Kinh Hoa Thủ
(hay Nhiếp Chư Thiện Căn)
Đại Tạng Kinh Đại Chánh Tân Tu quyển 16, số 657
Đời Hậu Tần, nước Quy Tư
Pháp Sư Cưu Ma La Thập
Phụng chiếu dịch từ chữ Phạn sang
chữ Hán
Tỳ Kheo Thích Bảo Lạc
dịch ra chữ
Việt
Pháp Bảo ấn hành 1990
---o0o---
Quyển IX
30 - Phẩm bất thối
chuyển thứ ba mươi
Phật bảo Xá Lợi Phất, nay Như Lai phải
trừ nghi cho các vị, cũng như khiến người đọc tụng, diễn nói, thọ trì kinh
này trong tương lai đều dứt hết nghi ngờ.
Này Xá Lợi Phất, Như
Lai là bậc trí sâu thấy rộng, là kẻ thuyết đạo, không pháp nào chẳng thấy,
không pháp nào chẳng nghe, không pháp nào chẳng biết, không pháp nào chẳng
hiểu, nên thấu suốt rõ ba đời không còn ngăn ngại. Xá Lợi Phất, Như Lai là
bậc không ai sánh bằng, trong các pháp đều giải đúng, tự nhiên, tự tại
không cần thầy. Nay Như Lai muốn vang lên tiếng gầm sư tử giữa đại chúng,
để cho người ngu hành pháp tà đạo biết, chẳng cần nói rộng. Như có người
thiện nam thiện nữ phát tâm vô thượng Bồ Ðề, ở trong giáo pháp ta phải
nhất tâm thực hành. Tại sao? Phải nghĩ thế này: chư Phật đã tu tập pháp vô
thượng Bồ Ðề trong vô số kiếp. Trong các pháp ấy nếu ta sanh tâm giải đãi
thì chắc không thể tin; còn như đi ngược lại không thọ trì, thì không hiểu
biết. Này Xá Lợi Phất, nếu Bồ Tát hành bốn pháp sau là làm hủy hoại đạo vô
thượng của chư Phật. Những gì là bốn?
1) Xa
lánh bạn lành, tiếp xúc thân cận bọn ác tri thức, theo chỗ học mà phá pháp
Ðại Thừa .
2) Bồ Tát
có sở đắc, thấy được thân tâm mình, nghe kinh sâu mầu bèn sinh ra khiếp
sợ, nên đọa vào đại địa ngục.
3) Bồ Tát
học kinh luận phức tạp của ngoại đạo, giỏi việc tranh luận, được nhiều
người tôn kính; không điều phục được tâm, cũng không điều phục được pháp.
Vì không điều phục được nên không thực hành pháp Ðại Thừa.
4) Bồ Tát
phá hủy các giới cấm Phật chế không theo kịp nổi. Nghe những giới thanh
tịnh vi diệu tuyệt vời ấy tâm không hiểu thấu nên không tin; ngược lại,
không thọ trì.
Bồ Tát bị bốn pháp ấy
nên không thể tin thọ, còn làm phá hủy đạo Bồ Ðề. Lúc bấy giờ đức Thế Tôn
muốn cho rõ nghĩa trên nên nói bài kệ rằng:
Nếu gần ác tri
thức
làm theo chúng
thất đức
nên không ưa
Phật pháp
hủy diệt đạo
vô thượng.
Học kinh điển
ngoại đạo
ưa giỏi việc
tranh luận.
Nếu có kẻ phát
ngôn
đều là bọn phá
hoại.
Dù tự xưng
người trí
kỳ thật lại
ngu si.
Nhân duyên đó
là vì
không tin đạo
Bồ Ðề.
Như người tham
chấp ngã
theo chỗ hiểu
biết đã
nghe pháp
nhiệm mầu này
sanh tâm sợ
hãi ngay;
chẳng hiểu một
mảy may:
pháp thật
không, tịnh thảy.
Không hiểu Bồ
Ðề đạo
nên không niệm
tin tưởng.
Do vì phá giới
tướng
nên tạo nghiệp
tội chướng
không thể theo
học được,
những giới cấm
Phật lược.
Ác khẩu và
lưỡng thiệt
ưa nêu lỗi của
người.
Kẻ bất thiện
dẫy đầy
không ác nào
chẳng tạo;
vì thế nên
tránh xa.
Ðạo Bồ Ðề
thiết tha
thuận pháp ta
xưng tán
học tu chuyên
tinh tấn.
Như người muốn
thấy Phật
muốn hiểu pháp
như thật
nên giữ giới
cẩn mật
từ đó được trí
Phật.
Nếu người tịnh
giới luật
tâm Bồ Ðề cao
tột
do giữ giới
tịnh thanh
hay diệt ác
quán lành.
Nên người cầu
đạo giác
phải tịnh tu
giới luật.
Khi ấy trong
Phật pháp
không còn thấy
điểm nghi.
Lại nữa, Xá Lợi Phất,
Bồ Tát có bốn pháp để hộ trì Phật pháp. Những gì là bốn ?
1) Tự giữ
giới thanh tịnh, phát tâm an trú trong giới,
2) Rộng
nghe giáo pháp, không bàn tạp luận
3) Nghe
kinh pháp của Phật chuyên cần trì tụng
4) Thường
ưa ở một mình, thích hạnh thanh tịnh.
Xá Lợi Phất, nếu Bồ
Tát hoàn thành bốn pháp ấy có thể hộ trì Phật pháp. Lúc bấy giờ đức Thế
Tôn muốn làm cho rõ nghĩa trên nên nói bài kệ:
Bồ Tát chuyên
giữ giới
không lấy giới
tự cao
để cầu pháp
nhiệm mầu
quyết định
nghĩa thẩm sâu.
Pháp tịnh đệ
nhứt này
cầu vô thượng
Bồ Ðề.
Chỉ tu chánh
pháp Phật
luận ngoại đạo
chẳng tập;
và cũng không
tụng đọc
kinh điển Lộ
Già Da
chẳng thích
luận trích qua.
Phật pháp hộ
thiết tha
thường tu nơi
vắng lặng
thích ở chỗ
không nhàn.
Các sắc dục
không còn
làm não loạn
tâm thần.
Nay ta đã tán
dương
bốn pháp vi
diệu này
vì muốn Phật
đạo thành.
Các vị gắng tu
hành
ta trong nối
tiếp đời
đều thực hành
pháp ấy
ủng hộ Phật
pháp thảy
sớm đạt thành
đại trí
Phật pháp luôn
hộ trì.
Ác nạn chẳng
đọa vào
thường sanh
nơi tôn quí
làm chỗ để dựa
nương
nên được đại
giàu sang
tâm vẫn chẳng
phế hoang
sớm tạo phước
nghiệp đoàn.
Biết của cải
vô thường
bố thí là một
phương
nên cho chẳng
giữ thường.
Thân ta và tài
sản
lúc chết đều
thỏng buông.
Chỉ người
thiện quyến thuộc
cùng kẻ thiện
tri thức
cha mẹ và thân
tộc
khiến họ tin
Phật pháp.
Thích thực
hành việc tốt
cũng như khiến
người tin.
Nhờ đó đại vui
mừng
để tu hành
chánh pháp.
Ðược sanh
trong thế gian
dòng quí tộc
giàu sang
tâm vẫn không
phóng đãng
ưa làm việc
thiện sáng
với thân mạng,
tài sản
chẳng nghĩ
tưởng tiếc tham.
Gặp chư Phật
thậm nan
chỗ không nạn
cũng vậy
Gặp Phật hết
nạn thảy
lợi ích thật
lớn thay!
Tâm hằng tưởng
xuất gia
trí huệ phát
sanh là
đại hoan hỷ
thuần hòa.
Cầu trí huệ
cao vời
ở trong pháp
an thường
phát sanh đạo
vô thượng.
Này Xá Lợi Phất, Bồ
Tát có bốn pháp tâm thường hoan hỷ tu hành an ổn, nên biết chắc sẽ thành
Phật, danh đồn khắp mười phương. Những gì là bốn?
1) Có
những sở hữu trong (thân thể), ngoài (của cải) đều vui lòng bố thí
2) An trụ
trong giới, tu các công đức lành
3) Trong
hàng tri thức, là người được tôn kính hơn cả
4) Vì
hiểu giáo pháp mầu nhiệm nên không tiếc thân mạng. Nếu có ai đọc tụng kinh
này thì nên gia tâm lễ bái cúng dường ủng hộ. Ðầy đủ bốn pháp như thế thì
tâm thường vui vẽ, nên tự tìm được niềm an lạc, ta tin chắc vị ấy thành
Phật, danh đồn khắp mười phương.
Lúc bấy giờ đức Thế
Tôn muốn làm cho rõ nghĩa trên nên nói bài kệ:
Quyết bỏ mọi
tài sản
an trụ trong
tịnh giới
hơn hẳn trong
người trí
chẳng ngờ pháp
vắng lặng.
Nếu thấy người
đọc tụng
hành trì và
diễn nói
kinh điển
nghĩa thâm huyền
đem mọi vật
cúng dường.
Ðây là Bồ Tát
tướng
tâm hằng vui
bố thí
làm Phật được
thọ ký
trong đời đáng
được tôn
hoặc quá khứ,
vị lai
cùng chư Phật
hiện tại
thọ ký được
giác ngộ
ngươi sớm
thành Phật ngay.
Nếu người tu
pháp này
chính lời chư
Phật dạy.
Bồ Tát nên
biết thế
an trụ đạo Bồ
Ðề.
Pháp này Phật
xưng tán
Chư Bồ Tát
thực hành.
Người nào trụ
trong ấy
vị lai Phật ắt
thành
Ví như lấy
bình sốp
từ cao thả
xuống đất
khoảng giữa
chẳng chi ngăn
biết chắc vỡ
tan hoang.
Bồ Tát cũng
như thế
chuyên tu hành
đạo giác
khoảng giữa
không chi ngăn
được thành
Phật chắc chắn.
Giống người
dệt cửi hẳn
đường ngang
dọc ngay thẳng
khoảng giữa
chẳng dự phòng
mà vải vẫn
thành công.
Bồ Tát cũng
như thế
thường tu đạo
Bồ Ðề
tâm không hay
biếng trễ
Phật quả được
chứng nên.
Như người có
ruộng tốt
trồng tỉa lúa
mạ lên
luôn luôn năng
tưới bón
xanh tươi hạt
chắc bền.
Tùy thời lo
giữ gìn
lạnh nóng, gió
khó gần
cây dần dần
lớn mạnh
mùa lúa kết
sung thạnh
nhờ che chở
mát sạch
cho người được
nghỉ ngơi
hạt chắc cấp
chúng xơi
là công việc
ích lợi.
Bồ Tát cũng
như vậy
đầu phát tâm
Bồ Ðề
dần tu Bồ Tát
đạo;
muốn hiểu rộng
thấu đáo
tùy thực hành
huệ thí
thường giữ gìn
cấm giới,
các pháp giải
thoát thời
cũng chẳng hề
biếng lười.
Thực hành theo
lớp lang
được ngồi tòa
đạo tràng
trừ diệt chúng
ma quân
chứng vô
thượng Bồ Ðề
tùy thời
chuyển pháp luân.
Không ngăn
ngại thế gian
để độ thoát
chúng sanh
dẫn đạo vô số
chúng
bậc trí huệ
xứng đáng
phát tâm vô
thượng quang
đời đời không
lui hàng
cho đến khi
thành Phật.
Vì thế các vị
nay
nên tu pháp
diệu này
chắc được
thành Phật ngay
tùy thời
chuyển pháp luân.
Xá Lợi Phất, Bồ Tát có
bốn pháp trọn đời không thối chuyển đạo vô thượng Bồ Ðề, xã thân làm được
chuyển luân thánh vương phước đức tự tại, thân thể cường tráng như đại lực
sĩ. Làm chuyển luân vương bỏ bốn châu thiên hạ mà xuất gia, khi đã xuất
gia thường được tự tại tu bốn phạm hạnh. Sau khi chết được sanh lên cõi
trời Phạm Thế làm Ðại Phạm Thiên. Những gì là bốn?
1) Nếu Bồ
Tát thấy chùa tháp hư nát nên ra sức sửa sang lại, dù chỉ còn một đống hay tan ra từng mãnh
vụn. Ðó là pháp thứ nhất, cho đến khi làm được Phạm Thiên Vương.
2) Nếu Bồ
Tát ở giữa con đường thông sang bốn bên có nhiều người qua lại mà lập chùa tháp hay hình
tượng Phật. Làm việc Phật, tạo công đức ấy, hoặc chuyển pháp luân và xuất
gia, hoặc ngồi đạo tràng, phá diệt ma quân, hoặc hiện thần thông hay nhập
Niết Bàn, hoặc từ thiên thượng hiện xuống trần... là pháp thứ hai, cho đến
khi được làm Phạm Thiên Vương.
3) Nếu Bồ
Tát thấy tỳ kheo tăng tan rã, hai chúng tranh tụng, hiềm giận đôi co nhau lỗi quấy. Lúc đó Bồ
Tát phải có cách khéo léo làm cho họ hòa hợp. Ðó là pháp thứ ba cho đến
khi làm được Phạm Thiên Vương.
4) Nếu Bồ
Tát thấy Phật pháp sắp hoại diệt thường phải tụng kinh, thuyết pháp dù một bài kệ bốn
câu, làm cho giáo pháp không mất; tinh tấn tu hành để hộ trì Phật pháp,
cúng dường pháp sư, một lòng hộ pháp không tiếc thân mạng. Ðó là pháp thứ
tư, nếu Bồ Tát thành tựu được bốn pháp như thế đời đời chuyển thân làm
vua chuyển luân, thân tướng cao lớn như đại lực sĩ. Bỏ cả bốn châu thiên
hạ mà xuất gia. Khi xuất gia thì tùy ý tu bốn phạm hạnh. Khi chết được
sanh lên cõi trời Phạm Thế làm vua Ðại Phạm Thiên.
Lúc đó đức Thế Tôn
muốn làm rõ nghĩa trên nên nói bài kệ rằng:
Nếu thấy tháp
Phật hư
ra công tu bổ
lại
Bồ Tát làm như
vậy
nên được thân
cao đại
Ở giữa bốn ngã
đường
tạo lập chùa,
tháp, tượng
biểu hiện Phật
đức tướng
khiến chúng
tâm thanh tịnh
được đại phước
báu sinh
danh vang khắp
lưu truyền.
Với quyến
thuộc đông vầy
được nhiều
người xưng tán.
Hoặc thấy tăng
ly tan
cốt chỉ lo
tranh tụng
chước khéo làm
họ hối
cho hòa hợp ở
chung.
Nhờ phước đức
nhân duyên
sức mạnh không
ai bằng
thân cao lớn
đẫy đà
đại lực sĩ
khác nào...
Thấy Phật pháp
tiêu hao
không có người
tín thọ
nên nhứt tâm
ủng hộ
chẳng mến tiếc
thân mạng.
Thấy ai hộ trì
pháp
thêm cung
phụng kính trọng
làm chư thiên
hộ vệ
nên chư Phật
gia bị.
Giúp chấn hưng
Phật lý
nên làm được
quốc vương
dạo đi khắp
bốn phương
đem pháp dạy
chư cường
Tuy trị quốc
an dân
tâm chẳng chút
buông lung.
Hay khéo đè
các dục
xuất gia lìa
tổ quốc
chuyên tu tập
tứ thiền
đủ thần thông
thiên biến
bốn phạm hạnh
tu tiến
thường ưa điều
phước thiện
cho đến lúc
mạng diệt
được sanh lên
Phạm Thiên
các cõi trời
Phạm Thế
được làm Tự
Tại Vương
Bốn pháp đây
tối thượng
chư Phật đều
tán dương.
Xưa ta là Bồ
Tát
cũng thân cận
tu thường
theo chỗ thấy
nghe pháp
như thuyết tu
học tường
được đến bờ
giác ngộ
sớm thành đạo
vô thượng.
Nếu người
chuyên tu dưỡng
thực hành pháp
của ta
đời đời được
tôn quí
sức mạnh khó
chuyển lay
thường được
người kính lạy.
Các vua trời
Ðao Lợi
trong cõi dục
cũng vậy
được làm Tự
Tại vương
và ngay cõi
sắc được
làm Tự Tại
quốc vương
khắp nơi đều
tôn ngưỡng.
Ai chẳng tu
chánh đạo
giữ giới cấm
thanh tịnh.
Tâm luôn biết
hổ thẹn
đều thành tựu
sở nguyện
trụ nơi điều
phước thiện
tinh tấn không
trễ biếng.
Tập nhẫn nhục,
tu thiền
được trí huệ
vô biên
hiểu thông tất
cả pháp.
Hằng trăm
nghìn vạn ức
pháp phương
tiện không lường
thảy đều thông
suốt cả
thấu rõ nghĩa
tinh tường.
Chỉ trong mỗi
một câu
diễn nghĩa mầu
vô lượng
Khéo biết các
thuật hay
vượt hơn hẳn
trong đây
là được đại
trí huệ.
Biện luận giỏi
vô ngại
chuyên tu đạo
giác ngộ.
Xã bỏ trí huệ
thừa
thường giữ tâm
ngay thẳng
khéo tu tập
chánh kiến
nên được gặp
Như Lai
lìa xa bao
chướng ngại
Ấy là thừa
trọng đại
chư Phật đều
ngợi khen.
Trong thừa vi
diệu đây
chẳng còn các
lỗi quấy
Chẳng hạn
người mù thảy
cũng chẳng hạn
điếc ngây
Lưng gù trăm
hoạn nạn
câm, ngọng,
xấu xí thay.
Cũng chẳng hạn
bần cùng
Và người mất
phước báu.
Chẳng hạn tạo
nghiệp dữ
nhân duyên đọa
ác thú.
Ai nghe khen
thừa ấy
chẳng tạo điều
ác quấy
mà cũng chẳng
học tu
chỉ trừ kẻ ác
tâm.
Người trí nên
chuyên cần
cầu Phật tuệ
quyết lòng
tu tập trí huệ
này
Giác ngộ đạt
đến bờ
Ta sanh ra đời
đời
thường trong
dòng tôn quí
tướng đẹp sức
bền bỉ
đầy đủ quyến
thuộc thảy.
Lúc đầu ta
chẳng trể
chuyên tu hành
tinh nhuệ
giữ gìn tịnh
giới để
nhất tâm cầu
trí huệ.
Ðời quá khứ
như thế
do tu tập pháp
lành.
Nay được thọ
nhận tốt.
Các vị chớ có
xét
qua trăm nghìn
vạn ức
vô số na do
tha
thế giới như
hà sa
trí ta đều
thông suốt;
cũng biết rõ
mồn một
tâm niệm của
chúng sanh
còn biết việc
chúng hành
và thâm tâm
chúng muốn.
Ta biết tìm
phương kế
giáo hóa Bồ Ðề
phần;
cũng biết điều
phục tâm
làm cho không
phừng cháy.
Ta dùng Phật
nhãn thấy
thế giới tâm
chúng sanh
giáo hóa phải
có cách
gốc sanh tử
nhổ sạch
tùy thời mà
thuyết pháp,
dạy bảo hướng
dẫn đường
hiển hiện sức
thần thông
khiến chúng
đều vui mừng.
Nếu chúng ưa
tham chấp
tài sản và
thân sắc;
chỉ rõ các lỗi
thất
để đạt đến
Niết Bàn.
Nếu kẻ bị buộc
ràng
vấn vương các
tà kiến
cũng làm cho
trông thấy
khiến họ biết
lỗi lầm.
Tùy chúng được
quí tôn
tướng hình
thân đủ loại.
Ta liền theo
biến hóa
chánh đạo chỉ
rõ cho.
Người kia đắc
pháp rồi
tâm hân hoan
gấp bội.
Nói, nghĩ tức
Phật ngôi
ta thương giáo
hóa đời;
quy y ta tức
thời.
Cũng nương
theo Thánh pháp
rồi sau dần
chứng đắc;
phiền não khổ
nhổ bạt
vì người mà
thuyết pháp
khiến được đạo
tịch diệt.
Người ấy nghe
pháp ta
Niết Bàn đạt
không xa
như ta trong
hiện tại;
các pháp đều
vô ngại.
Quá, hiện và
vị lai
trí huệ chẳng
còn ai (hơn)
Thân Phật thật
cao đại
không thể có
hạn lượng.
Kẻ thần thông
đạt được
còn chưa thể
thấy nghe
Phật lực nhiệm
mầu thay
không biên
cương giới hạn
đem Phật lực
vô lượng
che chở cõi
Hằng sa
Những gì của
Như Lai
sắc tướng thân
hiện tại
chúng sanh
trong các loại
không còn có
hạn lượng.
Nếu chúng sanh
nào tưởng
muốn thấy Phật
sắc tướng
thì nhìn đủ
loại thân
không có định
tướng hình
Thấy Phật thân
biến liền
tâm hân hoan
khôn xiết.
Chúng nhiệt
liệt khen ta
đều là sai lầm
cả.
Loài chúng
sanh hết thảy
Phật thân khó
thấy rõ
thậm chí dùng
thiên nhãn
cũng khó có
thể tường.
Các vị nay
thấy được
là Phật lực
thần thông
thân tướng
Phật trang nghiêm
thật khó thể
nghĩ cùng.
Phật ở mỗi
chân lông
biến hóa sức
thần thông
vì lợi ích
chúng sanh
còn khó thể
bàn suông.
Trong mỗi lỗ
chân lông
phóng vô số
hào quang
hơn số các
sông Hằng
các thế giới
đâu bằng.
Ta được các vị
khen
an tọa giữa
chúng tăng
trong mười
phương thế giới
cũng xưng tán
như đây.
Ta dùng trí
hết thảy
Phật lực trí
huệ bày
còn chưa hết
được thay
huống gì được
nghe thấy.
Phật còn khó
bàn vậy;
Pháp xét nghĩ
khó hơn.
Nếu ai tin hết
lòng
quả báo được
khó lường.
Lúc bấy giờ trong
chúng có một đồng tử (1) bảy tuổi tên là Tuyển Trạch từ chỗ
ngồi đứng dậy chấp tay hướng về đức Phật nói bài kệ rằng:
Thế Tôn, con
phát tâm
mong mỏi đấng
pháp vương (2)
nghe pháp khó
nghĩ lường
trang nghiêm
tâm cao thượng.
Vì chúng sanh
thương tưởng
lập pháp thí (3) hội trường
làm tiếng sư
tử gầm
như đã nói tất
thành.
Thế Tôn, con từ nay
không tham gia
quyến thảy.
Theo y lời
Phật dạy
xuất gia tu
chánh đạo,
tinh tấn hành
chu đáo
thiền định và
trí não
chánh giác sớm
đạt vào.
Nay con tu học
dạo
vì nhiễm sâu
dục hão
mong sớm được
xuất gia
cạo tóc, mặc
cà sa;
thường tu hành thượng pháp.
Nên dùng sức
hiểu biết
chọn lựa ở thế
gian
Thế Tôn nên vì
con
mong mỏi cho
xuất gia.
Con không
tưởng chúng sanh
vì nghĩ tưởng
khó thành
tức giáo pháp
hiểu rành
nên vì chúng
sanh thuyết
chúng ma quân
phá diệt;
làm ngoại đạo
tê liệt
lưới tà kiến
trừ dẹp
làm lợi chúng
tốt đẹp.
Con hành đạo
an lạc
chân Niết Bàn
tu đạt
vô hình tướng
đạo giác
nên khó thể
nghĩ bàn.
Ðoạn mê si
loạn cuồng
pháp sáng soi
thế gian.
Pháp chân thật
truyền giảng
tùy theo pháp
tánh tướng
đại thần thông
đạt được
hy hữu hiện
các việc.
Chúng sanh
được thấy nghe
đoạn dứt những
mối nghi...
Lúc bấy giờ đức Thế
Tôn bảo Tuyển Trạch rằng: hay thay, hay thay đồng tử! Con ở trong pháp ta
mà muốn xuất gia chăng? Mong thay Thế Tôn! Như Lai liền nói bài kệ rằng:
Tuy đang mặc
nhiễm y (4)
mà tâm không
đắm nhiễm
thì trong Phật
pháp thảy
mới chân thật
xuất gia.
Trang sức tuy
chưa xã
mọi mối buộc
lìa xa.
Không kết, tâm
không mở
ấy là chân
xuất gia.
Tuy không thọ
giới cấm
Tâm xa
hẳn ác tà
mở định
huệ công đức
ấy là
chơn xuất gia
Tuy
không thọ giới cấm
mà phá pháp
chẳng chấp
lìa hết thảy
mọi pháp
ấy là chân
xuất gia.
Nếu chẳng phân
biệt ngã
cũng không
chúng sanh thảy
mà tâm bất
thối chuyển
ấy là chân Bồ
Ðề.
Nếu phát tâm
Bồ Ðề
chẳng đạt hết
tướng tâm
không được mà
chẳng động
là người không
thể mất.
Lúc bấy giờ Xá Lợi
Phất nghĩ như thế này: đồng tử đây từ khi phát tâm đến nay cũng đã lâu,
Phật vì đồng tử thuyết pháp mầu. Lúc đó Xá Lợi Phất dùng kệ hỏi Phật rằng:
Ðồng tử Tuyển
Trạch đây
đã thực hành
đa thiểu
nhờ nghe pháp
thâm diệu
mà tâm không
kinh sợ.
Người ấy đời
quá khứ
từng thấy bao
đức Phật
nghe pháp thâm
diệu này.
Nay nghe Thế
Tôn nói
phát
tâm tín thọ ngay
Tùy
theo chư Như Lai
nghe
pháp thâm diệu này
tâm chẳng chút
đổi thay?
Liền đó đức Thế Tôn dùng
bài kệ đáp rằng:
Ðồng tử
Tuyển Trạch đây
từng ở thế
giới này
theo hầu vô số
Phật
được nghe vi
diệu pháp.
Ðồng tử như ta
biết
ở Ương Già Ma
quốc
đã nghe qua
Phật pháp
tu hành đạo Bồ
Tát
và hiểu rõ
thông đạt
ấm giới cùng
các nhập
biết ba môn
giải thoát
là xứ hay phi
xứ
Ca Thi, Kiều
Tất La
nơi đây pháp
nghe qua
ta thảy đều
thấy biết
cũng như hai
xứ trên.
Ðồng tử Tuyển
Trạch đây
bờ giác thẳng
tiến lên
pháp lành càng
tăng thêm
được trí huệ
thuần thiện
toán số, kỹ
thuật tiến
văn từ thế
gian thiển
hiểu rõ việc
như trên
thảy đều chẳng
mất quên.
Hết thảy trí
thế gian
cũng khó làm
phế vong
trí huệ xuất
thế thông
nên gọi các
pháp ‘không’.
Nếu kẻ am hiểu
tường
hết thảy pháp
không tướng
trải số kiếp
vô lượng
trọn chẳng mất
trí này
Ðại trí huệ là
đây
hay trừ mọi
phiền não.
người thích
trí không này
trong pháp
chẳng lo buồn.
Lúc đó Xá Lợi Phất hỏi
đồng tử rằng, ông ở trong Phật pháp muốn xuất gia chăng? Ðồng tử đáp:
chẳng muốn xuất gia nữa. Nay tôi đã xuất gia rồi. Xá Lợi Phất dùng bài kệ
hỏi rằng:
Nay tôi
không thấy ông
mặc pháp phục
nơi thân
cũng chẳng cạo
râu tóc
sao gọi xuất
gia được?
Ông cũng chẳng
hợp pháp
được Hòa
Thượng (5), Xà Lê (6)
giới cấm chưa
truyền trao
sao gọi nghĩa
xuất gia?
Thọ giới chúng
ở đâu?
Ai bạch pháp
yết ma (7) ?
theo đúng pháp
Phật đà
hợp qui cách
xuất gia.
Việc này ông
chưa qua
xuất gia làm
sao được.
Nên phải thật
tâm đáp
những câu hỏi
như trên.
Lúc đó đồng tử Tuyển Trạch
nói kệ trả lời rằng:
Dù không mặc
ca sa
hay có mặc
chăng là
không bỏ,
không thọ pháp
danh chính
thật ca sa.
Tôi thọ pháp
xuất gia
chẳng khởi tạo
phiền hà
là áo sạch vô
cấu.
Tôi thường mặc
áo ấy
mọi buộc kết
đoạn xa
Cạo râu tóc
đây là
gươm huệ cắt
đứt lìa
sau này chẳng
thọ sanh.
Tài tôi khó
nghĩ cùng
thọ nhận các
pháp mầu
không vơi cũng
không đầy.
Thường tu
thiện pháp này
tôi thực hành
thế ấy
trọn chẳng thọ
pháp quấy
Tự thành đầy
đủ trí
là thọ giới
hoàn bị (8)
Phật, thầy ta
yết ma
Do quán pháp
như kia
Phật đạo chẳng
tách lìa
Tùy thuận nơi
Phật đà
ấy là ta xuất
gia.
Cũng là giới
của ta
thì là y bát
cả
đó là pháp yết
ma.
Ta thực hành
sâu xa
trọng pháp tạo
chánh nghiệp
từ một cõi
Phật ra
lại đến một
cõi khác
ở yên nơi đạo
tràng
bố thí khó
nghĩ bàn
nên cùng vô số
chúng
thọ thực chẳng
riêng màng...
Lúc bấy giờ đức Thế
Tôn quán sát rất kỹ đồng tử, thì đồng tử tự nhiên râu tóc trụi hết, áo cà
sa mặc vào như người mới cạo tóc. Qua bảy ngày sau chứng được 5 phép thần
thông, lúc đó tự nhiên không ai còn trông thấy đồng tử đâu cả. Bấy giờ cả
thế giới này đại địa đều chấn động, chúng sanh khiếp hãi, trống trời tự
nhiên vang, trăm nghìn nhạc khúc đồng thời trổi lên, ánh sáng rực rỡ chiếu
khắp trời đất.
Lúc Phật mỉm cười, từ
miệng phóng ra muôn tia hào quang đủ màu sắc rực rỡ, xoay quanh thế giới
ba vòng rồi thâu về nơi đỉnh đầu. Lúc đó A Nan trịch áo bày vai bên mặt
chấp tay hướng về phía Phật dùng kệ hỏi rằng:
Thầy cao tột
trong chúng ai hơn
tu hành phước
đức sùng sùng tôn
trí huệ rõ
suốt không chướng ngại
Bậc vô thượng
trí giác hỏi Ngài
Nhân duyên gì
Như Lai mỉm cười?
Phật mỉm cười
đây hẳn có nhân
thọ ký từ Phật
ai được phần?
Mong Thế Tôn
giải rõ cho con.
Thế Tôn miệng
phóng đại hào quang
ánh sáng chiếu
soi khắp thế gian
vòng quanh thế
giới lớp lớp hàng
thâu về đảnh
thượng khó ai trông
vì người nào
thành công lợi ích?
Ai nơi Phật
huệ thích thọ ký
khiến Thế Tôn
phấn chí mỉm cười?
Phóng hào
quang Phật chiếu khắp nơi
rực rỡ trang
nghiêm các thế giới
Hết thảy chúng
sanh đều phấn khởi
được tâm an
tịnh khó nghĩ ngợi.
Ấy nhờ Phật
lực hiện thần thông.
Phật bảo A Nan rằng,
nay ông có trông thấy đồng tử Tuyển Trạch thân đang mặc pháp phục rồi bỗng
nhiên trong chúng đây biến mất không? A Nan đáp: thưa con đã trông thấy. A
Nan ông nên biết rằng, đồng tử đang biến ở đây, nhưng hiện ở thế giới Diệu
Hỷ, nơi cõi Phật A Súc. Ðồng tử dốc lòng chuyên tu phạm hạnh nên thân thọ
mạng dài lâu như Thiên Ðế, Thích Ðề Hoàn Nhân và trong hiện thân tăng thêm
tuổi thọ. Ðồng tử Tuyển Trạch dùng thân ấy từ cõi Phật này đến cõi Phật
kia, cũng như nơi các cõi khác tiếp tục tăng thêm tuổi thọ. Dần dà trải
qua vô số kiếp chưa bao giờ rời xa Phật, ở chỗ chư Phật dùng hiện thân với
tuổi thọ mạng dài lâu trải qua vô lượng a tăng kỳ kiếp, rồi sau mới đạt
được vô thượng Bồ Ðề, tức thành Phật hiệu là Ðại Trí Tuyển Trạch. Thế giới
của Phật Ðại Trí tên là Thường Chiếu Minh.
Này A Nan, chúng sanh
ở cõi đó không thọ thai mà do hóa sanh, đều ngồi kiết già trên hoa sen
báu. Ở cõi Phật ấy đầy đủ phước đức trang nghiêm tuyệt vời như thế. Này A
Nan, Bồ Tát có bốn pháp khi chuyển thân được làm thiện lai (9)
tỳ kheo, không thọ thai nữa mà do hoa sen hóa sanh, tức là hiện thân tiếp
tục tăng thêm tuổi thọ. Những gì là bốn?
1) Bồ Tát
ưa thích xuất gia, cũng như khuyến khích người khác xuất gia và giúp đỡ
người xuất gia, tức xuất gia xong thuyết pháp giáo hóa làm lợi lạc chúng
sanh.
2) Bồ Tát
chuyên cần tinh tấn cầu học Phật, cũng như khuyên người khác tinh tấn cầu
pháp.
3) Bồ Tát
thực hành nhu hòa, nhẫn nhục, cũng như khuyên người khác nhẫn nhục.
4) Bồ Tát
tự tu tập các phương tiện, phát nguyện rộng lớn, cũng như khuyên người
khác thực hành phương tiện và phát đại nguyện.
Này A Nan, nếu Bồ Tát
thành tựu được bốn pháp ấy khi chuyển thân được làm tỳ kheo chân chánh,
không còn thọ thai mà do hoa sen hóa sanh, tức là thân hiện tại tiếp tục
tăng thêm tuổi thọ. Lại này A Nan, nếu Bồ Tát thành tựu được bốn pháp sau
đây, sẽ đạt vô thượng Bồ Ðề, không còn thối tâm lui sụt nữa. Những gì là
bốn?
1) Bồ Tát
phát tâm vô thượng Bồ Ðề kiên cố.
2) Thường
ưa trông thấy Phật
3) Thích
nghe pháp không chán
4) Hay
nói lời chân thật, không lừa dối.
Này A Nan, nếu Bồ Tát
thành tựu được bốn pháp ấy, không còn thối chuyển đạo vô thượng Bồ Ðề.
Liền khi đó đức Thế Tôn muốn làm cho rõ nghĩa trên nên nói bài kệ rằng:
Phát tâm sâu
kiên thật
thường ưa
trông thấy Phật
nghe pháp
không nhàm chán.
Luôn nói lời
chân thật
thấy chúng
sanh khổ não
hay đem tâm
thương xót
tâm chúng đều
suốt biết
tùy thời mà
nói pháp.
Người kia nghe
thọ nạp
thân tâm không
mỏi mệt
hành tinh tấn
trước hết
trí huệ càng
phát kết.
Vì người giữ
niềm tin
nói lời lẽ
chân thành.
Có nói ra điều
gì
sai lầm không
hề bị.
Như trong bốn
pháp đây
tu học nên tùy
nghi
Phật quả đắc
thành ngay
chuyển pháp
luân vô thượng
Ta nói qua
pháp này
quả báo thật
lớn thay.
Ai nghe được
pháp ấy
mà chẳng muốn
tập tu.
Lại nữa A Nan, còn có
bốn pháp, nếu thành tựu cho đến khi thành đạo vô thượng không quên mất
được chư thiên, long thần đều trợ lực, nên thường không rời xa phước điền
thánh hiền. Nếu không có thánh hiền ở trong chúng hội tự tạo phước điền.
Những gì là bốn?
1) Ðại Bồ
Tát chuyên cần tinh tấn giáo hóa chúng sanh khiến phát tâm vô thượng Bồ
Ðề.
2) Tinh
tấn không giải đãi cúng dường Như Lai để cầu pháp
3) Ðem
tâm cung kính hầu hạ pháp sư
4) Nếu
thấy chúng sanh bị khủng bố, khổ não, ban cho sự vô úy.
Này A Nan, nếu Bồ Tát
thành tựu được bốn pháp ấy đời đời không lui sụt tâm Bồ Ðề.
Lúc bấy giờ đức Thế
Tôn muốn lập lại nghĩa trên nên nói bài kệ rằng:
Cung phụng chư
Phật
tôn kính Phật
pháp
nhất tâm kính
trọng
qui thuận pháp
sư
thấy chư phiền
não
vây hãm chúng
sanh
ban cho vô úy
cứu bao khổ
lụy.
Ðích thị thiện
căn
thấy Phật
thường hằng
Thiên Thần
khuyên nhắc
tu hành tấn
đắc.
Nếu chẳng thấy
Phật
đệ tử chúng
tất
Bích Chi Phật
thành
Nhờ thánh
phước điền
xuất gia tu
hành
đạt trí tịnh
thanh
thiền định
thực hành
được năm phép
thông.
Thần thông đã
đạt
dạo chơi chư
quốc
vào các làng
mạc
khiến chúng
hiểu pháp.
Chúng nghe lợi
lạc
xa bạt bất
thiện
nghiệp ác
chẳng tiến
được người
thuận kính
chúng sanh
tưởng tin
an lạc vững
bền
vì tôn trọng
pháp.
Ta cũng tôn
theo.
Tự người tu
pháp
nên được phước
đức
lợi kỷ, lợi
tha
ai chẳng bỏ
qua
cầu thành Phật
đà
nên hành pháp
bảo
quả Phật không
xa
thật là đại
trí...
Ta vốn tu pháp
ấy
vượt khỏi qua
bờ giác
pháp nhờ đã
thấu đạt
được vô thượng
Bồ Ðề
Ta là đấng Thế
Hùng
các cõi chẳng
ai bằng
ban cho các
thế giới
trí huệ vĩnh
thường hằng.
Này A Nan, vì nhân
duyên đó, ông nên biết Bồ Tát thực hành giáo pháp lợi lạc chúng sanh phải
tu tập Phật pháp đầy đủ. A Nan, lui về quá khứ dài lâu vô số kiếp, lúc đó
cõi Diêm Phù Ðề này có một vị đại quốc vương tên là Phương Âm Vương, bà
phu nhân sinh được một thái tử. Lúc đó có các thiên thần đồng thanh xướng
rằng: người thực hành thiện pháp nay đã ra đời. Nhà vua nghe thế lấy làm
lạ không biết việc gì. Những gì gọi là pháp? Những gì là phi pháp?
Này A Nan, thái tử con
vua Phương Âm dần dần khôn lớn tới năm lên bảy bèn đến chỗ vua cha, cúi
đầu lễ dưới chân, rồi đứng qua một bên. Thái tử hỏi vua cha rằng: pháp là
gì? Thế nào là phi pháp? Lúc đó nhà vua dùng kệ trả lời rằng:
Bố thí giữ
giới, đoạn ái dục
tu hành phước
thiện do nhẫn nhục
lìa sát sanh,
tà dâm, trộm cắp
pháp Thánh
hiền chư Phật tán dương.
Lúc đó thái tử dùng kệ
hỏi rằng:
Như cha đã nói
pháp
Nếu ở đời trị
quốc
có nghe nhiều
rộng khắp?
Rõ nghĩa này
mong đáp:
thế nào hành
chẳng hành?
mong mỏi đáp
thật tình.
Lời thật xa
nẻo ác
không sợ đọa
địa ngục
nói dối rơi ác
thú
thọ các khổ
không dứt.
Vì thế chớ nói
sai
chân thật giải
con nghe.
Lúc đó vua Phương Âm
dùng kệ đáp rằng:
Nếu ở đời trị
quốc
không thể đủ
biện pháp.
Dao gậy hãm
hại người
làm sao có
pháp lành?
Nếu người
không tuân mệnh
ta sân buông
lời ác
tài sản cưỡng
chiếm đoạt
bít lối thêm
thâm độc.
Nếu ta đi thị
sát
dân chúng sợ
tán loạn
nghĩ rằng: vua
ngoại xuất
chắc họ làm gì
ác?
Nếu ta xử
chánh tòa
tội nhân hỏi
xét tra
trước mặt ta
phân trần
nói: vua cư xử
phân
ta xét thấy
lỗi lầm
liền gia hình
án tội
chỉ tại người
lầm lỗi
mình tự tạo
nghiệp thôi.
Có biến phải
phòng ngừa
đất nước loạn
diệt suy.
Ta khổ tâm cai
trị
dân đồ thán
lâm ly.
Nói: vua thế
lực lớn
kỳ thật chẳng
từ tâm
trong nước ai
người dân
dám chẳng tuân
mệnh lệnh.
Lúc thái tử
phát nguyện
nghe vua
thuyết xong kệ
tâm nhàm chán
thưa rằng:
con muốn quyết
tu hành
nên chẳng ham
vương vị.
Vì người tạo
thêm tội
nên xa lìa cha
mẹ
xuất gia tu
Phật đạo.
Nếu vua không
thuận hão
con phải tự
hủy thân
độc dược hoặc
nhảy cao
hay tự sát
bằng dao.
Vua nghe con
thề xong
bảo rằng, buồn
trong lòng
tùy ý con tự
chọn
việc nước cha
lo trị
muốn tài sản
cho con
dạo chơi khắp
non sông
tại sao lại
xuất gia
làm trò cười
thiên hạ
tuổi xuân thọ
dục thỏa