức Thánh : tức hai đức Bồ Tát là Quan Âm, Thế Chí. Ngũ nghịch thập ác : sẽ thấy những biểu đồ chỉ rõ ở trong văn Ðại sám hối là Hồng danh bửu sám.

Trọn dấy ba tâm

Bát thật bát sử

Bát bối xả

Hai giới bổn của các Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni

Tam minh lục thông

Ba hiền của biệt giáo

Hành vi của chín phẩm

Kinh này dùng Ðại thừa sanh tô làm giáo tướng. Những lời của Phật thốt ra thích hợp giúp cả kẻ dưới gọi là giáo. Với giáo ấy, phân làm năm thời tám giáo chục năm thuyết pháp được hai chục năm, mà phân ra làm năm thời :

Hoa Nghiêm thời : nói Kinh đại thừa Viên đốn, gồm cả Biệt giáo. Tỷ như sữa từ nơi vú bò sản xuất.

A Hàm thời : Nói phát bằng Tiểu thừa Tạng giáo. Tỷ như sữa biến ra Lạc (nghĩa là bởi sữa thành váng sữa. Lạc : váng sữa).

Thời Phương đẳng : Trong thời này Phật đều nói luôn cả bốn giáo là : Tạng, Thông, Biệt và Viên. Tỷ như  Lạc là váng sữa lại biến thành ra Sanh tô là Dầu sữa.

Thời Bát nhã : Tạm nói về quyền lý của Thông giáo, Biệt giáo, mà chính nói về thật lý của viên giáo. Tỷ như sanh tô là dầu sữa sống nó đã thành ra dầu sữa chín là thục tô.

Thời Pháp hoa và Niết bàn : Kinh Pháp Hoa thuần một mùi nói về đại thừa Viên giáo, các hàng Thánh Thinh văn đều đặng thụ lãnh lời ghi tác Phật; với kinh Niết Bàn thì Phật Ngài vừa nói với lại bốn giáo, đồng thời cũng vừa nói nhắc lại để bặt dấu vết bốn giáo. Tỷ như Thục tô nó đã biến ra đề hồ : Dầu sữa chín nó thành ra mỡ sữa.

Kinh Tiểu Bổn A Di Ðà đây là, Phật nói trong thời Phương Ðẳng, được thâu vào Biệt viên giáo, vì bởi những người mà trình độ học Phật bằng hai giáo tạng và thông kia, họ không tin hiểu nổi rằng có tịnh độ ở thế giới phương khác, nên không tín nguyện vãng sanh.

Vã lại, nước Cực lạc là cõi đồng cư, nên nó trọn gồm cả ba cõi là : phương tiện, thật báo, và tịnh quang, thành thử kinh này được thâu thuộc Viên giáo, mà chín phẩm riêng rõ từ lớp, nên nghĩa nó kiêm luôn Biệt giáo, với lý viên đốn thì, kinh này nó đồng nhau với hai Kinh là Pháp Hoa, Hoa Nghiêm. Chí như những người thật thà dốt nát, chỉ chăm niệm Phật, được vãng sanh, cũng ắt được thâu ở biệt giáo, Viên giáo. Lại nữa, đến cái thời kỳ mà giáo pháp của đức Thích Ca diệt độ hết, chỉ còn kinh tiểu bổn nầy lưu lại một trăm năm để phổ độ chúng sanh trong lúc cuối cùng của tiểu kiếp thứ chín, thế hẳn là như vị thuốc A Già đà : độc vị mà trị lành cả vạn bịnh, vậy kinh này, với công đức rất là khôn xiết nghĩ bàn đặng, như vậy đó, phàm người có trí nên xét lấy.

Năm thời tám giáo

Bán tự là ba mươi lăm chữ cái của Phạm tự, vì nó chưa đủ nghĩa, nên gọi là Bán, tỷ như : a, b, c, d...Mãn tự là những văn tự trong các bài luận, vì đủ nghĩa lý, nên bảo là mãn. Ngài Ðàm Vô Sám Tam Tạng y nơi Kinh niết bàn, đem giáo pháp của Phật thuyết trong một đời đó, phân làm Bán giáo, Mãn giáo : tiểu thừa là bán tự giáo, đại thừa là mãn  tự giáo. Sách Phụ Hạnh nói : thời Phương đẳng đủ cả Bán mãn; các bộ Bát nhã, Pháp Hoa, Niết bàn, Hoa Nghiêm đều chỉ có mãn, chứ chẳng Bán; Kinh nói ở Lộc Uyển chỉ Bán chớ chẳng có mãn.

DAO TẦN, TAM TẠNG CƯU MA LA THẬP DỊCH

Ðời Dao Tần, Ngài Tam Tạng pháp sư Cưu Ma La Thập dịch ra chữ Hán.

Với Kinh A Di Ðà đây có hai đời dịch : 1) đời Tấn, Ngài La Thập dịch, tức là kinh Tiểu Bổn nầy; 2) đời Ðường, Ngài Huyền Tảng dịch, đề mục là “Xưng tán tịnh độ Phật nhiếp thụ Kinh”.

Dao Tần là sở dĩ để phân biệt rằng : đời nhà Châu (1.134-247 trước DL) có Dinh Tần (246 – 207); đời Nam Bắc triều (420-588 sau DL) có Phù Tần và Dao Tần (1.528-1.495 trước Trung Hoa dân quốc).

Với Tam Tạng sẽ xem rõ ở biểu đồ sau kia.

Cưu Ma La Thập gọi cho đủ là Cưu Ma La Thập Bà Kỳ Ðà, Kỳ Bà...dịch là Ðồng Thọ (Ðồng: trẻ, từ bốn, bảy đến mười lăm tuổi; thọ : già, sống lâu từ bảy chục tuổi nhẫn lên) vì tuổi trẻ mà có đức độ, tài năng bằng bực tuổi già. Lại nghĩa nữa: sách Bách Luận sớ cuốn nhứt chép rằng : cha tên là Cưu Ma La Viêm, mẹ tên là Kỳ Bà, dịch là Thọ, Cưu Ma La Viêm, dịch là Ðồng, tức là Ðồng Thọ, dùng luôn hai tên của Cha Mẹ, để đặt tên cho con là Cưu Ma La Thập Bà).

Dịch : đổi, chữ Phạn ra chữ Hoa (Hoa là Trung Hoa, chữ Hoa tức là chữ Nho hay Hán của nước Tàu. Gọi chữ Nho, nghĩa nó rộng hơn chữ Hán, vì nước Tàu phi chỉ một Hán tộc).

Với Tổ quán, Thập Sư nguyên là người Trung Aán Ðộ, cha tên là Cưu Ma La Viêm, dòng dõi tiếp tục làm chức tướng quốc; đến đời ông Kumarayana (Cưu Ma La Viêm) hy sinh ngôi vinh Tướng Quốc, đi xuất gia tu Phật, ra hải ngoại, sang phương đông, đến xứ Thông lãnh, vào nước Kuche (Cưu Ty, Quy Từ; nay là đất huyện khố xa tỉnh Tân Cương của Trung Hoa), Quốc Vương rất kính mến, cầu làm Quốc Sư, vua có người em gái tên Jivà (Kỳ Bà) mới hai mươi tuổi, rất thông minh, đem ép gả cho, sau sanh ra Thập Sư.

Sau khi sanh, Sư sẵn có nhiều cái thiên tài rất thần diệu linh động, lên bảy tuổi (Ðồng) theo mẹ vào Chùa (thân mẫu đã xuất gia trước) để xuất gian, thấy cái Bình Bát bằng thiếc, lấy đội lên đầu, rồi tưởng bụng rằng nặng thì thì tức thời cái bình bát nó cũng liền nặng thêm bội phần, mà hễ nó nặng đến đâu là sức lực của Sư cũng khỏe mạnh đến đó để đủ đội chịu, nhơn thế mà Sư liền rõ được cái lẽ vạn pháp duy tâm, nghĩa là : muôn việc gì cũng chỉ bởi tự tâm mình tưởng chi có nấy. Sau khi hiểu suốt cả Tam tạng, phát huệ, rất tài tình về ngôn luận, biện bát, không chi ngần ngại.

Nhà Vua bổn quốc kiến thiết một cái pháp tọa bằng con sư tử bằng vàng để dưng Sư ngồi thuyết pháp, và cả đến các quốc vương toàn cõi Tây vực hội đồng, thường rước Sư nói pháp, mà các vua đều quy mọp để nghe giảng.

Bấy giờ, nhà Ðông Tấn (317 – 419) ông Phù Kiên hùng cứ đất Thiểm Tây, xưng vua lấy quốc hiệu là Tần : Khi sắp soạn việc binh để đi chính tây, có quan Thái Sử tâu : về khu vực phía tây có một vì sao rất khác thường xuất hiện sáng đẹp lắm ! ắt có bực đại đức thánh nhơn, sẽ vào giúp Trung quốc nầy.

Phù Kiên nói : Trẫm đã nghe nước Cưu Ty (Qui Từ) có Ngài La Thập pháp sư, vậy phải chăng người nầy Niên hiệu Kiến ngươn năm thứ mười chín (1.547 trước dân quốc Tàu) sai các tướng quân là bọn ông Lữ Quang, thống lãnh bảy vạn tinh binh, lúc ra đi Phù Kiên truyền lịnh rằng : Với hành binh viễn chinh nầy phi Trẫm tham đất đai, quyền lợi chi, nhơn vì nghe bên nước ấy có Ngài La Thập là một người mà hiểu suốt cả tánh tướng của môn pháp, nên mới dụng binh vậy thôi. Nhưng đến nơi hãy đưa thư nầy trước buộc phải giao La Thập để rước bằng không sẽ dùng vũ lực v.v...

Chiến thắng quân nước Cưu Ty rồi, rước Ngài La Thập về, vừa đến Lương Châu nghe Phù Kiên bị ông Dao tràng giết rồi, Lữ Quang tự tiện chiếm cức đất lương Châu tự lập xưng là Tam Hà vương lấy hiệu là nước Lương (đất Cam túc : Lữ quang Xưng là Hậu Lương).

Ðến sau, Dao Tràng cũng mến danh đức Ngài La Thập muốn rước mà Lữ Quang cũng không cho. Sau khi Dao Tràng bị mất rồi, con là Dao Hưng lên ngôi qua xin rước Pháp Sư, Lữ Quang vẫn chẳng chịu; kế Lữ Quang qua con là Lữ Long lên kế vị ; Dao Hưng cất đại binh qua, Lữ Long chịu đầu hàng, binh tướng nhà Tần rước Pháp sư về Tràng An, Dao Hưng thờ làm Quốc Sư, để ở nơi Tây minh các và tiêu diêu viên, để kiểm duyệt lại các kinh.

Pháp sư  Ngài xét hết những Kinh cũ, thấy nghĩa nó phần nhiều sai lệnh chẳng đồng nhau với Phạm bổn; cho mời các vị Sa môn là bọn ông Tăng Triệu, Tăng Dệ, Tăng Lãnh, Ðạo Sanh, Ðạo Dung, Ðạo Hằng, Huệ Quan, Huệ Nghiêm, Ðạo Thường và Ðạo Phiêu, mà đời bấy giờ đều kêu là thập môn thập triết, cùng các Ðại Ðức khác cộng là hơn tám trăm người, đồng sự dịch ra các bổn Kinh luận mới hơn ba trăm chín chục cuốn.

Trong một ít ngày mà Pháp sư chưa tịch, cho mời tăng chúng về rồi bảo rằng : những Kinh luận mà Thập nầy đã dịch đó xin truyền bá lại đời làm Pháp bảo lưu thông khắp xứ; với các bổn ấy, nếu mà phiên dịch không sai lầm thì khiến cho sau khi thiếu hóa thân thi rồi, cuốn lưỡi cháy rã. Ngài nói đoạn từ giã rồi tịch, tại vườn Tiêu  Diêu, thủ đô Tràng An, vào ngày hai mươi tám tháng năm Hoằng Thỉ thứ mười tám đời Dao Tần, nhằm năm Hi Ninh thứ năm bên nhà Tấn.

Sau khi thi thể cháy hết, lửa tham tàn mà cuốn lưỡi vẫn còn nguyên tươi sống. Thế thì, Kinh Tiểu bổn Di Ðà đây có chư Phật ở sáu phương hiện ra cái tướng lưỡi rộng dài để tán thán hô niệm đó, há chẳng phù hợp với lời thành thật đó ư ? chúng ta được thêm phần tin chắc nên tu pháp “Trì danh niệm Phật” đây.

Lời trên rút ở cuốn mười bốn bộ Tam Tạng ký, và cuốn hai bộ Cao Tăng truyện đời Lương.

Tam Tạng

Ba Tạng (Trippitaka) là tạng Kinh, Tạng Luật, Tạng Luận, Tạng Kinh nói về khoa định họa, tạng Luật nói về khoa giới học, tạng Luận nói về khoa huệ học.

Với tiếng Phạn Sutrapitaka :theo tân dịch, ta đọc là Tố đát lãm tạng, còn với cựu dịch, ta đọc là Tu đa la tạng – Vina yapitaka : tân dịch là Tỳ nại da tạng, Cựu dịch là Tỳ Ni tạng. Abhidarmapitaka : Tân dịch là A Tỳ đạt ma tạng Cựu dịch là A tỳ đàm.

Có ba thứ tam tạng : 1. – tam tạng của tiểu thừa : a/ bốn bộ Kinh A Hàm là Kinh tạng ; b/ các bộ luật : Tứ phận, ngũ phận, và thập tùng là luật tạng; c/ các Luận : lục túc phát trí là Luận tạng. 2.- Tam tạng của đại thừa : a/ Kinh Hoa Nghiêm...là Kinh tạng; b/ Kinh Phạm Võng...là Luật tạng; c/ Kinh A Tỳ đạt ma là luận tạng. 3.- Tam tạng của đại tiểu thừa : a/ Thinh văn tạng, b/ Duyên giác tạng, c/ Bồ Tát tạng. Lại : a/ Thinh văn tạng, b/ Bồ Tát tạng, c/ Phật tạng. Nghĩa là Phật tạng nói Phật thừa, Bồ Tát tạng nói Ðại thừa, Thinh văn tạng nói về tiểu thừa.

Với bổn Kinh đây, chính ta đã thấy nghe [1]Như thế này[2]: một thời[3] đó, đức Phật [4]Ngài trụ nơi vườn cây[5] của hai ông cấp Cô Ðộc trưởng giả, Kỳ Ðà Thái Tử gần thủ đô nước Xá Vệ

Hai chữ “như thị” nghĩa : “như thế này” đó là, cái bản thể của một bổn Kinh, vì là cái lời nhận thật tin chịu chấp thuận. Như với người kia nói ra một việc chi chúng nhơn nghe rồi đồng tín nhận được, thì đều chứng thật rằng Như thị là như vậy ; trái lại; nếu chẳng thể tin thì, bảo là Bất như thị là không phải như thế.

Với bổn Kinh này, chính đức Như Lai ngài, tán dương nước Cực lạc : nào Y báo, nào chính báo đều tốt đẹp nhứt, rực rỡ tuyệt bằng những lời chơn thật. Vả lại, còn có cả chư Phật ở tận  phương, đều cùng tán thán hộ niệm nữa. Thế nên, đối với Kinh đây, nếu chúng sanh tin hiểu như vậy, y theo lời dạy bảo, giữ niệm danh Phật A Di Ðà thì chắc được kết quả là vãng sanh về cõi tịnh.

Lại nữa, như : chẳng khác, thị : không phi. Là nói : với bổn Kinh đây, và sở thuyết của thập phương tam thế chư Phật, lẽ không khác nhau, nên gọi là Như, đức A Nan Ðà kết tập chẳng sai khác nhau với lời của Phật thuyết, nên gọi là thị.

 Ngã văn : Ta nghe tức là chú ý nghe. Ngã văn, là người năng nghe. Nhĩ căn là một bộ phận riêng giữa sáu căn, ngã tâm (ý thức) là trọn phần chủ cả năm căn, kêu bằng “ngũ câu ý thức”. Mặc dù ngoài cảnh có tiếng nói, mà ngã tâm không để ý ở nơi tiếng thì tức nhiên cũng đồng như không nghe. Giờ đây chẳng dùng ở phần riêng là Nhĩ căn, mà do phần chung là chủ ý, nên nói Ngã văn : chủ ý nghe, cũng như ta nghe.

Kể những lúc Phật ngài nói pháp, A Nan đà để ý lóng tai vâng nghe rõ cả, cầm cái bình nầy rót nước vào bình kia, mỗi nhỏgiọt đều chưa vào trong, không lọt một nhiểu, nên chi sau khi Phật nhập diệt rồi, những Kinh sách mà A Nan Ðà đã kết tập đó nó chẳng hề sai khác một tí gì với chính niệm Phật đã nói. Sỡ dĩ được lời của Tổ Ca Diếp Ba vừa chứng thật vừa tán thán rằng : Pháp hải của Phật như bể lớn, dồn chứa vào tâm của A Nan Ðà, thật thế.

Nhứt thời : một thuở, với chúng sanh hoặc đại cơ, tiểu cơ duyên cảm được, thì Phật Ngài liền hiện ra hai thân thắng ứng, liệt ứng để tùy cơ nói dạy, đấy là một thời cơ giáo tương khấu : trình độ thích hợp nhau với giáo lý. Bây giờ nhứt thời đây là cái thời mà Phật ngài tán dương phán “Trì danh niệm Phật” để đối với căn cơ là học giả, hành nhơn thích hợp với tịnh độ.

Tại : ở chữ tại nghĩa như chữ trụ. Pháp thân của chư Phật không trụ, nghĩa là không nhứt định ở một chỗ nào mà không chỗ nào là không ở. Vì pháp thân vốn phi như vật có hình tướng, nên nói là vô trụ, tâm lượng nó giáp khắp pháp giới, nên nói là chăng chẳng trụ. Ðó là pháp thân, còn với Báo thân thì đợi bực đại căn cơ có cảm đến đâu là hiện ra cái thân rất rực rỡ khắp đầy, để nói cái giáo pháp viên đốn, thật thế. Ðấy là Báo thân; đến như ứng thân thì cũng không nhứt định có trụ xứ, vì toàn là nương nơi cơ duyên của chúng nhơn được cảm thấy lấy, bởi tùy theo mỗi loại thế nào mà hóa hiện thân như thế nấy, kêu là thiên bách ức hóa thân, hễ có ứng theo cơ duyên để thuyết pháp thì có hiện trụ tại đó vậy thôi.

Như đức Thích Tôn ứng hiện thân ra trụ nơi đời 80 năm, những chúng cơ duyên được trông thấy, được tế độ đã hết thì, ứng thân ấy phải diệt. Tỷ như củi đã hết, thì lửa phải tắt. Trong thời Phật nói bổn Kinh đây là ứng thân ngài trụ tại nơi vườn của ông Cấp Cô Ðộc, để hóa độ cho một loại có cơ duyên với pháp tịnh độ, nên nói là tại.

Xá vệ quốc Kỳ Thụ Cấp Cô Ðộc Viên : Xá vệ quốc :

Nước Xá Vệ tiếng Phạm Sràvasti , dịch : Văn vật : vật nghe nghĩa là vật đẹp, đức tốt, đạo hay v.v...vì thường xuất hiện nhiều người : thiểu dục, đa văn, giải thoát và đủ món báu vật sản xuất đều nức tiếng đồn đãi đến các nước ngoài nên bảo là văn vật. Xá vệ nguyên là một cái danh thủ đô của nước Kiều Tát La, vì muốn khỏi trùng danh với nước Kiều Tát La ở phía Nam, nên lấy tên thành kêu làm tên nước Xá Vệ quốc chứ không kêu là Xá Vệ thành nữa. Bấy giờ, nước Xá vệ là một đại quốc ở Trung tâm điểm của Aán Ðộ, kêu bằng trung Thiên Trúc, đương thời Phật còn ở đời, vua Ba Tư Nặc trị vì nước ấy.

Thái Tử của vua tên là Jetrjeta (Kỳ Ðà, dịch là chiến thắng) có sở huê viên ở bên ngoài cánh cửa thành phía Nam Xá Vệ chừng năm dặm, là nơi của Thái Tử để ngắm chơi thưởng thức. Nước Xá Vệ có đại thần tên là Sudatta (Tu Ðạt Ða) dịch : Thiện Cấp thí, nghĩa là hay đem tài vật cấp thí cho những kẻ mồ côi, trơ trọi một mình, nên người đời cảm đức gọi ông là Cấp Cô Ðộc trưởng giả. Oâng chở vàng trải lót khắp mặt đất, để đổi mua lấy sở vườn của Thái Tử, rồi kiến thiết là Tinh Xá, rước Phật và chúng Tăng an trụ tại đó.

Thấy Trưởng giả trọng pháp khinh tài, rất  cảm mến cái thành tâm, nên Thái tử hỷ xã hiến luôn những kỳ hoa dị thụ và còn một ít chỗ đát chưa trải vàng, nên gọi chung là Kỳ Thụ Cấp Cô Ðộc viên : cây kiểng hoa trái của Kỳ Ðà, vườn của Cấp Cô Ðộc.

Hai thân thắng liệt của Phật

Cùng với một nghìn hai trăm năm mươi người đều là bực đại Bhiksu Tăng, cũng đã chứng quả Ðại A La Hán được chúng nhơn tôn tặng là thượng thủ tri thức.

Một “Chúng thành tựu” đó, hiệp với năm món trên, gọi chung là “lục chủng thành tựu”.

Từ đoạn trên đến câu “chư đại đệ tử” dưới, là ghi về “chúng Thanh văn”.

“Ðại Bhiksu Tăng” là nói về phần loại : hạng lớn nhứt trong chúng. “Một nghìn hai trăm...” là nêu về phần số. “Ðại A La hán” là nêu về phần quả vị “Chúng nhơn tôn tặng” là tán thán đức hạnh, với năm sự trên đã thành phần, tất phải trông cậy vào thứ sáu là pháp chúng mới là hoàn toàn thành tựu về sự hoạt động lợi ích được. Số là do một Phật ra đời, thì có các thánh phụ giúp giáo hóa, khiến cho sáu cõi phàm đồng về với cõi Phật.

Bhiksu (Bí Sô Tỳ Kheo) là cái Danh trong thời tu nhân, A La Hán (arhàn) là cái vị trong thời chứng quả. Chữ “Ðại” đủ ba nghĩa : lớn, nhiều, hơn. Vì là các vị Bí Sô được các hàng chư Thiên, quốc vương, đại nhơn đều ngửa trông kính mến, nên gọi đại là lớn; có trí huệ sáng suốt, hiểu thông cả kinh sách ở trong đạo ngòai đời nên gọi là Ða là nhiều; cao siêu ngòai cảnh giới các Trời Ma vương, quả vị đã cao lại chánh, nên gọi thắng là hơn.

Bí sô đủ ba nghĩa : 1/ Khất sĩ : Trò xin, nghĩa là với trên thì theo xin pháp của Như Lai để trưởng dưỡng cái mạng trí huệ ; với dưới thì theo Khất thực của nhơn chúng để tự dưỡng cái thân duyên sanh, nên gọi rằng Khất sĩ, vì có khất pháp để học tu lấy mình và huấn luyện cho người, nó chẳng đồng cái danh khất cái : đứa xin, vì chỉ xin ăn, chứ không xin pháp, vàchả tu mình luyện người gì, nên gọi đứa ăn xin, chớ chẳng gọi là trò xin. 1/ Phá an : Năng hủy bỏ những đều ác pháp là tham, sân, si, mạn, tà kiến..... là các phiền não mê hoặc của tri kiến và tư tưởng. 3/ Bố Ma : Rún Ma, vì đem tâm về chánh đạo thụ giới, làm cho kinh động đến cung điện của trời Ma vương. Nghĩa là chữ “Bí” dịch là “Bố” : Khủng bố, chữ “Sô” gọi là năng làm cho chúa trời Ma vương và nhơn dân của trời ấy đều rún sợ ! Vì là trong thời đi xuất gia, bỏ râu tóc, bận áo ca sa, thụ đại giới đó, là cái thời mà chúng Thiên Ma rất kinh hoảng ! tại sao ? vì chúng than rằng : Người ấy đã lên đường chánh giác rồi, chẳng những trong tà đạo ta đã mất một phần tử, mà người lại còn tuyên truyền khuyết dẫn ma dân của ta quày đầu về Phật giới nữa, e rồi đây, cung điện, dục lạc của ta thiếu người ở và hưởng ! Vậy hỡi các Ma nữ ! Ma dân ! hãy cố theo để cám dỗ, may ra người có còn ham mê mà trở lại với chúng ta chăng !?

Tăng : Gọi đủ là Tăng già (Sangha) dịch là hòa hợp chúng. Luật hành sự sao nói : từ bốn Bí Sô nhẫn lên, đông ở một chỗ, xử dụng hòa họp. Hòa họp như thế nầy : 1/ Về Lý Hóa họp là đồng chứng đến cảnh giới tịch tịnh giải thoát; 2/ Về sự là có sáu nghĩa : a/ thana hòa đồng ở chung, b/ miệng hòa chẳng cải lộn, c/ý hòa đồng vui, d/ với giới luật được hòa đồng lãnh giữ, đ/ với Phật tri kiến, được hòa đồng hiểu thấy, e/ với tứ sự lợi dưỡng, được hòa đồng thụ hưởng sống chung. Hành sự cao tư trì ký nói : 3 sự giới hòa, kiến hòa, lợi hòa, đó là hòa họp về thân thể; còn thân, khẩu và ý hòa đó là hòa họp về phần tướng. Lại nói từ Sơ quả Tu đà hoàn nhẫn lên, gọi là Lý hóa vì với phần “chứng” đã đồng; từ bực nội phàm nhẫn lại, thì gọi là Sự hòa, tức là lục hòa trên.

Một ngàn hai trăm năm mươi người : Ba anh em ông Ca Diêp Ba, ba người này đều có các đệ tử. Cọng được một ngàn người; nguyên trước tu pháp ngoại đạo gặp Phật giáo hóa, cả Thầy trò đều cải tà quy chánh, đồng thành đạo quả. Lại ông Xá Lợi Phất, ông Mục Kiền Liên cùng đem bọn đệ tử hai trăm người bỏ tà về chánh, theo Phật chứng chơn. Và ông Da Xá tử, hay  Tu Ðề Na tử dẫn 50 chục người đệ tử từ nơi ngoại đạo quy đầu học Phật đắc đạo quả. Cọng chung với trên thành con số ấy (1250). Vả nữa bọn ông Kiều Trần Như năm người là trước tiên thụ giáo đều đã thành đạo quả, họ đều cảm thâm ân của Phật hóa độ thành thử họ cũng thường theo Phật để giúp việc dạy.

A la hán : hàm đủ ba nghĩa 1: Ứng cúng, nên chịu cúng. Vì với Nhơn là “khất sĩ” đã xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, nên với Quả đáng được thụ lãnh của nhơn gian, thiêng thượng cúng dâng có phần nhơn quả đáng làm ruộng phước cho chúng. 2 : Sát tặc : Giết giặc, với Nhơn là phá trừ những điều ác của kiến hoặc, tư hoặc, nên kết quả gọi là giết những quân giặc phiền não. 3: Vô sanh : không luân hồi sanh tử nữa, vì với nhơn đã khiến Ma sợ, nên với Quả gọi là không sanh. Bởi sau khi bỏ cái thân ngũ uẩn đó rồi, là hoàn lại cái pháp thân bất sanh bất diệt, nên chẳng trở lại luân chuyển thụ sanh nữa. Ðấy là ba nghĩa làm tu nhơn của Bí sô, để tỏ ba nghĩa đã chứng quả của La Hán. Ðịnh tánh La Hán, chẳng đwocj gọi là Ðại, chỉ có Huệ tánh La hán, mới gọi là Ðại. Vì La hán ở đầy đều là : Trong tâm chứa kín đức hạnh Bồ Tát, ngoài thân tỏ bày danh tướng Thinh Văn, để giúp Phật làm nên đại sự giáo hóa, làm bực thượng thủ giữa chúng tăng, biết căn cơ của chúng rõ thời sự của đời, nên gọi là “Chúng sở tri thức” : Bực thượng thủ tri thức chúng.

Bực Trưởng lão là các Ngài : Xá Lợi Phất[6],  Ma ha Mục Kiền Liên[7] Ma ha Ca Diếp[8] Ma Ha Ca Chiên Diên Ma ha Câu Si La Ly Bà Ða Châu Lợi Bàn Ðà Già, Nan Ðà A Nan Ðà La Hầu La Kiều Phạm Ba Ðề Tân Ðầu Lô Phả La Ðọa Ca Lưu Ðà Di Ma Ha Kiếp Tân Na Bạt Câu La A Nậu Lâu Ðà như thế cả các vị đệ tử lớn của Phật.

Ðấy là nêu rõ cái Danh của các Ngài, ví tuổi sanh và đức hạnh đều cao cả, nên được gọi là Trưởng Lão. Mười sáu vị trên, mỗi đều riêng chiếm một cái (tài đức) đặc biệt, để xưng bực nhứt, nên đều được gọi là Trưỡng Lão, nghĩa là cái tài đức ấy rất già dặn lớn hơn.

Như ông Xá Lợi Phật thì riêng có tài đức bằng “Trí huệ” vì lúc còn ở trong bào thai đã giúp ích cho thân mẫu biện luận hơn chúng; năm lên tám tuổi, lên tòa tranh biện, không ai bì kịp; khi quy đầu Phật pháp, chỉ trong bảy ngày ông đã suốt thông cả giáo pháp của Phật; nên người đời gọi là trí huệ đệ nhứt.

Oâng Mục Kiền Liên thì có cái thiên tài bằng “thần thông” vì ngăn dẹp được con Ðộc Long, không cho xe của Kỳ vực trên trời chạy đi, đốt cháy cái nhà thắng trận của Trời Ðế Thích, ngăn cấm được chúng Ngoại đạo luyện phép dời núi đã rung rinh, hóa phép đem cả con cháu họ Thính tản cư giấu trên cõi trời v.v...nên gọi là Thần  Thông đệ nhứt.

Ca Diếp thì chuyên tu hành di đầu đà, dù tuổi già cũng không chịu thôi nghĩ, được Phật truyền tâm ấn, làm vị Tổ Sư số một bên Aán Ðộ đầu đà đệ nhứt.

Ca Chiên Diên dịch là Văn Sức : văn chương trau chuốt. Nghĩa là với giữa các trường luận nghị lời của ông ứng khẩu thốt ra là toàn những vẻ văn chương, câu lối rất khó vì nói hoặc bàn ngược luận xuôi ngang hay dọc đảo lộn phía nào lời lẽ cũng đều rất linh hoạt vang reo nên gọi là luận nghị đệ nhứt. Nguyên ông làdòng giống Bà La Môn ở Nam Thiên Trúc.

Câu Si La dịch là Ðại Tất : đầu gối lớn. Thủo ông còn tu học bên phái Ngoại đạo chuyên môn đọc thuộc lòng được mười tám bộ kinh sách sau khi đầu Phật xuất gia, tu chứng được bốn pháp biện tài với giữa những cuộc hạch hỏi, lời lẽ của ông rất trôi chảy nên gọi là thiện vấn đáp đệ nhứt.

Ty Bà đa, dịch là Tinh Tú : ngôi sao Tú Nhơn cầu đảo ngôi sao ấy mà được kết quả sanh ra ông, nên đặt tên bằng tên của vì sao kia. Tâm của ông không hề điên đảo loạn tưởng vì tu pháp chánh định đã thâm nên gợi vô đảo loạn đệ nhứt.

Châu Lợi dịch là Ðại Lộ biên sanh : Anh lớn để bên đường. Bàn đà già, dịch là Tiểu lộ sanh : Em nhỏ đẻ dọc đường; bởi vì hai anh em đều do đẻ nơi lộ đồ là, khi mẹ sấp lâm bồn, phải về nhà của cha mẹ đẻ để sanh mà lần nào cũng mới về tới giữa đường đã nở nhụy. Oâng Bàn Ðà Già nhơn Phật dạy nửa bài kệ mà đã mấy tháng học không thuộc, nhờ Phật giải thích mới tỏ ngộ được, phát minh ra thần thông, biệt tài vô cùng nên gọi là thiện trì nghĩa đệ nhứt.

Nan Ðà, dịch là Thiện Hoan Hỷ : hay vui vẻ, em ruột của Phật Thích Ca ông có cái thân thể tướng mạo rất đẹp gần bằng Phật, nên gọi là dung nghi đệ nhứt.

A Nan Ðà, dịch là khánh hỷ : vui mừng, em con nhà chú của Phật, ông đã học thông nhiều kiếp nên gọi là đa văn đệ nhứt. Làm thị giả hầu Phật trong những thời nói pháp; sau khi Phật nhập diệt ông kết tạng Kinh. Ðược đức Ca Diếp truyền tâm ấn làm vị tổ thứ hai bên ấn độ.

La Hầu La dịch là Phú Chướng : Phủ che. Nhơn vì kiếp trước lấp hang làm cho con chuột bị che phủ dưới đất sáu ngày nên nay ông bị quả báo ở trong bào thai của mẹ sau năm mới được sanh ra ông có cái hạnh nguyện bí mật là với một nghìn đức Phật trong kiếp trụ nầy, mỗi Ngài lúc còn tại gia ông cũng đều làm con rồi cũng theo xuất gia, như Thái Tử Sĩ Ðạt TA khi còn tại gia thì ông làm con lúc Ngài xuất gia thành Phật Thích Ca thì ông cũng theo đi tu v.v... với cái hạnh nguyện kín đó, chỉ có Phật mới có thể biết được nên gọi là Mật hạnh đệ nhứt.

Kiều Phạm Ba Ðề, dịch là Ngưu ty : Trâu nhơi. Bởi kiếp trước nhái điểu để khinh thường một vị Lão Tăng rụng răng ăn cơm nhai trệu trạo cái miệng, ông đã học bộ nhái điểu lại còn nói lớn mặt rằng : Sư ông ăn sao cái miệng như con trâu nhơi. Thế nên mắc báo đọa làm trâu đã ở trăm kiếp, nay dù chứng quả La hán, nhưng còn cái tật dư thừa là thói quen bằng cách miệng cứ nhai hoài như trâu, dù không ăn gì mà miệng cứ nhai luôn. Ơû giữa nhơn gian, e người đời không biết là bực Thánh, thấy thế cũng khinh diễu mà mắc tội lỗi, nên Ngài thường ở luôn trên cõi trời, chư thiên đều biết kính lạy cúng dường. Ðó là Ngài vânglời Phật chỉ định, nên gọi là thụ thiên cúng đệ nhứt. Vậy đời nay, đối với bực già bịnh dù có cái tật chi, các thấy thiếu niên chứ không nên diễu cợt nhài lờn, phải kính dè nhớ lấy.

Tân Ðầu Lư Phả La Ðọa, dịch là bất động lợi căn : ý thức chẳng động, căn tánh rất thông lợi. Thường thụ hưởng trai phạm thiện tín đời mạt pháp cúng dường, để làm phước điền cho nhơn gian; hễ trai chủ nào mà thiết đàn trai tăng thành kính, thì ngài ẩn ngầm đến lẫn lộn trong chúng tăng để chứng cúng, nên gọi là phước điền đệ nhứt.

Ca Lưu Ðà Di, dịch là Hắc Quang: đen ngời. Vì cái da đen huyền có ánh ngời, lãnh mạng làm Sứ giả của Phật. Với cái nhiệm vụ giáo hóa ông có cái sở năng rất hay khéo hơi hết, nên gọi là thiện giáo hóa đệ nhứt.

Kiếp Tân Na dịch là Phong Tú ; Sao Phòng. Trước khi đến đầu Phật xuất gia, đi giữa đường gặp mưa vào nghỉ đỡ nơi nhà làm đồ gốm, Phật biết trước, bèn hóa thân làm một nhà sư cũng đến xin ngủ trọ núp mưa, nhà sư ấy vì nói pháp cho nghe, liền chứng đạo quả La hán. Nhà sư thâu phép hoàn nguyên lại là hình Phật, ông rất tinh tường về khoa thiên văn, nhứt là rõ biết sự biến hiện của các ngôi sao, sẽ có các hung thế nào nên gọi là tri tinh tú đệ nhứt.

Bạt Câu La, dịch là thiện dung : hình dung khéo. Nghĩa là tướng mạo nghiêm chỉnh. Nguyên kiếp trước có thí thuốc cho một nhà Sư bịnh bằng một trái cây, nhà Sư ăn quả ấy liền được lành bịnh; nên đời nay ông được kết quả bằng những hiệu nghiệm là lâm vào năm chỗ rất nguy hiểm mà không chết. Lại, kiếp trước giữ giới bất sát sanh, nên đời nay sống lâu được một trăm sáu chục tuổi nên gọi là thọ mạng đệ nhứt.

A Nậu Lâu Ðà, dịch là Vô Bần : không nghèo. Nhơn vì kiếp trước, đem cơm bằng gạo lúa tắc cúng cho vị Bích Chi Phật, nên về sau suốt chín mươi mốt kiếp được cái phước báu muốn chi...được nấy nên gọi là không nghèo. Nay tu pháp Tam muội chứng được thiên nhãn thông thấy biết sáng suốt nên gọi là thiên nhãn đệ nhứt.

Mười sáu đức Tôn giả trên đều là : Trong tâm chứa kín đức trí của Bồ Tát, ngoài thân tỏ bày uy nghi của Thinh Văn, thường theo sát cánh Phật, để phụ giúp mọi việc giáo hóa, nên được ghi vào đây, còn các La hán khác rất nhiều mà không được ghi, là vì ở xa chẳng thường theo Phật để phụ tá.

Câu “Như thế cả các đệ tử lớn” là nói tổng quát cả vô lượng thánh Thinh văn giữa pháp hội kỳ viên đạo tràng.

Với các đức Bồ Tát lớn, như là : Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử A Dật Ða Bồ Tát, Kiền Ðà Ha Ðề Bồ Tát, Thường tinh tiến Bồ Tát, còn nhiều các đức đại Bồ Tát như thế nữa.

Ðấy là ghi về chúng hàng Bồ Tát : câu đầu là nêu lên  cái giới : loại từ Văn Thù sắp xuống là chỉ riêng về mỗi đại danh : câu rốt là số Bồ Tát còn nhiều đến vô lượng mà ghi bằng cách nói tổng quát.

Bồ Tát, gọi đủ là Bồ đề tát đỏa, dịch là : Ðại đạo tâm chúng sanh, nghĩa : chúng sanh nầy đã thành tựu cái tâm đạo lớn, vì Bồ Tát thường hay đồng thời xoay ra cái đức độ cả bi lẫn trí để làm việc phổ lợi cho mình và người. Ðại luân thích nghĩa rằng : Bồ Ðề gọi là Phật đạo, Tát Ðỏa gọi là thành chúng sanh, là nói : dùng đạo Phật để làm những việc lợi ích cho chúng sanh được nên người hiền lành thì gọi là bồ đề tát đỏa.

Phật xưng là Pháp Vương, còn Bồ Tát hay nối dõi theo Phật để thạnh hành giáo hóa, làm bực thượng thủ giữa chúng, nên xưng là Pháp vương tử. Luận Ðại Trí Ðộ, cuốn 29 nói : Phật làm Pháp Vương. Bồ Tát đương tiến vào địa vị của pháp vương nên gọi là Pháp Vương tử, cả thập địa Bồ Tát đều xưng là Pháp Vương Tử v.v...

Xá Lợi Phất là bực Quyền Trí đệ nhứt giữa chúng Thinh Văn; Văn Thù là bực thật trí đệ nhất giữa chúng Bồ Tát; A Dật Ða tức Di Lặc là đấng sắp bổ xứ thành Phật ở tiểu kiếp thứ 10 (Thích Ca ở tiểu kiếp thứ 9) l Kiền Ðà Ha Ðề dịch là Bất hưu Tức : chẳng thôi nghỉ, vì vẫn tu hành đã nhiều kiếp mà chẳng hề tạm nghĩ. Thường tinh tấn ; với cái nhiệm vụ tự lợi lợi tha, siêng làm mãi kiếp nợ tột kiếp kia chưa hề biết mỏi.

Bồ đề tát đỏa là : Khai sĩ, Thỉ Sĩ Cao sĩ, Ðại sĩ. Các Ðại Sĩ như Văn Thù, Di Lặc v.v.... trên đây là quả vị đã thâm sâu, hãy còn chí nguyện thân cận đức Di Ðà thay, bằng chứng là danh hiệu của các đại Bồ Tát ấy còn ghi trong hội thuyết nầy như trên đó, vậy kính mong các nhà tu học Phật hiện nay và sau, chớ nên coi thường pháp niệm Phật tịnh độ mà gây lấy cái lỗi chẳng nhỏ, vì các người đã hơn các đức Văn Thù...kia chưa ?

Và, Trời Thích Ðề Hoàn Nhơn, cùng tất cả các Trời nhiều đến số vô lượng, họp thành đại chúng nơi pháp hội Kỳ Viên.

Ðây là ghi về chúng trời và người dự hội.

Thích Ðề Hoàn Nhơn, dịch là năng tác thiên chủ : hay làm trời chủ, vì Ðao Lợi, dịch là tam thập tam thiên : Ba mươi ba nước trời, giữa 33 nước trời ấy, ông Thích Ðề Hoàn Nhơn làm chủ tể ở trung ương. Cả 33 cõi trời ấy, chung lại là một cõi thứ hai trong sáu cõi Trời Dục ở hạ giới.

Câu “Thíc Ðề Hoàn Nhơn đẳng”, chữ Ðẳng : Thảy, là cả thảy các trời ở ba giới mười phương, nên nói : Các Trời nhiều đến số vô lượng.

Lại nói vô lượng chư Thiên là bao quát cả chúng Bát bộ thiên long; phàm những chúng có duyên với pháp tịnh độ được dự hội nơi Kỳ Hoàn nầy, đâu chẳng kể suốt cả.

Các Thánh Thinh Văn tâm trụ nơi “không” thường đi theo bên Phật, nên ghi ở trước; các ông trời và chúng nhơn lòng còn trụ nơi “Hữu” thường làm phái ngoại hộ Tam Bảo, nên ghi ở sau; chỉ các các Thánh Bồ Tát thường hành cái đạo lý trung bình, nối thạnh Phật hóa như bóng theo hình, nên ghi ở trung gian.

Từ Như thị ngã văn.....đến chư thiên đại chung cu, là “lời thông tự đã rồi”. Thông tự tạ thông đồng, nghĩa là cả tạng Kinh đoạn văn ở trước đầu mỗi cuốn đều để lời tựa phổ thông như thế; cũng gọi rằng lời tựa để làm chứng tín.

Lục đạo

Ðạo : đường; thứ đến. Là đường sá của chúng sanh đi luân hồi, nên gọi là lục đạo chúng sanh đều do nơi nghiệp thiện, nghiệp ác mà đến đó để chịu sanh, nên gọi là lục thú, Kinh Pháp Hoa tự phẩm nói : Lục đạo chúng sanh, sanh tử sở thú.

Sáu cái tướng hành dục của sáu trời Dục giới : 1 Trời 1 tứ Thiên Vương và Trời Ðao Lợi (Ngọc Hoàng) khi hai ông bà hành dâm với nhau bằng cách như chồng vợ dưới nhơn gian là lưỡng thân giao hội. Ba trời Dạ Ma hành dâm cách chỉ ôm nhau hôn mà có chữa. Bốn Trời Ðâu Suất hành dâm bằng cách chỉ nắm tay nhau mà thành thai. Năm Trời Lạc Biến hóa khi hành dâm bằng cách chỉ cứ ở với nhau mà cũng có mang. Sáu Tha Hóa Tự Tại lúc hành phu phụ chi đạo bằng cách là chỉ ngó nhìn với nhau rồi cũng nhâm thần kết tử. Tóm lại, để bằng cách hành dâm thai sanh nên gọi là Dục giới.

Thần bát bộ

Tám bộ chúng trên thấy ghi trong Kinh Xá Lợi Vấn; với tám bộ ấy, nhục nhãn của loài người không thể trông thấy, vì phước nghiệp khác nhau. Giữa tám bộ, hai chúng Trời và Rồng có thần nghiệm khá hơn, nên gọi là Thiên Long Bát bộ, thường hầu Phật những thời thuyết pháp. Vì kiếp trước chỉ tu học về Kinh Luận thắng phần hơn, nên nay làm thân hộ pháp. Mà lẫn lộn trong các giới quỷ thần, là vì ít tu học về giới luật, nên nay chưa được giải thoát.

Lúc bấy giờ, đức Phật Thích Ca Ngài kêu Cụ Trưởng lão là Xá Lợi Phất để bảo rằng : Từ thế giới ta bà đây, về phía tây qua cách mười muôn ức cõi nước Phật, bên ấy có thế giới tên là cực lạc, trong cõi ấy có đức  Phật, hiệu là A Di Ðà, hiện nay Phật ngài đương còn thường thuyết pháp cho chúng sanh bên ấy nghe[9]

Ðoạn đây chỉ rõ ra bằng cách tổng quát về cái danh của cõi y báo là thế giới cực lạc, hiệu của đức giáo chủ là A Di Ðà.

Số là, với các bộ kinh kia đợi có người đứng ra thỉnh giáo, Phật Ngài mới thuyết pháp. Chừ với Kinh nầy đây, thì chẳng như thế; nhơn vì với cõi cực lạc là chỗ chơn chánh quy túc, để cho chúng sanh trong chín cõi giới đồng về lập mạng an thân; với câu A Di Ðà Phật là phương pháp tiện nghi, trước dẫn chúng nhơn đều đặng siêu sanh độ tử. Bên phái tu tiểu thừa họ ít biết đến cả lục đạo chúng sanh không nghe, vì vô duyên thiếu căn lành đối pháp môn tịnh độ ! Còn chúng có căn duyên đặc điểm này, nhờ đức Thích Tôn sẵn lòng từ không đợi, làm đức thầy chẳng mời, chính miệng thốt lời kêu bảo Xá Lợi Phất, để rộng thêm khen ngợi cái nhơn thắng diệu của tịnh độ; vì chẳng những chỉ đương thời pháp hội kỳ hoàn được thấm nhuần ích lợi mà thôi, đến cả chúng nhơn ở thế giới về sau cũng đều được nhờ pháp niệm Phật nầy làm chỗ nương về cứu cánh nữa là khác.

Vả luận : với tông tịnh độ, có ba bổn kinh chuyên môn, mà tiểu bổn đây là phương pháp rất giản tiện, vì về phần lượng thì, văn tự dón ít mà ý nghĩa hàm nhiều; với pháp niệm Phật có bốn cách mà về phép tu “trì danh niệm Phật” lại riêng được chóng tắc hơn, chỉ có một câu sáu tiếng, chuyên niệm nội trong bảy ngày, hễ đặng “nhứt tâm bất loạn” là chắc được vãng sanh sanh cõi tịnh của Phật.

Chính như chỗ bảo : tu các pháp khác, dường như con kiến bò từ dưới chân lên đảnh núi cao; có công tu pháp niệm Phật, tỷ như ghe buồm bọc gió đi dòng nước thuận. Lại ví : con mọt ở trong cây tre, muốn ra mà cứ đi thẳng lên thì khó, vì phải đục phủng qua nhiều lóng đốt; còn khoét lỗ ngang chun ra thì dễ vì chẳng hao công nhiều ngày.

Tu pháp niệm Phật cách trì danh đây cũng như thế, vì siêu xuất tam giới bằng cách đi tắt ngang ra, và được vãng sanh bằng cách mang nghiệp theo. Bởi có nguyện lực của Di Ðà hướng dẫn, và chư Phật sáu phương hộ niệm; còn tu theo các pháp môn khác thì đâu đặng như thế, vì phải dứt cho hết nghiệp chướng kiến hoặc, tư hoặc mới được ra khỏi ba giới bằng cách từ bực đi dọc, như  Thinh Văn phải chứng từ Sơ quả đến tứ quả mới ra khỏi tam giới, còn Bồ Tát cũng phải trãi qua từ tam hiền đến thập Thánh, vã lại chỉ tự lực, chứ chẳng có tha lực gia hộ gì !

Hỏi : Rằng mười muôn ức cõi Phật, mà mỗi một cõi vậy là bề rộng chừng bao nhiêu ?

Ðáp : cõi Phật, với bề rộng hoặc lớn hay nhỏ, không thể nhứt định hạn cuộc được; như cõi Phật của đức Thích Ca đây là cõi ta ba thì lấy một tam thiên thế giới làm một cõi Phật ; các phương khác thì : hoặc lấy hai tam thiên thế giới l àm một cõi Phật...hoặc nhẫn đến lấy ngàn tam thiên thế giới làm một cõi Phật; muôn tam thiên thế giới làm một cõi Phật.

Như  Kinh Pháp Hoa, Phật thụ ký cho ông Phú Lâu Na qua đời vị lai sẽ thành Phật, lấy hằng hà sa số tam thế giới làm một Phật quốc. Do đấy so sánh ra thì cõi ta bà rất là nhỏ bé, vì chỉ có một tam thiên thế giới thế như luận về cái chỗ xa hay gần của thế giới thì lại còn có sự là lý : So về sự, dù có cái bề xa bằng mười muôn ức cõi Phật, mà so về lý thì nó không cách một gang tấc nào.

Ðây, kinh Lăng Nghiêm nói : “Cái hư không nó sanh trong đại giác (chơn tâm), tỉ như một bọt nước nổi giữa biển. Các cõi nước nhiều như vi trần của pháp hữu lậu, đều nương giữa hư không để phát sanh. Bọt nước tiêu tan, cũng như cái hư không tiêu, hư không còn tiêu thay, huống là tam giới”.

Thế nên, tất cả quốc độ nhiều như số vi trần dù tịnh độ uế độ trong mười phương thế giới đều nương nơi tự tâm (đại giác) để gây dựng, mà tự tâm nó tròn bọc cả hư không, thế với mười muôn ức cõi Phật kia đâu phải là xa, còn thâu tụ tâm lại nó ở trước mắt, thì mười vạn ức Phật độ ấy cũng phi là gần. Vậy, biết gần hay xa gì cũng vẫn là nhứt như.

Những người niệm Phật, nếu mỗi niệm cùng tương ưng với Phật, thì tâm niệm của người tức tâm niệm của Phật, kêu bằng tâm tức Phật, Phật tức tâm. Niệm Phật mà tiến đến trình độ đó, thì đã chẳng cách bức nhau với Phật Di Ðà mà cũng chẳng xa cách nhau với chốn bửu sở (Nhứt thừa thật tướng).

Ðấy là, so về lý tánh, thì tịnh độ tuy gần, mà với sự tướng thì có con số mười muôn ức cõi rõ ràng. Với sự tướng thì quốc độ, giới hạn tuy nhiên, mà mỗi bước đi trong hằng ngày, không bước nào là không đạp trên cõi Cực lạc, vì tâm tịnh độ tịnh thì bộ bộ gia như, rất mầu thay với lẽ duy tâm, chẳng thể nghĩ bàn đặng !

Rằng có thế giới tên là nước Cực lạc, đó là chỉ cõi y báo; các nước Phật ở thập phương, nước nào cũng đều có bốn cõi, đều phân ra có cõi tịnh, có cõi uế; chỉ có nước Cực lạc, bốn cõi đều tịnh, thế đều là nhờ công đức xứng lý tánh bởi hạnh nguyện của Phật Di Ðà và pháp niệm Phật tam muội của chúng nhơn tu được phần hơn mà cảm ứng nên bốn cõi đều tịnh như thế.

Rằng có đức Phật hiệu là A Di Ðà, đó là chỉ rõ cái danh của Giáo chủ ở cõi cực lạc kia. Là nói : Nước cực lạc thì có đức Di Ðà làm chủ để giáo hóa, tiếp dẫn người niệm Phật; cũng như nước Ta bà có đức Thích Ca làm chủ để dạy người tu niệm Phật.

Về phần chung để luận : thì mỗi đức Phật đều có 3 thân là Pháp thân, Báo thân, Hóa thân. Lại với ba thân đều có đơn kép  và ba thân ở nơi bốn cõi như thế nào, sẽ thấy biết ở cái biểu đồ dưới kia.

Rằng hiện nay đương còn thuyết pháp, đó là nói cho phân biệt với : quá khứ đã diệt, vị lai chưa đến, mà với hiện tại đây, nào những chỉ một đức Di Ðà nói pháp, mà cả đến : nước, chim, cây, rừng đều thường thường diễn thuyết trong bằng giờ, tiếng pháp không hề dừng nghỉ. Chúng sanh nghe pháp, liền mở trí huệ của tự tánh Phật ra mau chứng lên đạo quả vô thượng của Phật, mà tiếng pháp ấy vẫn thường diễn thuyết mãi đến đời vô tận vị lai, cũng chẳng ngớt dứt.

Tam thiên thế giới

Bề dọc là 3 giới bề ngang là ba ngàn thế giới, chung lại là một cái cảnh giới của một đức Phật phân thân ra hàng ngàn trăm ức ứng thân để giáo hóa. Mà nước Cực lạc thì ở ngoài số muôn ức cái tam thế giới. Lại nói nước cực lạc cách nhau với nước ta bà bằng con số mười vạn ức cõi Phật nhưng ta bà Cực lạc cũng đồng ở trong lớp thứ mười ba của hai mươi lớp hoa tạng thế giới nhiều như số vi trần trong mười ba cõi Phật để bao vây giáp vòng ngoài lớp thứ mười ba đó, nghĩa là với lớp thứ mười ba thì có mười ba Phật để bao vây chung quanh.

Với hình và lượng của hai mươi lớp hoa tạng thế giới, đã có biểu đồ giải rõ ở sau hai câu Hoa tạng huyền môn, Tỳ lô tánh hải của tập thượng rồi.

Cực lạc bốn cõi đều tịnh

Ðấy chỉ riêng nói về nước cực lạc : Cả bốn cõi đều thuần là thanh tịnh trang nghiêm, vì địa cầu bằng kim ngân thất bửu, nên cõi phàm thánh đồng cư vẫn tịnh độ. Còn các cõi phàm thánh đồng cư ở phương khác như cõi ta bà đây chẳng hạn thì có đều có uế trược, vì chúng sanh tâm còn ba độc mười ác.

PHỤ CHÚ : thiên thai tông lập ra bốn thứ Phật độ : phàm thánh đồng cư độ là một : Một quốc thổ mà gồm cả loài người, loài Trời, phàm phu, các thánh Thinh văn, Duyên giác đồng ở lẫn nhau. Cõi này có hai thứ là tịnh thổ, uế thổ, như cực lạc phương tây là đồng cư tịnh thổ; thế giới ta bà đây là đồng cư uế thổ. Phương tiện hữu dư độ là hai : là chỗ sống ở của loài người đã dứt được hai thứ phiền não của kiến hoặc tư hoặc, ra khỏi sanh tử của tam giới. Thế là chỗ sống ở của những người tu đạo phương tiện của tiểu thừa, đã dứt hết hai hoặc kiến tư, nên gọi là phương tiện; với hai cái hoặc trần sa vô minh chưa dứt hết, nên gọi là hữu dư. Lại là chỗ ở của bảy bực người tu pháp phương tiện, nên gọi là phương tiện độ. Bảy bực người là : hai người Thinh văn, Duyên giác bên tạng giáo, ba người Thinh văn, duyên giác, Bồ Tát bên Thông giáo, một người Bồ Tát bên Biệt giáo, và một người nữa là

Thế nên Tổ Thiên Thai đại Sư dạy người chỉ quán một niệm tức không, tức giả, tức trung, thì có mười giới các pháp Tánh, Tướng, đâu chẳng đủ, nếu hay từ đây tinh tiến, thì thẳng tiến lên bực Thánh, không ngờ gì nữa.

Pháp quán mười thừa

Ðơn : chỉ một thân; Phúc : cặp hai thân. Thân bằng tự tánh, thanh tịnh là thân tâm của các đức Như Lai vẫn là chơn tịnh pháp giới, lìa tướng vắng lặng, đủ công đức chơn tịnh là cái thật tánh đối tất cả pháp vẫn bình đẳng cái tự tánh ấy, gọi là Pháp thân, vì chỗ của đại công đức y chỉ.

Cái thân tự thụ dụng là các đức Như Lai từ vô số kiếp tu tạo vô lượng phúc huệ, kết tinh được cái sắc thân bằng viên nãm biến tịnh, thường tự thụ dùng những pháp vui quảng đại.

Cái thân tha thụ dụng , các đức Như lai do nơi trí bình đẳng mà thị hiện ra cái thân vi diệu tịnh công đức, ở cõi thuần tịnh độ, vì chúng Bồ Tát trên thập địa, để nói pháp, quyết nghi khiến Bồ Tát được thụ dụng đại thừa pháp lạc.

Cái thân bằng thị hiện ra, là hợp theo cơ duyên mà chư Phật, Bồ Tát thị hiện ra mỗi mỗi thân, như đức Quan âm thị hiện ra ba mươi ba thân trong phẩm Phổ  Môn đã ghi đó.

Cái thân bằng ứng hiện ra, là đối với Bồ Tát bực sơ địa để ứng hiện ra thì gọ là Thắng ứng thân; đối với ba chúng hiền trước thập địa và bực nhị thừa để ứng hiện ra thì gọi là Liệt ứng thân, như thần trượng sáu của Phật Thích Ca đó.

Cái thân bằng Phật giới, là cảnh giới tức quốc độ của Phật : Kinh Phạm Võng nói : “Hay chuyển đổi cõi Ma vào cõi Phật v.v...”

Cái thân bằng tùy loại, tức là cái thân biến hóa : Ðức Như Lai do nơi cái trí thành sở tác biến ra mỗi hóa thân tùy theo mỗi loại để ở nơi Tịnh độ, uế độ vì Bồ Tát chưa chứng lên thập địa nhị thừa loại dị sanh thích hợp với cơ duyên của chúng để hiện thần thông thuyết pháp hóa độ cho được lợi lạc.

Ba thân ở bốn cõi

Phương tiện hữu dư, là các thánh Thinh Văn, Duyên giác là những người đã chứng quả cứu cánh của Nhị thừa và các Bồ Tát chưa lên Thập địa, sẽ sanh về Tịnh độ ngoài tam giới. Các vị ấy đều tu cái đạo lý phương tiện của không quán mà dứt được kiến hoặc, tư hoặc, nên gọi là phương tiện; chưa tu pháp Trung quán,, chưa dứt hết cái hoặc vô minh nên gọi là hữu dư. Thiên thai quán kinh sớ nói : “Tu pháp phương tiện dứt bốn trụ hữu dư hoặc, nên rằng phương tiện; vô minh chưa hết, nên rằng.

Thật báo trang nghiêm, là trả cho cái nhơn tu tạo muôn hạnh tốt gọi là thật báo ; mà đắc cái cõi tịnh đủ vạn đức trang nghiêm. Tức là nói về hóa thân đối nơi Hóa độ, nghĩa là chơn Báo thân của Phật, ở nơi cõi chơn Thật báo.

Thật sự nước cực lạc hẳn có bốn nghĩa

Càn thánh dương diệm : càn thánh tức là kiền đạt phược thành, dịch là thành quách của thần Kiền Ðạt Phược, Kiền Ðạt Phược dịch : tầm hương, nghĩa : tìm mùi thơm. Bên Tây vực người ta gọi đoàn nhạc kịch hát xướng là Tầm hương, vì bọn ấy có tài năng hay tạo tác trình bày các cuộc huyễn thuật bởi với cái thành quách mị thuật ấy, người ta có thể vào trong dạo chơi được, nên gọi là Tâm hương thành. Cái thành ấy hiện ra bằng cách chỉ là bóng dạng, trông thấy tựa hồ có chứ phi thật sự. Hoặc kêu Dương diệm (ánh nắng mặt nhựt) hóa thành là kiền đạt phược thành : các người lái buôn đi nơi núi biển họ thường thấy ánh nắng của thái dương chói lọi hóa thành ra thành quách Kiền đạt phược với trong thành ấy, người ta nghe có những tiếng âm nhạc, nên tây vực kêu bọn nhạc kịch phường trò là kiền đại phược (càn thác bà : tầm hương), đã gọi chúng là Tầm hương, nên với cái thành kia cũng bảo là Tâm hương thành. Trí Ðộ Luận cuốn 6 chép rằng : lúc mặt nhứt mới mọc, người ta trông thấy cái thành quách kia có cửa có lầu đài cung điện, nhơn vật ra vào, đến khi mặt trời lên cao, thì cái thành ấy tiêu diệt mất. Vì với thành ấy, chỉ trông thấy thôi, chớ phi thật sự nên bảo là kiền đạt bà thành.

Sách phụ hạnh nói : Với Càn thành, người đời họ bảo là Thần lâu, Thần là con sò lớn, sớm mai nó thở hơi lên, do ánh thái dương phản chiếu mà với nơi cồn biển, người ta thấy có hình như lâu đài nhơn vật, nên gọi là Thần lâu : lầu các của con Sò, cũng chỉ hơi bóng chứ phi thật có.

Sách Huệ uyễn âm nghĩa nói : giữa núi thập bửu, có vị thần âm nhạc, tên Kiền đạt phược, các trời trên Ðao lợi, lúc mà muốn thưởng thức nhạc kịch, thì nhạc thần ấy tự cảm biết được liền lên tiền đình, để hiến nhạc kịch. Nhơn đó, nên chi người Tây vực bảo phường nhạc kịch là kiền đạt phược. Cũng vì bọn nhạc kịch kia họ có mị thuật làm ra cảnh cuộc tranh ảnh thành quách ấy, nhơn đó cũng gọi cái thành quách của rồng, sò thở hiện kia là càn thác bà thành.

Lời Tám Thập Dụ nói : Thế pháp không khoán, như bỉ quỷ thành: sự vật giữa đời rỗng trong tỷ như cái thành của quỷ tâm hương. Nghĩa là chỉ thấy có mà không thật.

Xá Lợi Phất ! cõi kia tại sao tên là Cực lạc ? vì chúng sanh ở cõi ấy đã chẳng có các điều thống khổ mà lại chỉ hưởng toàn những phước vui, nên bảo là nước cực lạc.

Ðoạn đây là nêu lên cái danh nghĩa của cõi Cực lạc mà giải thích bằng cách tổng quát.

Hai câu trước là nêu lên để gạn hỏi : từ kỳ quốc sắp xuống là giải thích.

Cả các loại ở chín cõi đều gọi là chúng sanh chỉ có Phật mới chẳng gọi chúng sanh, mà chúng sanh ở cõi Ta bà, ý thức của nó cứ mỗi niệm sanh diệt mãi, về chỗ chúng cảm chịu là y báo chánh báo đều là uế trược thì có những các điều khổ như : ngũ trược, tam khổ, bát khổ, đến vô lượng nghiệp mê hoặc vì bởi cõi đã uế, thân cũng uế trược nữa. Chúng sanh nước Cực lạc ý thức toàn chánh niệm, nên chỗ cảm chịu là cõi y, báo thân chánh báo, đều là thanh tịnh thì có những các điều vui như : ngũ thanh, tam lạc, bát lạc, đến vô lượng các điều vui của pháp tánh vì thế giới đã thanh thái, mà thân tâm cũng thanh tịnh nữa.

Sách yếu giải nói : Cực lạc là cõi phàm thánh đồng cư, chúng sanh được về ở đó, là do cái căn lành tu pháp trì danh niệm Phật nên hưởng phước đức cũng đồng với Phật A Di Ðà nghĩa là bốn cõi đều trọng thanh tịnh, đều trọn hưởng đủ phước vui.

Vả lại điều tối thắng của nước Cực Lạc phi ở ba cõi trên, mà chính ở tại cõi đồng cư, bởi vì các cõi đồng cư nơi thập phương đều nhường điều thù thắng của cõi đồng cư ở Cực lạc, thế thì, ngay nơi đồng cư mà trọn thấy luôn bốn cõi nốt, vì mang nghiệp vãng sanh đi tắt ngang ra ngoài tam giới, đều về ở tại cõi đây cả. Vậy biết Phật Thích Ca ngài nói ra sự khổ vui đó, là để khiến cho người tự nhận bỏ cõi khổ đây mà hoan nghinh lấy cõi vui kia, chúng ta cần hiểu cái ý nghĩa ở chỗ