Kinh Hoa Thủ
(hay Nhiếp Chư Thiện Căn)
Đại Tạng Kinh Đại Chánh Tân Tu quyển 16, số 657
Đời Hậu Tần, nước Quy Tư
Pháp Sư Cưu Ma La Thập
Phụng chiếu dịch từ chữ Phạn sang
chữ Hán
Tỳ Kheo Thích Bảo Lạc
dịch ra chữ
Việt
Pháp Bảo ấn hành 1990
---o0o---
QUYỂN X
34 - Phẩm PHÁP MÔN thứ ba
mươi bốn
Phật bảo Kiên Ý rằng:
đã gọi là pháp thì không suy, không nghĩ, vô tướng, vô tác, không nhớ,
không tưởng, thanh tịnh không duyên, không văn tự, cũng không bằng lời,
không thể chỉ bày ra được.
Này Kiên Ý, các pháp không gặp các căn không thể dùng trí biết được,
cũng không thể dùng vô trí biết được. Không thể biết, cũng như không thể không biết.
Này Kiên Ý, pháp do các duyên hợp thành, Như Lai biết mà biết không phải bằng lời nói.
Như Lai đem pháp bất khả thuyết ấy nói về các pháp; có thuyết đạo tức là có pháp môn rồi.
Tại sao? Ðem chư hành (1) ấn chứng vào tất cả các pháp thành một vị. Này
Kiên Ý, các pháp vô cùng tận không bờ mé. Này Kiên Ý, các pháp hoàn toàn không tăng, không giảm
cho đến vô tận. Do nghĩa này nên Như Lai dùng ngôn ngữ, văn tự phân biệt giải rõ.
Kiên Ý, vành chữ 31 (A) sau mới tới các chữ khác theo thứ tự liên tục. Vì thế nói từ chữ
A biến ra những chữ khác. Từ các chữ hợp thành các câu, những câu kết hợp lại với nhau
thành ý nghĩa. Vì thế Như Lai nói chữ 31 bao hàm tất cả các pháp. Này Kiên Ý, pháp môn này
những gì là pháp? Kiên Ý, sở dĩ gọi pháp, vì bản lai của nó vô tác, không thể nói
bàn, không chỉ ra được. Vì vô tri nên biết mà không thể nói ra được, không nói ra được nên
không thể chỉ bày ra được. Chữ 31 (A) như thế có thể làm ra tất cả ngôn ngữ gọi là
pháp môn. Nếu thiện nam, tín nữ nhập pháp môn này là được trí huệ vô tận, và biện tài vô
ngại. Pháp môn vô tận ấy ở quá khứ vô cùng, trong cái vô cùng tận ấy không có tướng, không
thể nói ra được. Có những cái biết đều là vô tri, có những cái thấy đều không thể
thấy, có những sự phân biệt đều không phân biệt cho nên gọi là vô tận. Này Kiên Ý, đấy gọi
là môn. Môn là gì? Ấy là các pháp môn vậy. Những gì là pháp Phật không đạt được? Hơn
thế nữa, môn này quán xét các pháp tới chỗ không còn suy lường nữa. Tại sao thế? Vì
tất cả ngôn ngữ đều chẳng phải ngôn ngữ. Mọi việc nói bàn đều không cùng tận. Mọi lời
nói đều NHƯmà chẳng lìa NHƯ. Mọi hiểu biết đều chẳng có thể biết. Này Kiên
Ý, đó là câu Kim Cang (2) vậy. Tại sao gọi là câu kim cang? Như pháp vô tác thì không thể hoại
diệt được. Vì không hoại diệt nên gọi là câu kim cang. Các pháp không nghiệp, vì không
nghiệp nên không có báo. Vì thế Như Lai nói tất cả pháp không nghiệp, không báo như thế gọi
là pháp ấn. Như Lai nói nghiệp, quả báo đều là ấn cả. Ấn thì không thể hủy diệt được.
Này Kiên Ý, nếu thiện nam, tín nữ nào muốn biết nghiệp báo thì vào môn này. Kiên Ý, tất
cả các pháp không đến, không đi là nhập pháp môn. Nhân môn này ta vì chúng sanh nói
có sanh tử khác nhau. Kiên Ý, nếu thiện nam, tín nữ muốn hiểu sanh tử của chúng
sanh thì dùng ấn này mà vào, gọi là pháp ấn, ấn vô văn tự, ấn vô chướng ngại. Này Kiên Ý,
Như Lai có nói bàn cũng đều từ ấn ấy. Tất cả những gì có thân đều là thân Như Lai. Tại
sao? Vì tánh của các thân ấy không chống trái nhau. Phật dùng ấn này nói về thân tướng
chúng sanh, gọi là thân ấn; cũng dùng ấn này để chỉ rõ tất cả thân tướng. Tại sao? Này Kiên
Ý, vì các pháp vô môn nên không thể nhập. Vì không nhập nên cũng không thể xuất. Các
pháp không xuất nên cũng không nhập. Vì thế Như Lai, nếu có thuyết đều không lìa
cái vô ngại ấy mà thuyết. Dùng cái bên ngoài vô ngại mà nói các pháp, cũng như do cái bên
ngoài này biết được chúng sanh để tùy nghi mà thuyết pháp. Này Kiên Ý, cái bên ngoài vô
ngại ấy là cái không có ngằn mé. Không ngằn mé là tánh của tất cả chúng sanh, gọi là
cửa ngoài biên.
Vào cửa ngoài biên có thể mở được nghìn ức pháp tạng(3) . Pháp
tạng này cũng chẳng phải chỗ chứa giữ. Kiên Ý, Như Lai ở trong các pháp tạng mà nói pháp nên
gọi là ngoài biên. Lại có các sắc tạng, thọ, tưởng, hành, thức tạng nữa. Tạng đây
chẳng phải chỗ chứa giữ, cũng không phải tạng tự tại mà đó là các chỗ chứa lấy chữ 31 (A)
làm lối vào. Lúc bấy giờ Kiên Ý bạch Phật rằng, bạch đức Thế Tôn, cửa này thật là sâu
thẳm! Phật bảo: này Kiên Ý! Ta không nghĩ sâu hoặc cạn. Bạch Thế Tôn: Phật có thuyết
pháp chăng? Này Kiên Ý, không như phàm phu tham chấp có thuyết mà tùy kẻ trí giải bày,
không nói ra. Tại sao? Vì không thể thuyết cái tướng các pháp được, chỉ có người trí
biết rõ thôi. Nếu người phàm phu có biết thì chấp vào văn tự, nên Phật nói văn tự, ngôn
ngữ chẳng phải là ngôn ngữ. Phật lại bảo Kiên Ý rằng: tất cả các pháp tịnh như ánh sáng
mặt trời, tùy nơi chiếu soi mà vào tận những nơi không biên giới. Này Kiên Ý, tất cả các
pháp đều có thể chiếu sáng, có thể soi tỏ trí huệ vậy. Kiên Ý, tất cả các pháp không bị
chướng ngại, như hư không. Kiên Ý, tất cả các pháp không bị chướng ngại, như hư không.
Kiên Ý, theo kiến chấp hai pháp nên Như Lai dùng mắt vô ngại để quán xét. Kiên Ý, ấy là
pháp nhãn vậy.
Phật dùng pháp nhãn này mà thấy tất cả các pháp không còn có tướng
chướng ngại. Này Kiên Ý, đó gọi là các pháp không chướng ngại môn. Nếu có thiện nam, tín
nữ nào muốn vào cửa này thì những lời nói đều có lợi ích, không bị chướng ngại, đều
làm cho rõ nghĩa thú, nói lên được nghĩa sâu không còn tham chấp. Lại này Kiên Ý, các
pháp không dơ, không nhiễm, không lìa. Kiên Ý, pháp không có chỗ nương tựa nên không
thể nhận. Kiên Ý, pháp vô cùng tận không có gốc ngọn. Này Kiên Ý, có nói ra bằng văn tự
hay ngôn ngữ thì nên biết rằng không có văn tự, cũng như không có ngôn ngữ. Kiên Ý,
làm sao vào cửa văn tự ấy? Chỉ nói pháp không chướng ngại là vào rồi. Kiên Ý, vào như
thế là chẳng vào, là nhập được pháp tánh. Kiên Ý, Như Lai nói các môn tam muội là thế nào?
Này Kiên Ý, có một tướng tam muội và các tướng tam muội. Một tướng tam muội là có vị
Bồ Tát nghe ở một thế giới nào có Phật đang thuyết pháp, Bồ Tát đem hình vị Phật ấy
để phía trước, hoặc ngồi đạo tràng chứng vô thượng Bồ Ðề, hoặc chuyển pháp luân, hoặc
cùng đại chúng bao quanh mà thuyết pháp. Dùng hình Phật như thế giữ cho tâm không
loạn niệm để nhiếp phục các căn, nhất tâm niệm Phật không rời; cũng nghĩ tới tướng
thế giới của Phật mà vị Bồ Tát ấy đối với hình Như Lai, cũng như hình của thế giới ấy
đều hiểu là không tướng. Thường thực hành pháp như thế, quán xét như thế chẳng rời.
Tượng Phật lúc đó ở ngay trước Bồ Tát mà thuyết pháp. Lúc bấy giờ Bồ Tát khởi niệm cung
kính muốn nghe pháp, tùy theo sự tin hiểu sân cạn, lại càng thêm tôn sùng kính
ngưỡng Như Lai hơn.
Bồ Tát ở nơi tam muội ấy nghe Phật thuyết các pháp đều là tướng tan
hoại. Nghe xong liền thọ trì, Bồ Tát từ tam muội đứng dậy, vì bốn chúng mà diễn nói pháp
ấy. Này Kiên Ý, ấy gọi là nhập một tướng tam muội vậy. Lại này Kiên Ý, Bồ Tát trụ trong
tam muội ấy có thể tiêu hủy hình Phật kia, cũng như tự làm hoại luôn chính
mình. Dùng tướng hoại diệt ấy hủy luôn các pháp. Vì hủy các pháp nên nhập vào một tướng tam muội.
Từ tướng tam muội đứng dậy có thể vì bốn chúng mà thuyết rõ pháp ấy. Kiên Ý, ấy là
phương tiện vào một tướng tam muội. Lại nữa Kiên Ý, Bồ Tát nhờ Phật tượng mà nghĩ thế
này: tượng đây từ đâu đến? Ta đem tượng đi đâu? Liền biết tượng Phật không
từ đâu đến, cũng không thể đem đi đâu cả. Lúc đó Bồ Tát nghĩ rằng: tất cả các pháp cũng đều như
thế: không từ đâu đến, cũng không đi đâu. Bồ Tát thực hành và suy nghĩ như thế chẳng bao
lâu chứng được pháp nhẫn vô ngại. Khi được pháp nhẫn rồi nghĩ tới sở tri của chư Phật,
tới các pháp nhiệm mầu đều hiện ra ở trước. Dùng pháp nhiệm mầu ấy được biện tài vô
ngại, nên tuy giảng pháp mà chẳng thấy pháp. Này Kiên Ý, trong đời quá khứ Như Lai có
trí tuệ vô ngại, cũng như trong các thân tướng, trí huệ ấy không chướng ngại. Cũng
trong quá khứ
Như Lai không tạo các mối buộc, cũng như biết rõ nên chẳng duyên theo
niệm nhớ tưởng. Kiên Ý, Bồ Tát cũng như thế, trụ trong tam muội, tuy thuyết pháp mà
không thấy có pháp để thuyết. Bồ Tát trụ trong tam muội ấy chuyên tâm tu tập, tùy theo nhân
duyên được nghe tới vị Phật thứ hai đem hình để ở trước, hoặc ngồi đạo tràng mà
chứng vô thượng Bồ Ðề hay chuyển pháp luân, hoặc giữa đại chúng vây chung quanh để thuyết
pháp. Bồ Tát cũng thọ trị Phật pháp lần thứ hai mà vẫn không bỏ tượng Phật gốc; cũng
như thấy Phật mà Bồ Tát đủ duyên với đức Phật thứ hai, đem hình để ở trước để nghe
thuyết pháp. Kiên Ý, ấy cũng gọi là nhập một tướng tam muội. Lại nữa Kiên Ý, Bồ Tát dùng
hình Phật để tu tập nên được tự do muốn thấy chư Phật đều có thể thấy hiện ra ở trước.
Kiên Ý, cũng như tâm tỳ kheo được tự tại quán xét mọi sắc tướng màu xanh hiểu là cả thế
giới đều một tướng màu xanh. Người kia chỉ nghĩ đến một màu xanh duy nhất, xét các
pháp trong ngoài đều là một màu xanh. Vì trong cái duyên ấy được lực tự do tự tại
vậy. Kiên Ý, Bồ Tát cũng như thế, tùy chỗ nghe danh chư Phật ở thế giới nào liền đem
hình Phật và thế giới ấy để hiện ra ở trước. Bồ Tát khéo tu tập nghĩ tưởng tới Phật, quán
các thế giới toàn là Phật. Nhờ lực khéo quan sát như thế mà hiểu rõ được các duyên đều là
một duyên, là Phật duyên trong hiện tại. Như thế gọi là được một tướng tam muội.Kiến Ý bạch Phật rằng,
bạch Thế Tôn: dùng phương tiện gì được tam muội ấy?
Phật bảo Kiên Ý: đối với
duyên niệm Phật, thành khẩn niệm không loạn, không lìa duyên, ấy gọi là
tam muội môn. Kiên Ý, lấy một duyên ấy mà hiểu rõ các pháp, thấy mọi pháp
tướng đều như nhau, ấy là một tướng tam muội. Bồ Tát trụ trong tam muội
ấy, cũng như nhập pháp môn này mà cho rằng tất cả lời nói đều là lời của
đức Phật. Tất cả thân tướng đều là thân Như Lai, luôn luôn không xa lìa.
Lại này Kiên Ý, Bồ Tát nghe danh chư Phật hoặc hai, ba, bốn, năm hay mười,
hoặc 20, 30, 40, 50 hoặc trăm nghìn vạn hay hơn số đó, một lúc chuyên niệm
hết, cũng như các thế giới, số chúng đệ tử đều hiện ra ở trước với lòng
tôn kính. Cũng nghĩ tới Phật đầy đủ thân hình kỳ diệu tướng tốt hiện ra ở
trước với lòng cung kính tôn trọng; cũng như lấy mỗi một trong 32 tướng
đại nhân và các tướng hạnh không dối, tướng sư tử hùng mãnh, vô kiến đảnh
tướng, tướng quán tượng vương, tướng thủ đại quang. Dùng sự hiểu biết quán
xét vô số tướng như thế, cũng như lấy tướng Phật, tướng thế giới, đem sự
hiểu biết quán xét vô lượng các tướng thanh tịnh ấy; cũng lấy chúng đệ tử
của Phật đem sự hiểu biết quán xét vô lượng các tướng ấy. Lúc đó Bồ Tát
nghĩ rằng chư Phật có nhiều như thế từ đâu lại, ta phải đem đi đâu; liền
biết chư Phật và xét chính thân mình không từ đâu đến, cũng không đi về
đâu. Quán xét như thế là biết tin hiểu như vậy. Lúc đó Bồ Tát nghĩ thế
này: trong các việc đó không một pháp nào cố định nên gọi là Như Lai. Lúc
quán sát như thế biết tất cả pháp đều không, không chủ tể một tướng hay
không tướng. Dùng cửa vô tướng này vào tất cả mọi pháp. Hiểu rõ như thế là
thông suốt tất cả các pháp chỉ có một tướng. Này Kiên Ý, Bồ Tát chuyên
niệm Phật duyên vào một chỗ, ấy gọi là các tướng tam muội môn. Kiên Ý, nếu
Bồ Tát nhập tam muội này thông suốt các pháp đều một tướng vô tướng, ấy
gọi là các tướng tam muội. Bồ Tát trụ trong tam muội ấy chỗ thấy, biết
không phải là Như Lai; cũng như chẳng thấy, chẳng biết gì Như Lai cả. Chỗ
thấy, chỗ biết không phải là pháp, cũng không thấy được pháp. Có sở tri
kiến là đệ tử của Phật mà chẳng thấy, chẳng biết được chúng đệ tử Phật. .
Chỗ thấy, chỗ biết ấy không phải thuyết pháp; cũng như chẳng thấy, chẳng
thuyết pháp là gì. Có chỗ tri kiến thì không phải là duyên, cũng chẳng
thấy duyên. Chỗ tri kiến không phải là biện, cũng chẳng thấy biện. Những
cái ‘bị thấy’ thì chẳng phải là cõi Phật, cũng chẳng thấy được cõi Phật.
Những cái bị trông thấy không phải thế giới, cũng chẳng thấy được thế
giới. Những cái bị trông thấy không phải chúng hội, cũng chẳng thấy được
chúng hội. Không một pháp nào chẳng thuyết mà không bị thuyết. Không pháp
nào chẳng hiện, cũng không thấy chỗ hiện. Hiểu rõ như thế cũng như không
hiểu; phân biệt rõ cũng như không phân biệt. Không pháp nào chẳng hoại,
cũng như không bị hoại. Không pháp nào chẳng xuất, cũng như không bị xuất
hiện. Không pháp nào chẳng soi sáng, cũng như không bị soi sáng. Này Kiên
Ý, đó là cửa tam muội của chư Bồ Tát. Người nào vào cửa này trong các pháp
được trí vô ngại. Quán sát như thế là vô ngại nhãn, trong đó không tham
chấp gọi là pháp nhãn. Kiên Ý, Bồ Tát dùng tam muội ấy nên biện tài vô
ngại.
Lúc đó Kiên Ý Bồ Tát
bạch Phật, bạch đức Thế Tôn: có bao nhiêu vị Bồ Tát đời sau đạt được tam
muội này để được biện tài vô lượng vô biên? Ðời sau Bồ Tát đạt được tam
muội có thể được biện tài vô ngại những gì? Kiên Ý, nếu Bồ Tát đời sau ở
trong chúng tỳ kheo được nghe tam muội ấy thì nên biết rằng các vị đã đạt
được tam muội rồi, nên được biện tài vô ngại. Nếu người nào thường tu tập
tam muội được đắc thành môn tam muội này, cũng như được biện tài vô ngại.
Kiên Ý, cửa này có thể mở để chứa tám trăm pháp, như trong hiện tại ở cõi
Phật A Súc chư Bồ Tát thường dùng cửa này. Kiên Ý, trong một cửa thu
nhiếp tất cả các pháp môn của tam muội môn, gọi là trùng cú môn (4) .
Vì thế, Kiên Ý, người nào theo như pháp muốn nhập tam muội môn, trùng cú
môn nên thân cận hỏi các bậc thiện tri thức, các thực hành thế nào? Quán
sát ra sao? Tu tập thế nào? Nên theo chỗ chỉ dạy đúng pháp mà tu hành.
Kiên Ý, nếu có đủ bốn pháp biết đó là bậc thiện tri thức. Những gì là bốn?
1)
Khiến
cho người khác vào các thiện pháp
2)
Che
dấu tất cả các pháp bất thiện
3)
Làm
cho người trụ trong chánh pháp
4)
Thường
tùy thuận giáo hóa chúng sanh.
Người nào
đủ bốn pháp như thế là bậc thiện tri thức vậy.
Lúc bấy
giờ đức Thế Tôn muốn làm cho rõ nghĩa trên nên nói bài kệ rằng:
Nên gần thiện tri thức
hay che các việc ác
ưa nói điều Phật khen
người ấy nên thân cận.
Tùy Phật đạo giáo hóa
sanh pháp thiện cho người
an trụ trong chỗ nghe
được tăng thêm trí huệ.
Pháp gần cần nên gần
pháp xa phải nên lìa
Các pháp ác lánh xa
tu điểm Phật ngợi ca.
Nếu muốn được biện tài
và đầy đủ trí huệ
nên sớm tu thiền định.
Thường theo thiện tri thức
như chỗ dạy tu hành
đúng pháp không tin thần.
Tự hiểu được pháp lành
cũng nên vì người thuyết
thâm tâm hành thiện pháp
Xa lìa lời nịnh hót
thường gần thiện tri thức
tu hành theo đúng pháp
Gần được thiện tri thức
phải xa lìa kẻ ác.
Ða văn mới có được
tam muội mới chứng nên.
Lại này Kiên Ý, nếu có
được bốn pháp thì biết là người thiện tri thức. Những gì là bốn?
1)
Khéo
biết dạy dỗ
2)
Khéo
tu tập đạo
3)
Biết
chỉ giáo điều sai lầm
4)
Biết
sửa đường sai quấy
Này Kiên Ý, có được
bốn pháp ấy nên biết đó là bậc thiện tri thức vậy.
Lúc đó đức Thế Tôn bèn
nói bài kệ rằng:
Biết dạy dỗ tu đạo
Biết lỗi lầm sai trái
Biết rõ được như thế
trụ trong pháp vô ngại.
Này Kiên Ý, lại cũng
có bốn pháp nên biết là người thiện tri thức. Những gì là bốn? Biết đất,
biết người, biết nói, biết làm. Thế nào là biết đất? Theo người mà biết
đất. Thế nào là biết người? Theo chỗ thực hành mà biết người trong đất đa
dục, đa sân, đa si, hay trong đất định dục, định sân, định si. Người thì ở
đất định dục, định sân, định si, kẻ thì trụ trong đất định dục sân, định
dục sân si, người kia ở trong đất dục, sân, si. Nếu chúng sanh ở trong ba
địa bất thiện ấy ta đều có thể biết được. Ðã biết nên theo chỗ trụ địa ấy
mà thích hợp giáo hóa, tùy theo các dục lạc của Bồ Tát đều biết hết. Này
Kiên Ý, nếu người nào thành tựu được bốn pháp trên, nên biết đó là bậc
thiện tri thức. Này Kiên Ý, lại có bốn pháp nên biết được tướng người
thiện tri thức. Những gì là bốn?
1)
Khéo
giữ gìn lời nói
2)
Làm
cho người trụ trong pháp nhiệm mầu
3)
Thường
tùy thời giáo hóa
4)
Tùy
lúc nghỉ ngơi
Lúc đó đức Thế Tôn
liền nói bài kệ rằng:
Biết tùy người
thực hành
các địa sai
biệt hẳn.
Biết tùy người
dạy bảo
nên chúng
thành tựu cả
Thuyết pháp
điều phục là
khiến trụ pháp
nhiệm mầu.
Tùy thời quở
trách đa
cũng tùy thời
nghỉ ngơi.
Tâm lành nói
ra lời
không nhận
việc phi thời
Người trí như
thế đó
tùy nên theo
hoặc bỏ
Này Kiên Ý, lại có bốn
pháp nên biết tướng người thiện tri thức, thì có thể làm cho người khác tu
pháp tam muội. Những gì là bốn?
1) Làm
cho chúng đệ tử xuất gia thực hành hạnh xa lìa
2) Khiến
cho người nhập vào quán pháp mầu nhiệm
3) Làm
cho an trụ trong thiền định, trong mọi duyên mà không bị ngăn ngại
4) Xa lìa
các tướng.
Này Kiên Ý, có bốn
pháp ấy nên biết được là bậc thiện tri thức. Phật nói bài kệ:
Như người khen
xuất gia
và ở chỗ vắng
xa
Khiến đệ tử chiến thắng
ấy thiện tri
thức đa
khiến trụ
nghĩa đệ nhứt(5)
ở trong vi
diệu pháp
trụ thiền định
vô tướng
chính danh
thiện tri thức.
Lại nữa này Kiên Ý,
nếu Bồ Tát thành tựu được bốn pháp thì có thể tu tập tam muội. Những gì là
bốn?
1)
Xa lìa
tự tâm
2)
Thuận
theo ý thầy
3)
Lìa bỏ các duyên (mối buộc)
4)
Tu
pháp tam muội thường chuyên cần tinh tấn, quyết định không lui sụt.
Muốn đạt được tam muội ấy
phải ưa ở nơi thanh tịnh, xa lánh những nơi ồn náo. Nếu Bồ Tát thành tựu
bốn pháp ấy có thể tu môn tam muội này.
Kiên Ý, Bồ Tát còn có
bốn pháp làm cho sớm đạt được tam muội. Những gì là bốn?
1)
Khéo
giữ hình ảnh Phật cho đến trong giấc mộng cũng thấy chư Phật.
2)
Khéo
giữ hình ảnh thuyết pháp cho đến trong giấc mộng cũng thấy được nghe pháp.
3)
Vì
chúng sanh nói pháp không biết mỏi mệt, được các pháp nhẫn sâu xa để biết
mọi pháp đều hoại diệt.
4)
Thực
hành định không nương tựa, tùy định để lìa tâm.
Kiên Ý, Bồ Tát có bốn pháp
chóng đạt được tam muội như thế. Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nói bài kệ rằng:
Người ấy chẳng
rời
hình tướng Thế
Tôn.
Thường ôm hình
Phật
chẳng rời
trước mặt.
Luôn được thấy
Phật
băm hai tướng
tốt.
Nghe Phật
thuyết pháp
giữ tướng thật
ấy
chắc chắn bền
xa
trong pháp
nhẫn hòa
nương nơi
thiền định
tâm ưa lìa xa
Chẳng diệt
pháp ấy
hoại liệt pháp
thảy.
Các pháp
chẳng pháp
người ấy
ưa thích
các tướng
quán sát
không
điểm phân biệt.
Tin hiểu
pháp thật
đều là
thân Phật
ngôn từ
chẳng chấp
không
theo lời người
Tự biết
tướng đây
do người
nói ra.
Tu nhẫn
nhục hòa
chính
danh kẻ trí.
Sớm đạt
tam muội
tri thức
gần gủi
tu pháp
Phật khen
giáo hóa
chúng sanh
trụ sâu
định pháp.
Kiên Ý Bồ
Tát
nếu đủ
bốn pháp
thì việc
tu hành
tam muội
chóng thành.
Những gì là bốn?
1) Khéo
biết tướng các duyên
2) Khéo
phân biệt các duyên
3) Biết
các duyên thường thay đổi
4) Khéo biết bổn hạnh(6)
Ðủ bốn pháp như thế chóng
thành tựu thông suốt được định.
Lúc bấy giờ đức thế Tôn
nói bài kệ rằng:
Bồ Tát đa văn
thêm trí tuệ
Tâm vị
tha nói ra tam muội
pháp lành
chư Phật được nghe thấy
nên vì
người truyền trao giảng dạy.
Do quán
thân Phật như tướng thật
là pháp
tu tam muội nghiêm mật
trong
thân tướng trang nghiêm của Phật
thâm tâm
niệm tưởng tướng sai biệt:
thân
tướng và băm hai tướng tốt
hình
tướng, sắc tướng, quang minh tướng
diện mạo,
lông mi, tướng bạch hào (7)
nhơn tôn
tướng ấy niệm nghĩ thường
hiển bày
các tướng tại mục tiền
Luôn luôn
quán sát tướng sai biệt
cũng như
mỗi phần của sắc thân
chẳng
phải một tướng là thân Phật
chú tâm
phân tích các Phật thân
Tâm vốn
vô hình bổn tánh thanh.
Liên tục
tùy duyên niệm đổi thay
thuận
duyên các tướng phát hiện ra.
Biết rõ
tâm tướng lại qua không dừng
là hiểu
pháp duyên sanh diệt luôn
Pháp phát
sanh do niệm phân biệt
nếu không
phân biệt là an lạc.
Khéo biết
tâm tánh tướng chuyển đổi
cũng biết
các duyên là huyễn thôi.
Biết pháp
thế gian như lửa đốt
rõ thế
rồi tâm không hoảng hốt.
Nghĩa các
pháp đều như thế cả
tức biết
các tướng Phật biến hóa
không cố
chấp tướng lạ hình Phật
Biết các
thế giới đều không thật.
Trong mọi
duyên không ôm tướng chấp
biết được
thân tâm luôn chuyển dời.
Pháp như
thế rõ ràng niệm quán
chóng
được tam muội hằng soi sáng
hiện thần
thông mỗi khi thuyết giảng
nói những
điều chánh đáng chẳng sai
làm chúng
sanh mở khai tâm thiện
đạt pháp
mầu vi diệu thậm thâm.
Này Kiên Ý, Bồ Tát có bốn
pháp nên thành tựu được tam muội, nên vì người khác mà giảng giải. Những
gì là bốn?
1)
Có
được tam muội rồi nên chuyên cần tinh tấn không dừng nghỉ, ngày đêm thường
đi kinh hành. Lúc muốn ngồi thiền trước hết phải nghĩ tới Phật đang ngồi
tòa đạo tràng ở trước mặt, đang bố thí pháp cho chúng sanh không tiếc.
2)
Ðối
với người thuyết pháp xem như thấy đức Thế Tôn
3)
Phân
tích tự thân không nương pháp, đem cái không nương ấy thuyết cho chúng
sanh hiểu rõ.
4)
Bồ Tát
thực hành như thế, nghĩ như thế, duyên như thế, ở yên nơi pháp tòa, bố thí
pháp rộng khắp nên được tam muội, hoặc có Bồ Tát từ pháp tòa đứng dậy liền
được tam muội.
Lại nữa này Kiên Ý, nếu Bồ
Tát thành tựu được bốn pháp, là đạt được tam muội. Những gì là bốn?
1)
Bồ Tát
vì người mà xuất gia tu hạnh viễn ly, lìa bỏ những nơi ồn náo.
2)
Chỉ
chứa đủ ba y, lìa tâm tham chấp. Ở chúng tại gia và chúng xuất gia không
tạo các mối buộc.
3)
Xa hẳn
những lỗi quấy phi pháp
4)
Ðược
pháp nhẫn sâu xa, ưa thích vắng lặng.
Kiên Ý, Bồ Tát thành tựu
bốn pháp ấy liền được tam muội.
Này Kiên Ý, nếu Bồ Tát tại
gia thành tựu bốn pháp cũng được tam muội vậy. Những gì là bốn?
1)
Bồ Tát
tại gia giữ gìn năm giới, mỗi ngày chỉ ăn một bửa
2)
Nương
nơi chùa tháp, học rộng nghe nhiều
3)
Thấu
triệt các luận thuyết, cũng như thân cận các bậc thiện tri thức
4)
Khéo
biết đem pháp tam muội ra giáo hóa.
Này Kiên Ý, Bồ Tát tại gia
nhờ thành tựu bốn pháp ấy nên đạt được tam muội.
Lại này Kiên Ý, nếu Bồ Tát
tại gia hay xuất gia thành tựu bốn pháp sau đây đạt được tam muội. Những
gì là bốn?
1)
Hoàn
toàn giữ giới thanh tịnh trong mọi sinh hoạt không còn nghi ngờ
2)
Nhờ
tam muội, không tham tiếc thân mạng, không nương pháp
3)
Tùy
chỗ nghe, đem tam muội ấy ra giáo hóa
4)
Ở cõi
người niệm tưởng đức Thế Tôn
Lúc tu niệm Phật tam muội
như thế lìa được tâm keo kiệt (8) .
Này Kiên Ý, nếu Bồ Tát tại
gia hay xuất gia có được bốn pháp trên đạt được tam muội.
Kiên Ý, nếu người phát tâm
Ðại Thừa muốn được tam muội nên tu bốn pháp lợi ích sau đây. Những gì là
bốn?
1)
Nên
quán thân bất sanh, bất tịnh
2)
Nên
quán thọ bất sanh, là khổ
3)
Nên
quán tâm bất sanh, vô thường
4)
Nên
quán pháp chẳng sanh, vô ngã.
Kiên Ý, Bồ Tát thành tựu
được bốn pháp ấy trợ lực cho tam muội này.
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn
muốn làm cho rõ nghĩa trên nên nói bài kệ rằng:
Bồ Tát nên tu
tập
chỗ Phật khen
niệm xứ
Nơi tỳ kheo
hành xử
hay được tam
muội này.
Cần phải phân
tích thân
cũng chẳng ham
nương tựa
Do tâm không
nương tựa
nên đạt được
tam muội.
Trong tâm pháp
với ‘thọ’
cũng không nơi
nương tựa.
Pháp khó nghĩ
bàn ấy
đạt được tam
muội này.
Cần tu tập tứ
thiền (9)
và bốn pháp
chánh cần.
Không nương
tựa pháp nào
nên được tam
muội này.
Với bốn như ý
túc
và bốn trí vô
ngại
là pháp phải
học hỏi
chớ sanh tâm
giải đãi.
An trụ trong
giới thảy
gần thiện tri
thức dạy.
Người nói tam
muội ấy
tưởng như thấy
Thế Tôn.
Ða văn là căn
bổn
từ trong tam
muội đến.
Tùy chư Phật
đã nói
tu như lời chỉ
giáo.
Ðấy là mắt
sáng tạo
pháp nhãn
không gì cao
không một
chướng ngại nào
để chỉ giáo
chúng sanh.
Căn bản từ các
kinh
đa văn pháp
phát sanh
Bồ Ðề từ đây
thành.
Thế nên tu học
thường
Phật hiện khắp
mười phương.
Bốn trí vô
ngại tưởng
phát ra từ nơi
đó.
Tu học cần
kiên cố
Bồ Tát được
như thế
đạt tam muội
Phật nói.
Người ấy lúc
nói pháp
biện bác không
cùng tận
nên đối với
các pháp
thấu rõ tướng
chân thật.
Như biển không
tăng giảm
nên không ai
đội nổi.
Nếu được tam
muội rồi
không chỉ dạy
cho người
cũng như lúc
nghe pháp
chẳng xét
người khác thuyết
trời, rồng,
quỉ, long vương
dạ xoa, khẩn
na la
chúng nhơn,
phi nhơn thảy
Quán xét Bồ
Tát nói
trụ trong tam
muội ấy.
Tâm chúng sanh
rõ thấu
biết điều
chúng ưa muốn
để tùy nghi
giảng bày.
Ta trong kinh
pháp này
nói đến chư
Phật thảy
Vì trụ trong
tam muội
nên biết rõ
danh tự
cũng như biết
chư Phật
diễn nói đủ
các pháp
tùy theo tâm
nghĩ suy
tức thì đều
liễu tri
Phật Thế Tôn
các vị
chúng đệ tử tu
trì
trụ trong tam
muội này
thảy đều nghe
biết cả.
Rõ biết Phật,
thế giới
việc trang
nghiêm như thế
cũng biết tuổi
thọ mạng
nhờ rõ được
tam muội.
Biết các kiếp,
số tuổi
cùng nhựt
nguyệt, thời tiết
mười phương
trong trời đất
chư Phật lưỡng
túc tôn
thông suốt
không gì hơn
Cũng biết các
cõi Phật
và cả chư Thế
Tôn
đều có tên sai
biệt
tam muội khéo
tu tập
nên thảy đều
thấy biết.
Cũng biết chư
Thế Tôn
cùng các chúng
đệ tử.
Vì họ nói pháp
ngữ
tất cả đều
thông đạt.
Các pháp diệu
thâm mật
chỗ thực hành
chư Phật.
Tam muội khéo
tu tập
thảy đều thấy
biết hết
Ở trong đời vị
lai
vô lượng chư
Thế Tôn
tên gọi và
giòng dõi
tất cả đều
biết rõ
cũng như biết
tuổi thọ
cùng chúng đệ
tử cả
kinh pháp đã
nói ra
đều có thể
biết suốt.
Biết chư Thế
Tôn Phật
mỗi vị tịnh
trang nghiêm
chư Phật diệt
độ xong
giáo pháp trụ
bao lâu
định trong tam
muội sâu
Việc này đều
rõ thấu
đa văn muốn
mong cầu
nên tu tam
muội nầy.
Nhân tập tam
muội ấy
các nghĩa thú
hiểu thấu
Nên biết tam
muội này
nhập Phật trí
ban đầu
làm lợi lạc
muôn loài.
Trí tuệ Phật
sáng soi
nhờ từ đó phát
sanh
vô lượng các
phước lành.
Nếu người phát
tâm thành
cầu Bồ Ðề đạo
Thánh
cúng dường
Phật quá khứ
cùng các chúng
đệ tử.
Cúng mỗi vị
Phật đủ
và các hàng đệ
tử.
cõi ba nghìn
bỏ cả
châu báu ở đại
thiên
dùng của báu
như trên
đầy đủ một
kiếp tròn
đều cúng dường
không tiếc.
Chư Phật và
Thánh triết
trong đời vị
lai tiếp
và cả chư Thế
Tôn
cũng tận tâm
cúng dường
cùng đệ tử các
Ngài
Kiên Ý nên
biết rằng
người ấy có
phước duyên
cầu Phật vô
thượng pháp
được trí bất
khả thuyết.
Người cầu Phật
chí quyết
tu tập tam
muội pháp.
Từ tam muội ấy
đạt
được đa văn
cao tột.
Ða văn đạt
hoàn tất
thuyết rộng
cho chúng nhờ
Phước đây hơn
phước kia
khó có thể suy
lường
Phước báu khó
hạn lượng
làm trí huệ
tăng trưởng.
Tu pháp tam
muội tướng
không nương
Phật cúng dường.
Nếu đem hoa,
dầu, hương
đồ ăn mặc,
thuốc thang
Chư Phật
nguyện cúng dường
ấy không tướng
chân thật.
Như Lai ngồi
đạo tràng
chứng được vi
diệu pháp.
Người nào ham
tu học
ấy chân thật
cúng Phật.
Như người cầu
đạo giác
muốn thấy được
chư Phật
cần tu pháp
nghiêm mật
sớm đạt tam
muội này.
Nếu nghe tam
muội đây
sanh tâm hoan
hỷ ngay
chúng sanh kia
chính là
từng thấy Phật
hằng sa...
Lại này Kiên Ý, nếu
người thiện nam, tín nữ cầu Phật đạo, cúng dường trang trí chùa tháp Phật
đầy đủ được bốn đại nguyện thanh tịnh. Những gì là bốn?
1)
Ðược
sắc thân thanh tịnh số một
2)
Sanh
ra đời thường được lìa nơi chướng nạn
3)
Bền
lòng giữ gìn thiện pháp
4)
Thường
thấy chư Phật có lòng tin vững chắc, nên chóng đạt được vô thượng
Bồ Ðề, truyền bá giáo pháp
nhiệm mầu sâu rộng. Ðó là bốn pháp.
Lúc bấy giờ đức Thế
Tôn muốn làm cho rõ nghĩa trên nên nói bài kệ rằng:
Kẻ trí thường
cúng dường
chư Phật, tạo
chùa tháp
chư thánh hiền
xưng tán
được bốn pháp vô hạn
thường sanh
nơi không nạn
hay thấy được
chánh chân
chư Phật
thường thấy luôn.
Thấy Phật tâm
tịnh thanh
được tin sâu
vững bền
bất động như
Tu Di
quyết định
được Phật trí
chóng thành vô
thượng đạo.
35 - Phẩm PHÓ CHÚC thứ ba
mươi lăm
Lại này Kiên Ý, nếu có
thiện nam, tín nữ nào phát tâm Ðại thừa hoặc lúc Phật còn tại thế hay đã
diệt độ mà đem các thứ hương hoa, chuỗi anh lạc cúng dường Phật. Do nhân
duyên đó nên đầy đủ tám phước báu
1)
Ðược
sắc thân đầy đủ
2)
Tài
vật đầy đủ
3)
Quyến
thuộc đầy đủ
4)
Trì
giới đầy đủ
5)
Thiền
định đầy đủ
6)
Ða văn
đầy đủ
7)
Trí
huệ đầy đủ
8)
Chỗ
mong cầu đầy đủ. Ðó là tám loại phước đức đầy đủ
Lúc bấy giờ đức Thế
Tôn muốn làm cho rõ nghĩa trên nên nói bài kệ rằng:
Nếu người cầu
Phật đạo
cúng dường
chùa tháp miếu
đời đời được
phước báu.
Ông nên lắng
nghe kỹ
thường đầy đủ
sắc thân
người ấy thanh
tịnh tâm.
Phước đức đại
giàu sang
được gặp thiện
quyến thuộc
cùng tu trong
giới luật
nên thiền định
thâm nhập
được trí huệ
đa văn
sâu rộng như
đại dương.
Nếu mong cầu
của cải
đều được thành
tựu cả
được tôn quí
trong đời
ruộng tốt vào
bậc nhất.
nhờ căn lành
đời trước
được băm hai
tướng tốt
phước tướng
chợt hiện ra
trang nghiêm
cả thân thể
cứ mỗi tướng
như thế
xinh đẹp tốt
trang nghiêm
Nơi mỗi các
tướng kia
có tám mươi
tia sáng.
Trong mỗi một
tia ấy
chiếu soi thật
rõ ràng
tám mươi vẽ
đẹp thanh
những tia sáng
kết thành
do nhân duyên
thiện nghiệp
và do nguyện
phát sanh.
Tùy theo
nguyện khác biệt
mà được tướng
chân thật
Nơi mỗi lòng
bàn chân
có tướng tốt
nghiêm trang
Nhờ thần lực,
phước đức
Ông rất mực
lóng nghe.
Trong lòng mỗi
ngón chân
tướng tốt
chiếu hiện ra
có ánh sáng
chói lòa
ẩn tàng ở
trong đó
ánh sáng chiếu
rọi xa
như gặp được
ngọc ngà
sáng ấy như
trăng tỏa
chóp Tu Di lơ
lững.
Tên Kiên tập
có tướng
tám mươi ức
tia sáng
Mỗi tia có tên
khác
cũng có sức
sáng riêng.
Ta từ một tia
viền
hiện ra nghìn
loại sắc
vây quanh cõi
đại thiên
xuống trần làm
Phật sự.
Nếu ta phóng
quang đủ
chỗ thiện
nghiệp sáng tỏ
thế giới có
lớn nhỏ
dứt sạch hết
phiền não.
Ánh sáng ấy
hiện vô số Phật
đi khắp mười
phương các cõi nước
làm Phật sự để
được độ sanh
lực thần thông
biến thành như thế
Ta có tam muội
tỏa khắp nơi
dùng tam muội
thấy hết thế giới.
Tam muội này
tên Tu Di Tướng
tia sáng thiện
pháp thường hiện ra
Thủ Lăng
Nghiêm tên là tam muội
hơn hết thảy
môn này cao vọi
nhờ tịnh tâm
nên được như vậy
thấu rõ mười
phương không chướng ngại.
Có người thấy
Phật hiện diệt độ
hoặc Phật hiện
đang nhập vào thai
có người thấy
thế không khiếp hãi
Ngài dạo đi tự
tại tâm an
hoặc thấy Phật
ngồi tòa đạo tràng
mà cho rằng ta
đang thành Phật
hoặc thấy ta
hiện chuyển pháp luân
hay thấy ta tu
Bồ Tát hạnh
Các vị quán
chiếu trong tam muội
Phật trụ ở
trong được tự tại.
Có kẻ biết ta
thọ một kiếp
hoặc nửa kiếp
có người rõ biết
Kẻ thấy ta thọ
một tiểu kiếp
hoặc hai, ba,
bốn hay hơn thế.
Kẻ thấy ta thọ
một ức năm
Người lại thấy
hơn, kẻ ít hơn
còn cõi Diêm
Phù Ðề chúng nhơn
biết ta thọ
mạng tám mươi năm
hoặc thấy ta
thọ một ngày đêm
hay kẻ biết ta
sống lâu thêm
và chúng cõi
tam thiên đại thiên
rằng: ta thọ
ngày đêm cõi trời
Ta biết họ tâm
vui phơi phới.
Tùy chúng ưa
thích lợi pháp ban
tùy nơi cần
thị hiện rõ ràng.
Mỗi người tự
cho rằng ta thuyết
tâm hoan hỷ
tin chắc hiểu liền
Thần thông lực
vô biên Phật hiện
làm việc đó
hiển nhiên ta sử
cả bọn phàm
phu đều cuồng nộ
việc Như Lai
trong số đã làm
Các ngươi giả
thấy đâu dám biết.
Nếu Bồ Tát rõ
thiệt ta hành
là người thay
thế chuyển pháp luân.
Những người
nói pháp đều ưa thích
mong sao biết
hết chỗ ta hành.
Nếu không biết
thì trí khó thành.
Nói như thế
mong manh vô cớ
nghe pháp rồi
rất dễ thối tâm
Ta nhân đó nói
‘vô sở thuyết’
Người nào hay
biết trí rộng khắp
là kẻ tâm
không hề thối thác.
Bình đẳng
trong hết thảy các pháp
là người tùy
thuận chỗ ta làm.
Kiên Ý nên
biết các kinh văn
đời vị lai
không ai thọ trì
Duy tám vị Bồ
Tát hội này
Nay chắp tay
đang đứng trước ta.
Kiên Ý nên
biết họ chính là
người biết rõ
pháp ta sâu rộng
đứng hàng đầu
pháp hội trong đây
Soi đuốc tuệ
mở bày Phật pháp
dạy chúng sanh
Bồ Tát thiện tâm.
Vì chư Phật
một lòng xưng tán
như nay họ
đang đứng trước ta.
Phật quá khứ
chính là các vị
bậc Thế Tôn số
lượng hà sa.
Những người
hiện hữu ở trước ta
cả năm trăm từ
tòa đứng dậy
chấp tay đồng
cúi lạy bạch thưa
nguyện nghe
Phật hộ pháp kế thừa.
Kiên Ý chính
là người trong số
tám mươi vị Bồ
Tát thuở xưa
cùng lo ủng hộ
Phật pháp nữa.
Thế Tôn, con
trong đời vị lai
thọ trì Phật
pháp hành đúng thuyết
nên trong đời
trược loạn xấu ác
rộng lưu
truyền chánh pháp khắp nơi
Thế Tôn Ngài
tìm tới thọ ký
rồi bay lên
không bảy dặm xa
tám mươi ức
người cả thọ lạc
mỗi người tự
biết được thọ ký.
Bấy giờ Phật
bảo A Nan kỹ:
ông trong đời
ác chí về sau
Có thọ trì
được các kinh không?
Ðáp: thưa Thế
Tôn, con bất kham
Phật biết nên
hỏi Ca Diếp thêm:
sau ta diệt độ
ông có thể
thọ trì kinh
pháp được như thế?
Ðáp: thưa Thế
Tôn, con bất kham.
Ta hay nắm giữ
ba nghìn cõi
biển cả, núi
rừng khắp đó đây.
ngoài ra hết
thảy đều trong tay
Ðời ác sau
không ai hộ pháp
Tỳ kheo nay
phần nhiều tệ ác
không theo
đúng giáo pháp Thế Tôn
huống gì sau
khi ta diệt độ
kinh điển thâm
huyền ai tín thọ?
Chắc chắn lời
ta dự thế này:
các ông quờ
quạng không trí huệ
làm sao có thể
dạy chúng tôi?
Người lợi căn
tức thời luận tỏ
Thế Tôn, những
người tệ ác đó
thích tranh
luận ngoại đạo, sách đời
xa lìa thiền
định sâu mầu nhiệm
mà tham việc
đắm nhiễm thế gian
lòng dục nhiều
lại càng không đủ
tham thức ăn
ngon, cầu lợi dưỡng.
Ta không sao
cứu bọn ác nổi
thấy như thế
ta thêm bối rối.
Lúc một mình
ta chỗ thanh vắng
các trời
Thích, Phạm đến hỏi rằng:
nay Thế Tôn
nói pháp phải chăng?
Khiến chúng
sanh vào thẳng Thánh đạo
có tỳ kheo kia
được vô lậu
hay có thần thông đến giác ngạn (bờ giác ngộ)
Ta nghe như
thế tâm hỷ hoan
trả lời trời
Thích rằng, quái dị
ác thế đời
sau, Thích, Phạm Thiên
đến chỗ ta kêu
khóc rống lên:
Ðại Ðức nên
biết pháp sắp diệt.
Ta nghe thế
lòng sầu não nuột
không thể nào
nói tuốt tội duyên
cũng không thể
nào giữ được kinh
Cũng khó mà có
thể chứng minh.
Tỳ kheo đời ác
hình khó nói
Lúc ấy thiên
thần dõi khóc kêu.
Bấy giờ Phật
bảo theo Ca Diếp:
ta biết trước
rằng ông không thể
thọ trì, hộ vệ
pháp Như Lai
Chúng đệ tử
Thanh Văn các Ngài
không thể thọ
trì kinh này được
Duy chỉ Bồ Tát
nhờ Phật lực
mới thọ trì
được pháp này thôi.
Ðời ác sau có
thể sanh nghi
Nay ta phải
trừ đi cho người.
Cớ sao kinh
này trước vốn không
chúng tỳ kheo
đồng lòng tự tạo
hoặc thấy kinh
đây nhiều vô lượng
đem đọc tụng
mà tâm run sợ
Vì kinh sâu
rộng, sanh tán loạn
ai hay đọc
tụng nghĩa rốt ráo?
Có người thấy
ông hỏi đạo ta
cũng nghe ta
vì ông nói qua.
Người ấy trong
đời xấu ác sau
nghe kinh này
chóng mau hoan hỷ
Phật nói pháp
hộ trì như thế
vô lượng chúng
phát tâm Bồ Ðề
Những chúng
sanh này đều nghĩ rằng
Ta trong đời
sau nghe pháp hẳn
phải cung kính
sánh bằng Thế Tôn
Một lòng cầu
Phât trí thậm thâm
cúng dường xá
lợi và chùa tháp
các loại trang
nghiêm tạo tượng hình.
Lúc bấy giờ A Nan từ
chỗ ngồi đứng dậy trịch áo hở vai bên mặt chắp tay quì gối sát đất bạch
Phật rằng: bạch Thế Tôn, nên gọi kinh này tên là gì? và phải thọ trì như
thế nào? Phật bảo A Nan: kinh này tên là Nhiếp Chư thiện căn, cũng gọi là
Y chỉ công đức kinh, cũng gọi là an ủi tâm chư vị Bồ Tát, cũng gọi là chỗ
thưa hỏi của Bồ Tát, cũng gọi là đoạn hết nghi ngờ cho chúng sanh kinh,
nên thọ trì đúng như thế.
Phật nói kinh xong Bồ
Tát Huệ Mạng, A Nan, Kiên Ý cùng chư thiên, long thần, càn thát bà, a tu
la, nhơn và phi nhơn...tất cả đại chúng đều lấy làm đại hoan hỷ tin nhận
lời Phật dạy.
Chú thích:
(1)
Chư
hành: các hành, có nghĩa là dời đổi từ chỗ này đến chỗ khác. Các pháp
hữu vi do nhân duyên mà sanh ra, dời đổi trong ba đời: quá khứ, hiện tại
và vị lai. Các pháp hữu vi có rất nhiều ở nơi tâm hoặc ở nơi cảnh, cũng
đều gọi chung là chư hành.
(2)
Kim
cang: cứng rắn như chất kim cang khó gì có thể làm nao núng được, lửa
cũng không làm chảy được. Có bộ kinh Kim ang là dụ cho nghĩa này.
(3)
Pháp
tạng: kho tàng giáo pháp bao hàm những pháp đức Phật đã thuyết
(4)
Trùng cú môn: câu trùng lặp như cửa nhiều lớp chồng khít lên nhau,
giống thể văn kệ tụng có nhiều câu trùng ý lặp đ