Kinh Hoa Thủ
(hay Nhiếp Chư Thiện Căn)
Đại Tạng Kinh Đại Chánh Tân Tu quyển 16, số 657
Đời Hậu Tần, nước Quy Tư
Pháp Sư Cưu Ma La Thập
Phụng chiếu dịch từ chữ Phạn sang
chữ Hán
Tỳ Kheo Thích Bảo Lạc
dịch ra chữ
Việt
Pháp Bảo ấn hành 1990
---o0o---
Quyển VII
23- Phẩm ÐẮC NIÊM thứ hai
mươi ba
Phật hỏi Ngài Xá Lợi
Phất: ông muốn nghe tâm Bồ Tát phải không?
- Muốn nghe, thưa Thế Tôn
Nay đã đúng lúc ta phải nói chân tâm Bồ Tát,
nhờ chân tâm mới tu tập đạo vô thượng Bồ Ðề được.
Phật
bảo Ngài Xá Lợi Phất, lui về thời quá khứ lâu xa vô số a tăng kỳ kiếp, lúc
bấy giờ có đức Phật hiệu là Ðức Vương Minh Như Lai, ứng cúng, chánh biến
tri, minh hạnh túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự
trượng phu, thiên nhơn sư, Phật Thế Tôn ra đời. Này Xá Lợi Phất, Phật Ðức
Vương Minh có các đại hội chúng Thanh Văn tám vạn bốn nghìn người và số
chúng Bồ Tát cũng đông như vậy. Lúc đó trong hội Thanh Văn có tám vạn bốn
nghìn người được trí siêu việt. Phật Ðức Vương Minh đã được tâm lậu tận tự
tại như thế, nên bậc đại A La Hán, Tu Ðà Hoàn, Tư Ðà Hàm, chúng A Na Hàm
lại càng đông gấp bội số chúng kia. Lúc đó vương tử Ðắc Niệm đến chỗ đức
Phật, đảnh lễ dưới chân Phật rồi đứng qua một bên. Vương tử thấy Phật có
uy đức lớn, bèn nghĩ thế này: Phật là đấng hy hữu, thành tựu công đức vi
diệu như thế; ta tự hỏi phải có duyên gì Phật được trí huệ như thế và có
được thân tướng tốt đẹp như vậy? Từ suy nghĩ ấy ta dùng bài kệ hỏi Phật:
Con nay thấy Thế Tôn
Ðạt được trí huệ sáng
chứng được đạo vô thượng
Do duyên, nghiệp quả gì
Sắc thân Phật khó bì
như ánh sao, trăng đầy.
Thần thông dạo đó đây
tùy chúng thuyết pháp mầu
Trí huệ không ai bằng.
Bậc tôn chúng Ðế Thích
tự tại trong mọi pháp
việc này con hỏi trước:
Trí Phật tịnh vô chướng
ba đời thông suốt được
hết thảy chúng tôn ngưỡng
Mong Phật giải cho con ?
Xưa Thế Tôn từng thấy
vô lượng chư Phật thảy.
Dám hỏi do nhân gì
Mong vì con giải nghi.
Nay hỏi bậc huệ trí
thành Phật làm sao chứng?
cho tất cả nương về,
thoát khỏi sanh tử mê?
Phật
Ðức Vương Minh đáp Ngài Xá Lợi Phất bằng một bài kệ:
Như Ðồng tử đã hỏi
việc đúng như thế ấy.
Chư Phật ta từng thấy
số lượng hằng hằng sa
tính đếm biết bao là
Danh số của các Ngài
trong hằng sa kiếp đa
Ðem hỏi việc Phật Ðà.
Ông phát tâm Bồ Ðề
nên thành lưỡng túc tôn.
Hãy nghe ta nói rõ
nghe xong thực hành kỹ
không chán thường bố thí
trì giới luôn quyết chí
Nghe nhiều không che dấu
Tu tập chân trí huệ
Phật lược nói bài kệ.
Ðồng tử không biếng trễ
Muốn thành đạo Bồ Ðề
rộng phân biệt nói kỹ.
Không mỏi, ông bố thí
không mệt, tịnh giới trì
không dấu hỏi bậc trí
Ấy là nhân duyên gì.
Thật trí khó nghĩ suy.
Vô thường, bất định vị
nhân duyên hỏi Phật kỹ
phát sanh chân huệ trí.
Phật trí không nương mắt
Tánh mắt vốn tự không
Ðừng chấp trước là xong
Trí huệ Phật cầu mong
tai, mũi, lưỡi, căn thân
và ý thảy đồng lòng
Các nhập cũng đều không.
Không thể tham chấp tướng
Bốn đại (1) hợp thành thân
Tâm sở (2) nơi y chỉ
tưởng phát sanh từ ý
ức tưởng cũng chẳng gì
Nếu không thân sở y
thọ mạng cũng chẳng quí
tài lợi có đáng gì.
Chứng đắc Phật đạo thì
xuất gia thường có chí
chuyên tinh tấn thiết tha
ham muốn dẹp bỏ qua
nẽo ác phải lìa xa.
Ông nên hành bố thí
cho hết thảy chúng sanh.
Ðối với chúng chẳng phân
cũng không thí lời suông.
Lúc đó vương tử Ðắc Niệm
tâm rất hoan hỷ, ở trước Phật liền nói bài kệ:
Thế Tôn khéo
trừ nghi
nhổ sạch sanh
tử kỳ
Nói pháp diệu
huyền vi
làm lợi lớn
khắp thí.
Thành Phật ta
quyết chí
ngồi đạo tràng
niệm nghĩ
mối buộc diệt
hết thảy
Ðược nghe pháp
Phật dạy
Ta vì chúng
dẫn đạo
cõi đại thiên
chấn động
hiện biến lực
thần thông.
Nghe pháp Phật
dạy xong
nên thọ mạng
chẳng ham
nhập vô dư
Niết Bàn.
Mọi pháp thảy
đều không
nhờ trí huệ
chánh chân
biết tướng
pháp không thật.
Vì pháp hay
hủy diệt
hữu vi đều dứt
sạch.
Dứt sạch tức
là không.
Cha mẹ ta được
gần
phụng thờ, báo
thâm ân
Xuất gia Phật
pháp chăm
đạo Bồ Ðề
quyết lòng.
Dưới chân Phật
lạy liền
đi nhiễu ba
vòng xong.
Hướng cha mẹ
vấn thăm
giữa đường ác
ma gặp.
Bọn chúng móng
tà tâm:
vương tử chớ
có hòng
xuất gia ta
phải cản;
quấy động tâm
tán loạn.
Giữa đường ra
đứng chận
gặp vương tử
tra vấn:
xuôi về hướng
nơi đâu?
Tiểu tâm đây
muốn hỏi.
Vương tử lập
tức bảo:
Ta chỗ Phật
trực đáo
nghe pháp vô
thượng đạo
nay muốn hành
chánh giáo.
Ông lành thay!
ma bảo
Tinh tấn cầu
Phật đạo
dục lạc trước
nhắm vào
rồi sau hẳn
xuất gia.
Ông sanh nhà
tôn quí
giàu có,
dân dư giả
Trước
phải hưởng vui đời
để sau
khỏi có hối.
Ở nơi tôn
qúi ấy
năm món
dục dẫy đầy
bỏ xuất
gia sao đành.
Về sau
chắc hối tâm.
Vương tử
đáp rõ ràng:
thọ dục
thảy bất an.
Ông vì
tâm đảo điên
tán thán
pháp não phiền;
cho rằng
phú quí khó
lìa tám
khổ (3) khó hơn.
Ta nay đã phát tâm
xuất gia
tu Phật đạo
cõi dục
đều hiểu rõ;
cõi sắc,
cõi vô sắc
ba cõi
khổ, vô thường
trừ ái
được thanh lương
Chứng
pháp mầu vô thượng
chúng
sanh làm lợi ích
độ thoát
sanh, bịnh, chết
qua lại
nẽo khổ đau.
Lúc đó ma Thất Niệm nói
với vương tử rằng, nhơn giả tự tin chí cầu Phật pháp, ta nay cũng phải hóa
tướng cầu lợi ích. Ðắc Niệm nói: như tôi đã nói, nghe thì phải biết. Ma
nói: tôi xin thề với ông. Vương tử đáp: ô hay nhơn giả! Trước tôi đã nói,
hễ nghe thì phải biết. Ðáp: ông không nên bảo đã nghe phải biết mà phải
nói thế nào; chỉ thấy giáo hóa, nên theo giáo hạnh (4). Ðắc
Niệm đối lại: tôi không phải như đệ tử theo pháp tùy sự chỉ dạy thực hành.
Tại sao thế? Nếu ông ở trong giáo pháp mà tưởng nghĩ phi pháp, trong phi
pháp mà tưởng pháp đem dạy ta, thì ta phải suy xét; việc thiện thì theo,
việc ác nên bỏ. Cho nên kẻ trí đã nghe pháp thì phải biết. Ông muốn tôi
trước phải lập lời thề: theo lời chỉ dạy thực hành, ấy là việc của phàm
phu không phải của kẻ trí, là việc của ma làm ra, không phải của Phật
pháp. Cho nên tôi không theo ông trước lập lời thề, vì sợ người trí cười
chê tôi, cho rằng tại sao đã thề mà sau còn làm trái? Ma Thất Niệm nói.
vương tử thông minh trí huệ không thể lập lời thề khó đến hư ngụy (dối).
Thất Niệm nói thế xong bảo Ðắc Niệm rằng, lành thay vương tử! Theo pháp
của kẻ trí không cần phải thề trước. Tuy nhiên nay tôi chỉ cho ông, ông
phải tin nhận trong bất cứ việc gì, hễ thấy sai quấy nhiều thì nên bỏ,
thấy ít lỗi lầm thì nên theo đuổi. Vương tử hỏi xong bảo ma rằng: ô hay
bậc trượng phu! Ông không nên nói như thế. Tại sao vậy? Vì lỗi nhiều, lỗi
ít đều không nên gần gũi; cũng như độc nhiều thì có thể làm hại người, mà
độc ít cũng bị hại như thường. Như trong dòng vua Chuyển Luân có kẻ phản
hại người, thì trong hàng hạ tiện cũng có người phản gây tổn hại người. Vì
thế, ông nên biết, người trí phải biết, dù lỗi nhiều hay ít cũng đều phải
xa lánh. Kẻ trí gần pháp không có các lỗi lầm, không giận, không phiền,
vắng lặng bất động, an lạc hoàn toàn. Ma lại nghĩ tiếp: phải cho người này
một bài học, không nên tin theo mà trả lời trái lại, thì chắc chắn sẽ rõ
được điều trái mà ta nghi ngờ. Tuy nhiên cũng có cái lý riêng của nó theo
điều suy nghĩ của vương tử: dù ít lỗi nhiều lỗi gì cũng đều không nhận.
Vì nếu Bồ Tát làm những việc lỗi lầm nhiều phải qua lại ở lâu trong đường
ác thú. Những lỗi quấy tham dục, sân giận, si mê chẳng tìm cầu chúng đến
mà vẫn có sẵn tiềm tàng từ nơi tham ái những món đồ quan trọng, từ đầu,
mắt, tủy, não, và thân phần. Trong khi thực hành Bồ Tát đạo có những sai
lầm như thế thì tâm vương tử lỗi ít còn bỏ huống gì là quấy nhiều. Nay nếu
nghe hạnh Bồ Tát mà còn lỗi lầm thì hoặc thối chí theo pháp tiểu thừa,
hoặc nhập Niết Bàn sớm, đây là điều làm băng hoại tâm Bồ Tát. Ma nghĩ thế
rồi bảo vương tử: lành thay, lành thay! Những lời ông chân thật làm sao!
Lỗi nhiều lỗi ít đều không nên gần là pháp của kẻ trí. Ta đã nói lầm, vì
không hiểu được tâm ông. Vương tử nên biết, chỉ có Niết Bàn mới không còn
các sai lầm. Vì thế ông phải nhất tâm cần cầu, dứt đường qua lại trong
sanh tử, không thọ khổ nũa. Vương tử nên biết, thọ thai rất là khổ, lúc ở
trong thai cũng khổ, sanh ra đời là khổ, yêu nhau mà chia lìa là khổ, ghét
nhau mà hội ngộ là khổ, thân vô thường, khổ không, không bền chắc, nuôi
dưỡng cực khổ, mạng sống mong manh, những việc vô thường thật là đáng sợ.
Sanh tử mờ mịt không cùng tận! Kẻ trí nghe như thế cũng đủ nhàm chán. Ông
phải tự nhìn lại rằng, chư Phật khó gặp, tránh khỏi tám nạn là khó, thân
người khó được, kinh điển khó được nghe, tin giáo pháp cũng thật khó. Nay
ông đã được đầy đủ mọi thứ chẳng những không bỏ mà còn sanh tâm xa lìa,
thì ngay chính thân này có thể nhập Niết Bàn. Ý tôi muốn việc này nên bảo
ông trước phải lập thệ nguyện cương quyết, rồi sau tôi mới nói, khi nghe
phải biết. Vương tử đáp: nếu nhơn giả nói sanh, già, bịnh, chết vời vợi
không cùng thì sự khổ đúng như đã nói. Nếu cho rằng ngay thân này phải
nhập Niết Bàn thì không thể được. Tôi nghe thế rồi tăng thêm lòng từ bi
đối với chúng sanh, phải thọ các khổ dày vò với cái già, bịnh, chết. Chúng
sanh thật đáng thương xót! Ðến lúc tôi thành đạo vô thượng chánh đẳng
chánh giác sẽ vì chúng sanh mà thuyết pháp làm cho tất cả vĩnh viễn xa
lìa, già, bịnh, chết. Nhơn giả thật là hy hữu thấy rõ được điều đại lợi
ích ấy. Lúc nghe ông nói cái khổ sanh tử của chúng sanh, tôi khởi lòng
thương xót, đem tâm cứu hộ. Nếu ngay thân này tôi nhập Niết Bàn thì ai cứu
độ? Vã lại, ông đã nghe việc ấy nên làm chuyển đại nguyện bền vững của
tôi. Lúc bấy giờ ác ma hỏi vương tử: như ông đã nói, ít lỗi còn không nên
gần gũi thì nay tại sao muốn vào sanh tử? Ðáp: nhơn giả! Trong đạo vô
thượng Bồ Ðề không có một lầm lỗi nào nên phải thân cận. Ma hỏi vương tử:
đạo vô thượng tuy không lầm lỗi, song để cho ai kia, tôi đây cầu Phật đạo
còn chưa được, huống gì là ông ư ? Theo tôi nghĩ: muốn đạt Phật đạo mà
phát tâm tà thì có vô số người đến xin đầu, mắt, tủy, não và các phần cơ
thể. Ma tiếp lời: này vương tử, tôi bỏ cả đầu, mắt, tay chân cho người đến
xin, máu chảy thành sông, ông có muốn thấy không? Ðáp rằng, muốn thấy để
được lợi ích. Ma nghĩ: tâm vương tử đối với đạo vô thượng cơ hồ khó lay
chuyển nổi! Vương tử liền nói, tôi muốn thấy việc này vì sự lợi ích. Ma
liền hóa ra bốn ao máu lớn, trong ao máu me tràn đầy. Trên bờ ao bốn dòng
máu đều chảy đọng lại trên đầu mọi người cao như núi Tu Di. Máu vừa tan ứ
lại thành màu xanh, vàng, đỏ, trắng; cũng như những thây người chết rã rời
chất cao như núi, hoặc bị chặt tay chân đôi mắt lồi ra, hoặc bị cắt tai,
mũi, đoạn lìa các phần thân thể. Lại có bọn quỉ dạ xoa ăn thịt người vây
chung quanh bốn bên trông thật đáng sợ. Hoặc cầm dao gậy, cung tên, gươm
dáo nhổ núi phun lửa, sấm chớp nổi lên, hoặc biến thành loài ác trùng, thú
dữ, sư tử, hùm beo, đầu hổ báo, trâu ngựa, lạc đà, voi, đầu heo, chó, đầu
rắn, đầu cá, cá voi. Bọn quỉ hoặc cầm rắn độc, hoặc miệng phun lửa, hoặc
có hai đầu, 5 đầu, 10 đầu, 100 đầu, 1000 đầu hay có một lưỡi, 2 lưỡi, 10
lưỡi, 100 lưỡi, 1000 vạn lưỡi, hoặc có một mắt, 2 mắt, 5 mắt, 10 mắt, 100
nghìn vạn mắt; mỗi mỗi phát ra tiếng lớn nghe rất ghê sợ. Loài thú gầm gừ,
mắt trợn trừng để lòi môi răng phun máu xối xã bốn bên. Làm những việc
quái dị đáng sợ thế rồi, ma bảo vương tử rằng, nay ông có thấy bốn ao
huyết lớn chảy thành sông, máu ra lai láng như thế có nhiều không? Vương
tử đáp: thấy. Ma bảo: việc này do đạo tâm Bồ Ðề của tôi làm ra; lúc đó có
những người đến xin đầu, mắt, tủy, não và thân thể tôi nên máu chảy thành
sông lớn ấy. Ông cũng trông thấy núi Tu Di cao lớn bằng đầu người chụm lại
chăng ? Vương tử bảo thấy. Ma nói: đây là do trước kia ta cho những người
đến xin đầu đó. Ông cũng thấy thây người chết chất cao như bốn núi lớn đó
hoăc chặt tay chân, lóc tai mũi, thân phần chăng? Vương tử bảo thấy. Ma
nói: đây cũng do hạnh Bồ Tát lúc ta tu Phật đạo cho những người đến xin
nên xã thân đó. Ông cũng trông thấy bốn phía bọn dạ xoa, ác quỉ có đáng
ghê sợ không? Vương tử nói đáng sợ. Ma bảo: nếu người phát tâm vô thượng
Bồ Ðề, tức làm cho bọn quỉ tới quấy rầy như xin đầu, mắt, tai, mũi, tay
chân và những phần của cơ thể thật đáng khiếp sợ. Từ trước đến nay ta đã
phát tâm đoạn lìa cả đầu và thân thể... như thế! Ma lại biến thành bọn đại
la sát, bảo vương tử rằng, ông có trông thấy bọn la sát không? Vương tử
nói: có thấy. Ma nói: nếu người phát tâm vô thượng Bồ Ðề bị bọn ma quỉ ăn
hết ngũ tạng, uống bảy giọt máu làm cho mất mạng. Ông nay nên biết, nếu
không từ bỏ tâm Bồ Tát không thoát khỏi các khổ này. Ta suy nghĩ kỹ việc
này thật là khó, chẳng thể đạt được, không thể chịu đựng được nổi những
khổ não ấy. Vì thế phải thối chuyển đạo vô thượng nên thối chuyển trước
cho thoát khỏi các khổ nạn này để được an lạc. Ta vì sự lợi ích cho ông
mới nói ra việc này. Ông chớ nên phát tâm vô thượng đạo nữa! Nếu ông còn
phát tâm phải chịu các khổ này không biết bao giờ mới giải thoát được!
Vương tử Ðắc Niệm suy nghĩ: ta ở nơi đức Phật phát tâm vô thượng chánh
đẳng chánh giác là muốn tiến tới bậc phụ mẫu; còn người này đang không
giữa đường đã thấy bại hoại thế, chắc đây là ma hoặc ma hiện hình người.
Việc này chắc là do ma sai sử làm cho ta thối chuyển đạo tâm trong Phật
đạo nên đến quấy rầy ta. Người này đời trước chắc mắc trọng tội, nên ngày
nay mới có những người đến xin đầu, mắt, tay chân, cắt lìa mạng sống như
thế nên phải chịu sự đau đớn này. Lại nữa, những kẻ xin này có thể trợ
giúp cho Bồ Tát thành đạo vô thượng. Tại sao thế? Vì những người xin từ
chỗ bọn ma đến, đều do tham dục, sân giận, ngu si, ganh ghét, kiêu mạn...
nên tới cầu xin Bồ tát một cách trái phép. Nếu ta không có đầy đủ nguyện
lực ở thế gian đối với các chúng sanh này, làm sao có thể được lợi lạc ở
xuất thế gian. Người này giải đãi không thể thâm nhập sâu được đạo Bồ Ðề
nên sanh tâm thối chuyển. Thấy thế ta nay nên gia tâm tinh tấn cầu đạo vô
thượng. Giả sử trong khoảng một hơi thở mà lìa bỏ thân mạng cho đến thân
sau cùng, ta vẫn nhất tâm từ bỏ, lòng không một mảy may lui sụt. Nay ta
phải phát đại nguyện: chúng sanh do phiền não khởi tạo nghiệp tội; ta phải
chứng đạo vô thượng Bồ Ðề dứt trừ phiền não, vì chúng sanh mà thuyết pháp.
Suy nghĩ như thế rồi ta bảo ma rằng, ô hay nhơn giả! Thật là hy hữu, kẻ
cầu an ổn, thấy được lợi ích; chỉ có người khai đạo Bồ Ðề mới có thể hiện
ra cho ta những việc như thế. Ta thấy thế liền phát nguyện trang nghiêm,
nên niềm tin đạo Bồ Ðề càng thêm kiên cố.
Lúc ma Thất Niệm hiện
ra sự biến hoá ấy lại càng làm cho vương tử tinh tấn, ưa tin sâu đạo Bồ Ðề
gấp bội hơn lên. Ma nghĩ xong bèn bảo vương tử rằng, nếu nhơn giả không
tin lời tôi, thì nay tiểu tướng tự rút lui, mong nhơn giả tự biết. Lúc đó
bọn dân ma bảo ma chúa rằng, nay vương tử không nhận Ngài chỉ giáo nên
lánh xa đi. Ma nói: tôi rất đói khát muốn rũ rượi cả thân thể muốn nhai
nuốt ngũ tạng, uống máu người kia. Có con ma khác lại nói: Ngài nên lánh
xa đi, tôi phải làm cho thân vương tử tan nát mới được. Một con ma khác
nói: ông hãy tránh xa đi, tôi sẽ làm tan đầu vương tử, hoặc có con quỉ
bảo: tôi đã từng móc mắt, tai, mũi, lưỡi, các phần thân thể... Có một con
tên La Sát nói: ông hãy đứng xa ra một chút, mạng vương tử nay đã đến lúc
tàn rồi! Ông muốn được lợi ích mà không chịu nhận lời chỉ giáo nên nay ta
phải giết ông để uống máu ăn thịt. Ðời đời thọ thai, ở trong bào thai, khi
sanh ra đời ta thường ăn thịt người. Có một con quỉ dạ xoa liền nói: tên
này bất tuân không chịu nghe lời chỉ giáo, nay nên bắt nó nhốt lại và đem
giết quách nó cho rồi. Lúc đó ma Thất Niệm bảo quỉ La Sát rằng: các ông
hãy nán lại một chút. Tôi phải làm cho tên vương tử Ðắc Niệm này chuyển tà
kiến, vì nó ở trong đêm dài làm kẻ thiện tri thức. Các Ngài nán chờ tôi,
xin cảm ơn các vị. Nay tôi muốn làm cho tên kia phát tâm chánh kiến. Nếu
nó không chịu từ bỏ ác tà kiến là tùy ý nó. Nhược bằng nó chuyển tâm, tôi
sẽ đền ơn các Ngài. Vương tử về sau cũng phải đền ơn tôi nữa. Lúc ma Thất
Niệm bảo vương tử lần thứ hai, lần thứ ba là nên nhận những lời chỉ dạy.
Thâm tâm tôi là muốn điều lợi ích, nên vì ông hoá làm kẻ thiện tri thức,
ông nên bỏ tà kiến, điên đảo đi. Vương tử nên biết rằng, đạo vô thượng
thật là khó chứng đắc. Ông có muốn trông thấy chư Ðại Bồ Tát sau khi mạng
chung sanh vào chốn nào không? Vương tử đáp: muốn thấy. Lúc đó ma Thất
Niệm liền ngay khi đó hóa ra thành cảnh đại địa ngục và hỏi vương tử rằng,
ông có trông thấy chúng sanh trong địa ngục này chịu nhiều sự khổ tra tấn
cực hình không? Vương tử đáp thấy. Ma nói: những người này đều do đời
trước lúc mới phát tâm vô thượng Bồ Ðề, có những người xin trái phép cưỡng
đến đòi xin những vật quí giá, do lòng keo kiệt sân hận nổi lên nên phải
thọ tội báo trong địa ngục này. Chỉ trừ ngoại lệ mới không sanh vào đây;
huống gì có kẻ đến móc đầu, mắt, tũy não mà tâm không sân; do tâm sân liền
thọ tội ở đây. Nếu ông keo kiệt không cho thì sanh vào trong ngục này. Giả
sử có cho mà tâm còn sân hận vẫn bị đọa vào đây như thường; cả hai đều
phải thọ cái khổ này. Vương tử nên biết, người cầu bố thí không nên sanh
tâm sân hận. Các quỉ dạ xoa này cũng ở trong bào thai, lúc sanh và sau khi
ra đời liền bị giết chết, cơ thể bị cắt xẻ ra từng mãnh rồi mỗi con tự tha
đi.Vương tử nên biết, con đường Bồ Tát cả hai bên đều có sai lầm. Như cho
hoặc chẳng cho, cả hai cũng đều bất thiện cả. Ông không tin tôi thì nên
hỏi người này xem tại sao lại sanh ở đây. Vương tử hỏi: ô hay nhơn giả!
tại sao người sanh vào chỗ này? Mấy người ấy đáp: bọn tôi trước kia lúc tu
Phật đạo đối với những người đến xin có tâm tham tiếc nên sanh vào đây.Họ
nói tiếp: chúng tôi vốn cầu Phật đạo, có những kẻ xin đến cắt xẻ thân tôi.
Lúc đó tôi nổi tâm sân giận nên phải đọa vào đây. Vì thế thưa vương tử,
vương tử nên theo người này đã nói, chớ vào đây để rồi về sau hối hận.
Lúc bấy giờ vương tử
gọi ma bảo rằng, ô hay nhơn giả! Thấy được lợi ích sâu xa, ông chỉ cho tôi
địa ngục và vị Bồ Tát này. Kể từ nay trở đi đối với những vật quí trọng
tôi không có tâm tham tiếc mà vui lòng bố thí. Nếu có cho người đến xin
cũng không sân hận. Tại sao thế? Vì những người sanh trong địa ngục là hậu
quả của những kẻ có tâm tham tiếc không bố thí. Ô hay nhơn giả! Chúng ta
hãy cùng nhau đi tới chỗ Ðức Vương Minh Phật để hỏi việc này. Tùy chỗ Phật
nói để chúng ta cùng thực hành. Ma Thất Niệm nói: tôi không biết dùng cách
gì đi đến chỗ Phật cả, ông muốn đi thì cứ tùy ý. Tại sao thế? Vì tôi sợ
Phật cũng lại dạy tôi phát tâm vô thượng đạo. Vương tử Ðắc Niệm bảo ma
rằng: ông tự cho là kẻ được lợi ích lớn, là người an ổn, hãy cùng tôi đến
hỏi Phật Ðức Vương Minh mới được. Tùy chỗ Phật nói mới cùng tu hành, như
thế đến ba loại ma cũng không làm gì nổi. Vương tử lại đứng yên lặng. Ma
nói: ta đã từng nghe theo lời Phật nên phải chịu các khổ, nay không thể
đến chỗ Phật. Vương tử liền cầm tay ma đến chỗ đức Phật, đầu mặt lạy dưới
chân Phật rồi ngồi qua một bên, và đem chỗ đã luận ra hỏi đức Phật. Phật
bảo: này Ðắc Niệm, lành thay, lành thay! Ông không nghe theo người này
nói, đó là do ma Thất Niệm cố mê hoặc muốn ngăn cản đạo Bồ Tát của ông.
Liền đó vương tử bảo Thất Niệm rằng, nay ông quy y Phật, Pháp và Tỳ Kheo
tăng. Ma ngắt lời: ta không theo Phật, Pháp và Tăng; nói xong bèn im lặng.
Lúc đó vương tử xem kỹ ma rồi nhứt tâm lập lời thề rằng: nếu con chí tâm
cầu Phật đạo, khiến con ma này hiện hình tỳ kheo. Liền lúc đó Thất Niệm
đầu tròn, mặc pháp phục(5), mang bình bát đứng giữa đại chúng.
Ma thấy mình thân hình xuất gia mặc pháp phục, mang bình bát, cầm tích
trượng (6) làm tướng sa môn, nên bạch Phật rằng, thưa Thế Tôn:
nếu như không có tâm quy kính ngôi Tam Bảo ma biến hình làm sa môn như thế
có hợp pháp chăng? Phật bảo Thất Niệm: ai cho ông cạo đầu, mặc pháp phục,
có theo đúng pháp không? Thất Niệm đáp ngay: không ai cho tôi cạo đầu, mặc
pháp phục, làm sa môn cả. Nay tôi không sao cởi bỏ được nên rất thích pháp
phục đúng pháp chẳng muốn rời. Ma nghĩ rằng, ta đứng trong chúng đây bao
lâu cũng chỉ làm trò cười cho thiên hạ, ta nên biến hình trở lại cung điện
cũ. Ma nghĩ thế rồi bỗng nhiên biến mất, bay lên thiên cung bảo quyến
thuộc: các ông đừng gọi tôi là Tỳ Kheo mà đây chính là ma vương Thất Niệm.
Tôi muốn thân đến chỗ Ðức Vương Minh Phật để quấy phá, ngược lại phải biến
thành hình tướng này, thật đáng buồn cười thay! Lúc đó quyến thưộc chế
nhạo rằng, người trụi tóc chớ có nói khùng. Ông không phải là vua thiên
ma, tại sao có mặt tại cung điện này. Thất Niệm nghe xong lòng rất hối
hận, gào thét buồn thảm rồi lại đến chỗ đức Phật. Phật Ðức Vương Minh dùng
lực thần thông hiện ra địa ngục a tỳ. Ở đó có tên ngục tốt cầm vòng sắt
nóng lớn bằng núi Tu Di, đang rảo tìm chúa ma Thất Niệm khắp đông tây. Có
người hỏi: ngươi đang làm gì đó? Dùng vòng sắt để làm gì? Ngục tốt trả
lời: tôi muốn dùng vòng sắt nóng đỏ này bỏ vào miệng Thất Niệm. Có người
khác lại nói: ma Thất Niệm đã làm sa môn được ra khỏi địa ngục rồi. Một
tên ngục tốt khác nói: tôi vác núi lửa lớn này trên vai đi rảo khắp đông
tây để tìm chúa ma Thất Niệm. Có kẻ hỏi: ngươi đang làm gì đó? Dùng núi
lửa làm gì? Ngục tốt trả lời rằng, muốn đem núi lửa thiêu đốt tan nát thân
xác tên kia. Có người lại hỏi: ma Thất Niệm đã được xuất gia rồi thì được
thoát khỏi khổ địa ngục. Cũng có tên ngục tốt dùng rừng dao sắc nhọn lửa
đang cháy hừng hực mang trên vai đi tìm chúa ma Thất Niệm khắp đông tây.
Có người hỏi: ngươi đang làm gì đó? Dùng núi dao nhọn làm gì? Ngục tốt trả
lời: muốn dùng dao cắt xẻo thân xác tên kia. Có người bảo: chúa ma Thất
Niệm trong giáo pháp đã xuất gia theo Phật Ðức Vương Minh, nên đã thoát
khỏi khổ địa ngục rồi. Một tên ngục tốt khác vai vác cái vạc lớn đựng đầy
nước đồng sôi đi tìm ma Thất Niệm khắp đông tây mà không biết nay hắn đang
ở dâu. Có người hỏi: ngươi dùng vạc đồng sôi làm gì? Ngục tốt đáp: muốn
rót nước đồng sôi vào miệng tên kia, thiêu đốt lưỡi môi, yết hầu , ngũ
tạng hắn cho nhừ nát bấy ra. Có kẻ nói: ma Thất Niệm ở trong Phật pháp của
Phật Ðức Vương Minh đã xuất gia nên đã được thoát khổ địa ngục rồi. Hoặc
có ngục tốt một tay cầm cung tên, một tay cầm dáo mác bằng sắt bén nhọn
tìm khắp đông tây và nói rằng, ma Thất Niệm nay đang ở đâu? Có người hỏi:
dùng binh khí làm gì? Ngục tốt đáp: tôi muốn dùng đủ loại binh khí này để
đâm chích, cắt xẻ tan nát thân xác tên kia. Có kẻ bảo: chúa ma Thất Niệm
đã xuất gia nên thoát khỏi khổ địa ngục. Lúc đó ma Thất Niệm ở trong địa
ngục nghe bọn ngục tốt quát lên những âm thanh đáng sợ như bắt, tra tấn,
trói buộc, đánh đập, cắt xẻo làm cho thân xác Thất Niệm tan rã đừng để hắn
cựa quậy nữa. Thất Niệm nghe qua những việc như thế lấy làm thất kinh bèn
nghĩ rằng, chính mắt ta trông thấy không còn nghi ngờ gì nữa. Ta định phá
hết thiên cung vào đại địa ngục. Bọn ngục tốt bốn phía nổi lên la ó, muốn
bắt nhốt tôi. Nay tôi phải trông cậy gì? Chỉ còn cách xuất gia là có thể
tin cậy được. Nếu Phật tin ta là kẻ có lòng chí thành thì ở trong Phật
pháp được xuất gia làm việc đạo để được thoát khỏi khổ trong đại địa ngục,
bèn đem ý này tỏ bày với vương tử. Nghĩ như thế rồi, ma liền hướng về Ðắc
Niệm tỏ bày mọi việc rằng: tôi muốn xuất gia theo Phật. Ðắc Niệm đáp: nếu
ông có lòng tin thanh tịnh phải phát tâm vô thượng Bồ Ðề, rồi sau mới có
thể xuất gia được. Tại sao thế? Vì trong Phật pháp không những chỉ chính
thức cạo đầu, mặc áo tu gọi là xuất gia mà phải theo đúng pháp thực hành
mới là chân chánh xuất gia. Ông phải làm như thế đã mới được xuất gia.
Thất Niệm ông nên biết, ở trong Phật pháp, nếu kẻ còn tham chấp ngã, những
vật sở hữu và còn phân biệt không gọi là người xuất gia được. Này Thất
Niệm, trước hết ông nên phát tâm vô thượng Bồ Ðề, sau dùng pháp quán chân
chính như địa ngục là gì? Tìm xét tánh địa ngục chắc chắn không có định
tánh của địa ngục, cũng không thấy pháp nào vào địa ngục hay không vào cả.
Lúc đó vua Thất Niệm liền phát tâm vô thượng Bồ Ðề, thường dùng pháp chánh
quán ấy nên chẳng bao lâu được pháp vô sanh nhẫn.
Này Xá Lợi Phất, vương
tử Ðắc Niệm nhất tâm vấn nạn ma Thất Niệm làm cho ma từ bỏ những điều ác
đạt được tâm không thối chuyển, nên được Phật Ðức Vương Minh thọ ký đạo vô
thượng Bồ Ðề. Này Xá Lợi Phất, như thế mới chính danh là chân tâm Bồ Tát.
Chư Bồ Tát dụng tâm như thế nên tích chứa được vô lượng vô biên Phật pháp.
Xá Lợi Phất, ông cho ma Thất Niệm là người nào lạ chăng? Chớ nghĩ như thế!
Trong đời quá khứ có Phật Câu San Ðề thuộc hiền kiếp (7) đã độ
thoát vô số chúng sanh rồi nhập Niết Bàn. Lúc đó Ðắc Niệm đâu phải người
nào lạ mà nay trong đại chúng đây chính là Kiên Ý Ðại Bồ Tát. Xá Lợi Phất,
lúc bấy giờ Ðắc Niệm đến trước cha mẹ rồi đứng qua một bên thưa cha mẹ
rằng, theo giáo pháp của Phật Ðức Vương Minh nay con muốn xuất gia, nên
đứng trước cha mẹ nói bài kệ rằng:
Con theo pháp
xuất gia
mẹ cha chớ
ngăn cản
Xuất gia Phật
tán thán
xứng đáng làm
chúng vui
Muốn được
hưởng đế vương
giàu thịnh
sanh cõi trời
huệ, công đức
tuyệt vời
chí xuất gia
không rời
Mẹ cha bậc tôn
quí
hành giữ giới,
bố thí
tạo công đức
thiện lợi
nên được làm
pháp vương
Ðiều thiện
muốn tăng cường
hành xuất gia
phương tiện.
Người đời thọ
phước tận
nẽo ác phải
đọa vào
tạo trọng tội
nghiệp báo
không thể gặp
Phật bảo.
Nếu người xã
phước dư
xuất gia việc
thiện giữ;
tám nạn lìa xa
thảy.
Thường gặp
Phật hoan hỷ
Gặp Phật tin
vững chí
tỏ bày niệm
kính tôn
Tâm quy thuận
thực hành
đạo vô thượng
chứng thành.
Nếu muốn lìa
các nạn
ác tri thức
lánh xa.
Theo con, hạnh
xuất gia
là niềm vui
đại chúng:
trời, rồng,
quỉ, thần tụng,
và càn thát bà
cũng
không thể nào
ngăn cản
khiến ta chẳng
xuất gia.
Nếu muốn ngăn
cản đà
tự chúng tạo
nghiệp tội
như voi chúa
hùng mạnh
tùy chúng muốn
phá quấy
Con nay cũng
thế ấy
trừ bỏ buộc
tham ái.
Ðoạn xong phải
xuất gia
không ai lay
chuyển cả.
Trọng ý con mẹ
cha
chấp thuận cho
xuất gia
Bên hữu đi
nhiễu xong
đến chỗ Phật
thong dong
Cầu Phật xuất
gia xong
Vô số chúng
đồng lòng
phát tín tâm
Bồ Ðề
theo vương tử
xuất gia
chính là thiện
tri thức
Vô số trưởng
giả khác
tin sâu nơi
Phật pháp
cũng đồng lòng
xuất gia.
Vua thấy con
lìa nhà
cũng phế bỏ
sơn hà
theo chân đám
quyến thuộc
tám mươi ức
người thân
bảy mươi na do
tha
nhất loạt đồng
xuất gia.
Bấy giờ bà phu
nhân
nghe vua đã
xuất gia
cùng tám vạn
dâm nữ
cũng muốn xuất
gia nữa
bèn theo chân
vương tử
mà phát tâm
Ðại Thừa
chí xuất gia
vui ưa
ai chẳng theo
thọ học.
Này Xá Lợi Phất, ông
cho rằng cha Ðắc Niệm gieo căn lành làm vua thuở trước là người nào lạ
chăng? Chớ nghĩ như thế mà đấy chính là ta đây. Lúc bấy giờ đức Thế Tôn
liền nói bài kệ rằng:
Lúc đó vua,
đại thần
đám dâm nữ,
người thân
hai vạn một
nghìn năm
đều tu hạnh
tịnh thanh
lúc mạng chung
Phật kia
Bảo chúng
miệng mỉm cười
ta thọ ký nhà
vua
Bổn hạnh
nguyện nói qua
Vua tu hành
phạm hạnh
phát nguyện
Ðại Thừa cao
các nạn chẳng
đọa vào
sanh nơi không
hiểm nạn
Vô lượng kiếp
vua quán
cúng dường chư
tôn Phật
trong hiền
kiếp hoàn tất
thành Phật
Thích Ca Văn
vua cùng với
thân bằng
Ðắc Niệm, tỳ
kheo tăng
nương theo
Thích Ca Văn
xuất gia làm
đệ tử
Tịnh giới hành
Phật sự
Chết lại được
thân người.
Sau khi Phật
diệt rồi
phân chia xá
lợi (8) khắp
nghĩ tới đời
mạt pháp (9)
lúc Phật pháp
sắp diệt
được nghe trọn
kinh điển.
Ta nay đã nói
kinh
Phật huệ làu
thanh tịnh
Trí sáng nói
lời thiện
hàm trong bao
ngôn luận
rốt ráo đều
chân thật.
Nếu người nghe
pháp Phật
tin kính nương
tu học
thì chẳng có
hồ nghi
ta chẳng được
thọ ký.
Có người ở mạt
thế
hiểu sâu pháp
nhẫn, huệ
suy nghĩ kỹ
như thế.
Ta nghe pháp
vương đây
Tỳ kheo, Tỳ
kheo ni
cùng người
thanh tín nữ
Tin sâu trong
pháp ngữ
Ta đều thọ ký
cho.
Lúc Phật nói
pháp xong
trong chúng
hội số đông
cả tám mươi ức
người
bảy mươi na do
tha
đều được nhẫn, nhu hòa
làm con đấng
Pháp Vương (10)
24 - Phẩm CHÁNH KIẾN thứ
hai mươi bốn
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn hỏi Xá Lợi Phất:
chánh kiến là nghĩa thế nào? Xá Lợi Phất đáp: chánh kiến là quán các pháp
không cao, không thấp, chỗ thấy không khác nên gọi là chánh kiến.
Chánh kiến những gì?
Mắt là Niết Bàn nên không lìa mắt mà có Niết Bàn. Mắt và Niết Bàn là hai
cái đồng nhau. Lấy gì cho là đồng? Chẳng phải mắt đồng với mắt; chẳng phải
Niết Bàn đồng Niết Bàn. Tại sao thế? Vì trong mắt không phải là mắt, trong
Niết Bàn không phải Niết Bàn. Trong con mắt không có Niết Bàn, trong Niết
Bàn không có mắt. Mắt và Niết Bàn không hai cũng không phải khác. Vì không
hai khác nên gọi là đồng nhau. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý... là Niết Bàn;
không thể lìa ý mà có Niết Bàn, cho nên ý và Niết Bàn là hai thể đồng
nhau. Lấy gì cho là đồng nhau? Chẳng phải ý đồng với ý, chẳng phải Niết
Bàn đồng Niết Bàn. Tại sao? Vì trong ý không phải ý, trong Niết Bàn không
phải Niết Bàn. Trong ý không có Niết Bàn, trong Niết Bàn không có ý. Ý và
Niết Bàn không hai cũng không khác. Như không phân biệt pháp tức là không,
không là đồng nhau, nên gọi là chánh kiến. Lại nữa Xá Lợi Phất, là chánh
kiến nên gọi chánh kiến. Trong cái chánh không có tà nên gọi là chánh
kiến. Hơn nữa, cái thấy ấy vô cùng tận nên gọi là chánh kiến. Thế nào là
mất chánh kiến? Này Xá Lợi Phất, trái ngược lại kinh điển không tin, không
thọ trì, đọc tụng, không theo đúng pháp thực hành là mất chánh kiến. Này
Xá Lợi Phất, phân biệt các pháp như thế gọi là mất chánh kiến. Tại sao? Vì
không phân biệt tức là chánh kiến. Như trong kinh nói: nếu đệ tử của các
bậc Thánh không niệm tướng đất, cũng như không nghĩ tới đất đây đất kia,
ta trong đất, đất trong tă; cũng không nghĩ tới những chất nước, gió, lửa
khác. Không nghĩ tới các cõi trời Phạm Thế, Quang Âm, Biến Tịnh cũng không
nghĩ tới các trời Quảng Quả, Vô Cuồng, Vô Nhiệt, Không Xứ, Thức Xứ, Vô Sở
Hữu Xứ, Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng. Không nghĩ tới Niết Bàn, cũng không
nghĩ tới đây kia là cảnh Niết Bàn mà Niết Bàn chính trong ta, ta trong
Niết Bàn. Này Xá Lợi Phất, chánh kiến không có hết thảy vật gì để thấy cả.
Tại sao? Vì có sở kiến cũng là tà kiến. Không hết thảy vật gì thấy tức là
chánh kiến. Này Xá Lợi Phất, chánh kiến không thể nói là thấy được. Tại
sao thế? Vì tất cả lời nói chỉ là âm thanh trống rỗng, do người tham chấp
mà có thôi. Này Xá Lợi Phất, cũng như chỗ biết của Như Lai là chánh kiến,
vì trong cái thấy biết của Như Lai không có tà kiến. Tại sao? Vì tất cả
lời nói đều có bên trong, nên không nói ra lời nói cũng vậy. Xá Lợi Phất,
tất cả nghiệp của thân cũng thế, đều có sẵn bên trong, không chánh không
tà, không có phân biệt. Này Xá Lợi Phất, tất cả nghiệp đều ở trong thân,
chẳng chánh, chẳng tà, không có phân biệt. Tất cả nghiệp báo cũng có sẵn
bên trong như nghiệp chuyên nói chẳng hạn, nên Như Lai nói lời chân thật.
Ngài nói thế nầy: nếu có tạo nghiệp chắc chắn có nghiệp báo. Nghiệp báo
theo nghiệp vậy. Như thế này Xá Lợi Phất, ấy là trí phân biệt trong năm
đường (11). Trí phân biệt trong năm đường ấy đều là phi trí,
tất cả năm đường đều do phi trí sanh. Này Xá Lợi Phất, Bồ Tát nghe thế
không nên kinh sợ mà lui sụt đạo tâm. Xá Lợi Phất, có bốn loại pháp, nếu
quen gần gũi sẽ tăng thêm ngu si, không phát sanh trí huệ. Những gì là
bốn?
1) Ðọc
tụng kinh điển ngoại đạo tăng thêm ngu si không sanh trí huệ
2) Thân
cận tu tập các pháp tà kiến tăng thêm ngu si không sanh trí huệ
3) Ưa
việc quyết đoán tăng thêm ngu si không sanh trí huệ
4) Xa các pháp mầu nhiệm, cùng
pháp không, tương ưng; không thọ trì, đọc tụng, cũng không có chánh quán,
tăng thêm ngu si không sanh trí huệ. Ðó là bốn pháp.
Này Xá Lợi Phất, trái
với bốn pháp này thì phát sanh trí huệ nên phải tu tập. Những gì là bốn?
1) Tu tập
chánh kiến nên đoạn tà kiến. Ðó là pháp thứ nhất dứt trừ ngu si phát sanh
trí huệ.
2) Nếu có
đọc tụng kinh điển ngoại đạo phải giữ hạnh thanh tịnh, nên xa lìa, không
nên mắc kẹt trong đó. Ðây là pháp thứ hai phá trừ ngu si phát sanh trí huệ
3) Xá Lợi
Phất, như có nhiều nơi, có người ưa quyết đoán, phải giữ hạnh thanh tịnh,
không nên cùng ở chung. Nếu muốn ở chung chỉ nói tới việc đạo, chớ bàn
việc tạp phi pháp để trừ sự quyết đoán, hầu an ổn đồng hành; cũng như đánh
bạt những điều phi pháp, trong tăng hòa hợp không làm tan rã. Ðó là pháp
thứ ba phá trừ ngu si phát sanh trí huệ.
4) Xá Lợi
Phất, gần gũi những kinh điển cao siêu nhiếp tâm, nghe xong liền thọ trì,
tu hành đúng pháp. Vì người truyền bá làm cho giáo pháp tồn tại lâu dài.
Ðó là pháp thứ tư phá trừ ngu si phát sanh trí huệ. Như trên đó gọi là bốn
pháp. Này Xá Lợi Phất, pháp của Bồ Tát là thực hành sâu với tâm hổ thẹn,
giữ gìn giới luật thanh tịnh, không tạo nghiệp. Bồ Tát phải sanh tâm không
sợ sệt phát nguyện trang nghiêm. Bồ Tát thường hay tu hạnh của bậc đại
nhơn chuyên cần tinh tấn, không biết mỏi mệt.
25- Phẩm CA NGỢI GIÁO
PHÁP thứ hai mươi lăm
Phật bảo Xá Lợi Phất, nếu Bồ Tát hộ trì
chánh pháp phải thông suốt lý luận chân chánh, học hỏi nơi đệ tử của ta,
lúc bấy giờ Như Lai rất là vui mừng. Tại sao thế? Vì kế thừa Phật chủng
nên các đệ tử Thanh Văn phải vì Bồ Tát mà diễn thuyết chánh pháp dạy người
lợi lạc, được vô lượng vô biên phước đức.
Này Xá Lợi Phất, như
chúng đệ tử ta là Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, nghĩ tới Phật,
nghĩ tới giáo pháp, cũng như nghĩ tới Như Lai, vì cầu pháp mà chịu cần khổ
trong vô số kiếp. Do nghĩ thế nên vì Bồ Tát mà thuyết pháp, cho dù một bài
kệ. Lại suy nghĩ rằng, chư Bồ Tát hoặc nghe pháp, hoặc chỉ dạy làm lợi lạc
cho ngườinên gieo căn lành, tu tập Phật pháp, đạt được vô thượng chánh
đẳng chánh giác, là trừ được vô số các khổ não sanh tử của chúng sanh từ
vô thỉ mà thuyết pháp để được phước đức. Giả sử bốn loài hữu tình trong
trời đất, hễ có chúng sanh đều được thân người. Ðối với phước này mỗi
chúng sanh đều được một phần lớn như núi Tu Di mà phước đức ấy vẫn không
hết được. Lại nữa, này Xá Lợi Phất, đem bốn châu thiên hạ, hoặc tiểu
thiên, trung thiên, đại thiên thế giới có chúng sanh, hoặc có hình, vô
hình, có tưởng, chẳng tưởng, chẳng phải không tưởng khiến trong một lúc
được thân người; mỗi mỗi cầm một thứ binh khí lớn như núi Tu Di mà đi, do
phước đức đầy đủ nên không thể nào hết được
Này Xá Lợi Phất, các
đệ tử của ta là chúng Tỳ Kheo, Tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, được Bồ
Tát nói một bài kệ bốn câu, chỉ chỗ lợi lạc được phước đức vô lượng. Xá
Lợi Phất, các vị Bồ Tát ấy, nếu biết những người này và vì họ mà thuyết
pháp được lợi lạc vô cùng, nên được thành tựu Phật pháp như thế, là làm
tăng trưởng trí huệ giác ngộ. Nếu dùng đầu đội vai mang tất cả đồ ưa thích
cung cấp cho đến khi thành đạo vô thượng Bồ Ðề, trước hết là thuyết pháp
cho họ nhận rõ tứ đế (12). Này Xá Lợi Phất, chư vị Bồ Tát tuy
cung cấp lợi ích như thế, song cũng chưa báo ân được. Tại sao thế ? Do
người này còn thấy có vô lượng Phật pháp nên biết vì chư Bồ Tát mà giảng
pháp, ân đức họ thật khó báo đáp. Xá Lợi Phất, lui về quá khứ lâu xa số
kiếp, lúc bấy giờ có đức Phật hiệu là Phổ Thủ Như Lai, ứng cúng, chánh
biến tri, minh hạnh túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự
trượng phu, thiên nhơn sư, Phật Thế Tôn thọ bảy vạn tuổi. Phật có ba đại
hội chúng Thanh Văn; hội thuyết pháp lần đầu tiên có tám mươi vạn người
đều được chứng quả, hội thuyết pháp thứ nhì có sáu mươi vạn, và hội thuyết
pháp sau cùng có bốn mươi vạn người cũng được thành đạo chứng quả.
Này Xá Lợi Phất, sau
khi Phật Phổ Thủ diệt độ chánh pháp lưu hành trong 4000 năm. Lúc giáo pháp
sắp diệt có một tỳ kheo tên là Diệu Trí thông minh trí huệ, hiểu rộng nghe
nhiều, cũng lúc đó cõi Diêm Phù Ðề có vị vua tên là Hoan Hỷ, vua ở tại một
thành cũng tên là Hoan Hỷ. Thành ấy bề dài mười hai do tuần, rộng bảy do
tuần. Nhân dân trong thành được đầy đủ phú cường, yên tịnh. Lúc ấy trong
thành có một trưởng giả tên là Nhu Nhuyến, trưởng giả có người con tên là
Lợi Ý, tìm đến chỗ Diệu Trí rồi ngồi sang một bên. Lúc đó tỳ kheo Diệu Trí
nói pháp Ðại Thừa cho nghe. Con ông trưởng giả nghe pháp tâm rất hoan hỷ,
liền đem áo quí đáng giá một ức đồng tiền vàng cúng dường cho tỳ kheo và
nói thế này: lành thay pháp sư, nói pháp vi diệu, mong Ngài chiếu cố đến
nhà tôi nói pháp ấy để chúng tôi được nhiều lợi ích mà pháp sư bố thí pháp
cũng được quả tốt. Kể từ hôm nay trở đi tôi xin dốc lòng cúng dường y
phục, đồ ăn uống, thuốc thang, những thứ đồ dùng cần thiết và đồng ý theo
làm đồ đệ của Pháp sư. Tỳ kheo Diệu Trí nói: lành thay! Tôi cũng dốc lòng
cúng dường cung cấp. Lúc đó con ông trưởng giả lạy sát dưới chân rồi theo
sau Diệu Trí về nhà, và Diệu Trí giáo hóa Lợi Ý. Cha mẹ thân quyến Lợi Ý
đều có chí cầu đạo vô thượng Bồ Ðề. Con ông trưởng giả nhờ phước đức ấy
trải qua vô số kiếp chưa từng rời xa Phật, thường được nghe pháp và gặp
được các bậc thiện tri thức. Này Xá Lợi Phất, ông cho rằng Lợi Ý đó là
người nào lạ chăng? Ðừng nghĩ như thế mà chính là ta đây. Còn cha Lợi Ý,
trưởng giả Nhu Nhuyến là Phật Ca Diếp đấy. Này Xá Lợi Phất, ông có nghĩ
rằng cha mẹ Lợi Ý, người nhà và thân quyến đối với đạo vô thượng có thối
chuyển không? Chớ nên nghĩ thế. Tại sao vậy? Vì những người ấy đã cương
quyết trong đạo Bồ Ðề, nay họ ở chỗ ta tu hành phạm hạnh nên được thọ ký
đạo vô thượng Bồ Ðề. Này Xá Lợi Phất, tỳ kheo Diệu Trí ở trong thân kia mà
được Niết Bàn. Nếu tỳ kheo không theo pháp Tiểu Thừa nhập Niết Bàn, chỉ vì
Lợi Ý mà thuyết pháp cho một người, nhờ phước đức nhân duyên ấy được thành
Phật đạo, huống là vì trưởng giả Nhu Nhuyến và thân quyến mà thuyết pháp
phước đức biết chừng nào! Xá Lợi Phất, nếu tỳ kheo không nhập Niết Bàn,
không thấy rõ người đời cúng dường đầy đủ tất cả những vật dụng cần thiết
để tìm cách báo ân. Tại sao thế ? Vì ta được nghe pháp từ tỳ kheo Diệu Trí
nên chóng đạt được Phật pháp thanh tịnh nhiệm mầu. Vì thế, ông nên biết,
nếu người nào vì Bồ Tát mà nói pháp chỉ dạy điều lợi lạc chắc chắn sẽ được
vô lượng phước báu. Tại sao thế? Vì Bồ Tát phát tâm là để làm vô số những
việc lợi ích ấy. Này Xá Lợi Phất, cũng như đại dương từ sông mà thành; nên
biết bảo châu ma ni có giá hay vô giá đều từ đại dương mà có. Bồ Tát phát
tâm cũng như thế, lúc đầu từ từ rồi mới có trí huệ sáng phát sanh, trí thế
gian hay xuất thế gian, hữu lậu hay vô lậu, hữu vi hay vô vi; tất cả các
pháp hoặc sạch hoặc dơ. Xá Lợi Phất, cũng ví như đại dương lúc đầu là
sông, nên biết lấy thân chúng sanh làm chỗ tạo tác, và từ đó được sanh
trưởng, nuôi dưỡng thêm xinh đẹp. Bồ Tát phát tâm cũng như thế, lúc mới
đầu từ từ rồi thành vô lượng vô số thân đại trí huệ, thân đại thiện căn,
lấy thân chúng sanh làm chỗ nương tựa, đều nương từ từ mà tăng trưởng. Xá
Lợi Phất, ví như nước biển lúc đầu là chỗ trú ẩn của đại long vương; những
đại long vương ấy không bị nuốt trửng đôi cánh vàng trong khi lướt gió
cũng không bị biển làm hại. Các đại long vương từ đại dương xuất hiện có
thể nổi mây lớn che trùm khắp tám vạn châu, phun nước tung toé mà không
chảy tràn. Này Xá Lợi Phất, Bồ Tát phát tâm cũng như thế, lúc đầu từ từ
rồi thành Phật đạo, lấy rồng Ðại Bồ Tát làm chỗ nương tựa. Ðại long vương
ấy không bị nuốt trửng đôi cánh vàng; nếu Bồ Tát trụ sâu trong Phật pháp
bọn chúa ma, dân ma không thể nào xuất hiện làm hại. Ðại long vương không
bị đôi cánh vàng tung gió làm hại, nếu muốn hại liền bị tiêu diệt ngay. Bồ
Tát cũng thế, chúa ma, dân ma không thể nào làm hại được. Nếu có tâm làm
hại thì liền bị tiêu diệt ngay; tiêu diệt ma buộc, việc ma, ma nghiệp...
Này Xá Lợi Phất, đại
long vương xuất hiện từ đại dương trong bốn châu thiên hạ và trong tám vạn
châu để chan rải trí huệ thấm nhuận xuống khắp cỏ cây rừng rậm, trăm thứ
hoa màu, cây thuốc đều được sanh trưởng; cũng làm cho loài chúng sanh có
hai chân, bốn chân... không còn tưởng đến đói khát nữa. Rồng làm mưa xong
trở về cung rồng. Rồng Ðại Bồ Tát cũng như thế, từ pháp Phật mà ra nên ở
trong bốn nghìn đại thiên thế giới, những thành ấp, thôn trang được mưa
đại pháp rưới khắp, có thể đoạn trừ ba thứ khát ái: dục ái, sắc ái và vô
sắc ái của vô số chúng sanh. Xá Lợi Phất, cũng như đại dương lúc đầu thành
hình cũng phải ở trong bốn châu thiên hạ và trong tám vạn châu khác. Có
những nơi có nước lưu chuyển như mưa lớn, mưa nhỏ, nước của sông hồ, thác
suối đều chảy vào biển cả; biển dung nhận được tất cả mà vẫn không tăng
không giảm như biển pháp có nhiều loại nước đổ vào đều mất hút trong đó,
chỉ còn là nước biển, mất hết mùi vị chỉ còn là vị mặn. Bồ Tát phát tâm
cũng thế, từ đầu muốn đạt được đạo vô thượng Bồ Ðề phải đầy đủ Phật pháp,
rồi nhờ trí huệ mà trừ nghi chúng sanh. Các vị đại luận sư có đủ thiện căn
phước đức trí huệ đã thành tựu; nếu chưa thành, Phật vì họ mà trừ nghi đều
mất hết tên riêng mà chỉ gọi là đệ tử của Phật. Như nước đại dương chỉ có
một vị mặn. Các đệ tử của ta đều được lìa dục nên chỉ có một vị giải
thoát.
Này Xá Lợi
Phất, như nước biển từ từ rồi mới sâu dần. Nếu nước biển từ bờ đã sâu
những kẻ tìm châu báu không thể vào được. Vì biển cả từ từ sâu đến vô cùng
nên thành đại dương. Tâm của Bồ Tát cũng thế, lúc đầu nông cạn rồi dần dần
sâu cho đến vô cùng. Này Xá Lợi Phất, tâm Bồ Tát thậm thâm do hành ba la
mật: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định. Vì sâu thẳm nên
gọi là ‘ba’hoặc ba la mật, vì thế Phật pháp mầu nhiệm vô
cùng... Này Xá Lợi Phất, Bồ Tát đạo trên thực tế lúc đầu đã thâm diệu, nên
vô số chúng sanh cầu pháp mầu đều không thể vào được. Xá Lợi Phất, cũng
như đại dương sở dĩ thành, vì đem lại được nhiều lợi ích cho tất cả quốc
giới. Bồ Tát phát tâm cũng thế, từ lúc đầu vì lợi ích cho tất cả thế giới.
Xá Lợi Phất, cũng như đại dương lúc đầu đã có ngọc báu. Bồ Tát phát tâm
cũng thế, lúc đầu từ bốn niệm xứ (xem chú thích trước), bốn chánh cần
(13), bốn như ý túc (14), năm căn, năm lực (15),
bảy trợ đạo Bồ Ðề (16), bát chánh đạo và các môn thiền định,
giải thoát pháp bảo tam muội.
Xá Lợi Phất bạch Phật,
thật hy hữu thay, đức Thế Tôn! Phật khéo dẫn các thí dụ về đại dương chỉ
rõ Bồ Tát phát tâm được phước đức vô lượng. Phật bảo Xá Lợi Phất, tâm Bồ
Tát không thể nào ví như đại dương được, ông nên biết. Tại sao? vì Bồ Tát
phát đại nguyện trang nghiêm sâu xa, nếu Như Lai nói phước đức của Bồ Tát
mãn một kiếp hay hơn một kiếp cũng không thể nào hết được. Tại sao thế? vì
chư Bồ Tát phát tâm nguyện như thế nên thành tựu việc lớn thâm sâu cao
đại, khó ai hơn, không gì hoại được, có thể ban cho chúng sanh tất cả điều
vui; chuyển cái khổ của ba cõi thành đại trí huệ nên rất khó lường chỗ cạn
sâu, không bị chướng ngại, được đại quang minh. Xá Lợi Phất, nói cách vắn
tắt tâm Bồ Tát trở thành vĩ đại nói không thể nào hết được. Xá Lợi Phất,
ví như cõi tam thiên đại thiên như ta biết lúc đầu có chỗ nương tựa chung
cho tất cả chúng sanh. Bồ Tát cũng như thế, lúc đầu phát tâm vô thượng Bồ
Ðề là vì muốn cho vô số chúng sanh được trí huệ. Xá Lợi Phất, ví như núi
chúa Tu Di lúc mới thành hình, là chỗ nương tựa của vô số chư thiên, vì
sơn vương ở các cõi trời Ðao Lợi quấy phá bọn a tu la. Bồ Tát cũng thế,
lúc đầu phát tâm vô thượng Bồ Ðề, tu hành, thành Phật là để làm điểm tựa
cho vô số chúng đệ tử, như trời Ðao Lợi nhờ Núi Tu Di mới có thể quấy phá
được chúng a tu la; cũng như chúng sanh nhờ Như Lai nên diệt được bọn ma.
Xá Lợi Phất, như núi chúa Thiết Vi mới đầu trong đó đã có các chúng sanh
bị khuất lấp bởi tám ngọn gió (17) dữ nên không thể làm hại
được. Bồ Tát cũng như thế, lúc đầu phát tâm vô thượng Bồ Ðề, rồi dần dần
kiên cố khó lường; nên biết vì thân cận Bồ Tát, chúng sanh bị các ma
chướng ngăn che cũng không thể nào quấy phá được. Xá Lợi Phất, như núi
Tuyết lúc mới thành hình đã có những loại cỏ thuốc sanh trưởng trong đó.
Bồ Tát cũng như thế, lúc đầu vì vô số chúng sanh mà học các phương thuốc
để diệt trừ phiền não. Xá Lợi Phất, cũng như ngọc báu là để làm một phần
lợi ích cho vô số trăm nghìn vạn ức chúng sanh. Bồ Tát cũng như thế, ngay
từ lúc phát tâm đã khởi tánh trí huệ cao quí, vì làm một phần lợi ích cho
vô số chúng sanh trong a tăng kỳ kiếp. Xá Lợi Phất, cũng như mặt trời lúc
đầu thành hình phải chiếu ánh sáng đến bốn châu thiên hạ, và tám vạn các
châu khác đều được nắng ấm. Bồ Tát cũng như thế, từ lúc đầu phát tâm rồi
dần dần tăng trưởng cho đến khi thành quả vị Phật, phải biết vì chúng sanh
trong ba nghìn đại thiên thế giới mà soi sáng Phật pháp; cũng có thể làm
khô cạn những tham ái, sân giận, phiền não tràn trề. Xá Lợi Phất, cũng như
ao A Nậu Ðạt lúc mới đầu là chỗ nương tựa của rồng A Nậu Ðạt; rồi từ bờ
chảy ra bốn sông lớn đều làm lợi ích cho những loài chúng sanh hai chân
hoặc bốn chân trừ hết khát, sanh ra châu báu rồi dần dần chảy vào đại
dương. Giáo pháp Ðại Thừa lúc đầu cũng như thế, tất cả Bồ Tát đều nhân
"thừa" này mà tu tập Phật pháp để đạt vô thượng Bồ Ðề thì có thể lưu
chuyển trong bốn sông đại pháp, là nghĩa vô ngại, pháp vô ngại, lời nói vô
ngại, biện tài vô ngại; không vô tướng, vô nguyện, tám mặt bỏ vị năm căn,
năm lực, bảy giác chi, tám chánh đạo, vô số chúng sanh nghe những pháp ấy
để diệt sạch phiền não, vĩnh viễn xa lìa đời sống để chứng đạo. Như thế,
Xá Lợi Phất, chư Bồ Tát lúc đầu phát tâm rồi dần dần có thể thành rộng lớn
khó ai hơn, không thể nào hoại diệt, là những việc vi diệu vô cùng, cũng
vì sự lợi ích cho vô số chúng sanh làm cho chúng phát tâm vô thượng Bồ Ðề.
Xá Lợi Phất, Như Lai tuy nói lời như thế nhưng không thể nói hết được. Vì
thế nên biết, có người vì Bồ Tát mà nói pháp, chỉ dạy làm cho lợi lạc được
vô lượng công đức không thể tính đếm hết được. Xá Lợi Phất, ta dùng Phật
nhãn quán xét phước báu này thấy không có bờ mé, mà tùy theo "thừa" gì để
đạt đến, như có người gieo căn lành Phật chủng cho đến khi đạt được quả
Niết Bàn, giữa chừng không thể nào hết được. Xá Lợi Phất, lui về đời quá
khứ có một vị Bồ Tát tên là Lạc Pháp sanh vào giòng vua chúa do nghe được
lời thiện lành nên đọc tụng, biên chép. Lúc ấy vương tử muốn cầu pháp nên
đi tìm thầy khắp nơi, có một người đang ở trong một cái hang sâu nói với
Lạc Pháp rằng, vương tử đến đây tôi xem tướng và nói Phật kệ cho. Lúc ấy
người kia lên trên miệng hang gọi Lạc Pháp mà nói rằng: ô hay nam tử! ông
hãy nghe ta nói Phật kệ. Người ấy nói: chẳng có cái không tướng nào đáng
giá cả. Lạc Pháp Bồ Tát thân mặc y báu, y này đáng giá hai mươi ức tiền
vàng, dùng ngọc ma ni, anh lạc đeo cổ, những ngọc báu ấy đáng giá bốn mươi
ức tiền vàng. Người kia thấy ngọc báu liền khởi lòng tham muốn, nghĩ thế
này: nếu vương tử cho ta áo châu ma ni, và chuổi anh lạc, sau đó ta mới
nói Phật kệ cho nghe. Lúc đó vương tử hỏi người kia rằng, phải đưa vật gì
cho, ông mới nói Phật kệ? Lòng tham của người kia lại càng bừng bốc hơn
lên nên nói với Bồ Tát rằng, nếu Ngài cho tôi y báu đang mặc và chuỗi anh
lạc đang đeo, sau khi nghe Phật kệ xong lại chui vào hang sâu này; và như
thế nên thề trước, rồi sau tôi sẽ nói cho ông một bài kệ. Vương tử đáp
rằng, ô hay nhơn giả! Ông muốn tôi chui vào trong hang sâu này có được lợi
gì? Người kia trả lời: tôi không được lợi gì cả, chỉ sợ Ngài bỏ chiếc y
báu và chuỗi anh lạc, sau khi nghe kệ xong sanh tâm hối tiếc, dựa vào thế
lực mà chiếm đoạt của tôi. Vương tử trả lời; ông chỉ đoán thôi, ta hoàn
toàn không hối tiếc. Người kia liền nói: nếu không thề dứt khoát nên biết
rằng tâm ông sẽ hối hận. Bồ Tát lại nói: ông chỉ nói thôi, xem tướng người
còn tùy nữa chứ. Ta cho ông y báu và chuỗi anh lạc, cũng như sẽ vào hang
sâu. Người kia nghe xong liền vì Bồ Tát mà nói một bài Phật kệ. Lúc đó Bồ
Tát cho y báu ma ni và chuỗi anh lạc, phát lời thề rằng: nếu tôi thành tâm
xả y báu và chuỗi anh lạc này mà lòng không hối tiếc - đây là lời chân
thật - thì tôi từ trên cao rơi xuống vẫn được đứng yên một chỗ không bị
thương tích. Thề xong Bồ Tát tự gieo mình xuống chưa tới đất có bốn vị
thiên vương đến đỡ xuống đất. Ðặt xuống đất xong bảo rằng, người này thật
hy hữu thay! Kệ của Phật mầu nhiệm cao siêu thật là lợi ích. Những vị ấy
từ trên cao xuống chỗ Bồ Tát nói thế này: vương tử thật ít có, làm việc
khó như thế là muốn cầu pháp gì? Bồ Tát trả lời: tôi nhờ pháp này nên được
vô thượng Bồ Ðề, đến khi thành Phật xong, những ai chưa độ sẽ được độ,
chưa giải thoát được giải thoát, chưa diệt được diệt, chưa an làm cho được
an.
Xá Lợi Phất, người kia
nghe xong liền phát lòng tin, nói với Bồ Tát rằng, xin trả lại y báu và
các thứ ngọc báu. Tại sao thế? Vì Ngài mặc y báu, đeo chuỗi anh lạc chính
là để trang nghiêm thân. Bồ Tát đáp rằng, đây không phải như vậy, như
người nôn ói, ói ra rồi đâu có thể ăn trở lại được nữa. Người kia nói:
nếu như Ngài không nhận y lại thì cho tôi xin tạ lỗi, sau khi thành Phật
xin cứu độ tôi với. Xá Lợi Phất, ông nghĩ rằng vương tử Lạc Pháp lúc đó
làm một bài kệ xong, cởi y báu nơi thân và chuỗi ngọc ma ni cho người kia
xong, rồi một mình chun vào hang sâu, đâu phải người nào lạ chăng? Chớ
nghĩ như thế mà chính là ta đây. Lúc bấy giờ người kia vì ta nói bài kệ ,
sau đó do ta mà phát lòng tin, nói như thế này: khi Ngài thành Phật nên độ
tôi, đâu phải người nào lạ chăng? Chớ suy nghĩ như thế, mà nay chính là tỳ
kheo Hòa Già Lợi đấy. Xá Lợi Phất, ta đã từng một thời cùng chư tỳ kheo ở
nơi khe suối sâu dạo chơi giữa trời đất bao la. Lúc ấy Hòa Già Lợi ở trên
bờ cao nghe ta gọi một tiếng liền phóng mình nhảy xuống. Vì tin lời Phật
nên tự phóng mình mà không bị thương tích nhờ có được sáu phép thần thông.
Xá Lợi Phất, ông chớ
nên xem lực thiện căn ấy mà cho rằng người kia vì ta chỉ nói một bài kệ,
vì tin lời ta nên đích thân quy y và nay được giải thoát. Xá Lợi Phất,
người kia do gốc lòng tham mà gieo trồng căn lành còn được lậu tận
(18) huống gì có người tín thọ lời ta, hiểu rõ Phật tuệ, nói pháp
Ðại Thừa chỉ một bài kệ bốn câu chỉ dạy điều lợi lạc, ta không thấy phước
đức đây hết, trừ khi nhập Niết Bàn.
26- Phẩm
HỦY HOẠI thứ hai mươi sáu
Xá Lợi
Phất bạch Phật rằng, bạch Thế Tôn: nếu có người vì Bồ Tát mà thuyết một
bài kệ bốn câu để chỉ dạy sự lợi lạc, giúp đạt đến thành Phật được phước
đức vô lượng. Nếu có người vì muốn phá hoại tâm Bồ Tát, ngăn cản làm trở
ngại phải nói cho người ấy biết có bao nhiêu tội. Tại sao thế? Vì cố ý phá
hoại nên loạn động dấy lên, nghe tội như thế phải sửa đổi ngay
Phật bảo Xá Lợi Phất,
nếu người nào phá hoại tâm Bồ Tát thì bị vô số tội. Như người muốn phá
viên ngọc vô giá, chính kẻ ấy đã mất vô số tài lợi. Như thế thì, này Xá
Lợi Phất, nếu người phá hoại tâm Bồ Tát thì làm hủy diệt luôn vô lượng
pháp bảo. Này Xá Lợi Phất, ví như trồng cây thuốc rồi có kẻ đốn chặt làm
cho cây không lớn nổi, kẻ ấy cũng phá luôn những cách trị liệu bịnh cho vô
số chúng sanh, làm cho phần nhiều chúng sanh bịnh tình càng thêm nguy
kịch. Như thế, Xá Lợi Phất, nếu người muốn phá hoại tâm Bồ Tát - tâm đại
an lạc - thì diệt luôn tâm phương thuốc đại trí của vô số chúng sanh mang
bịnh khổ. Người ấy cũng làm cho vô lượng vô số chúng sanh vì những món
tham-sân-si-kiêu mạn, keo kiệt, ghét ganh, dèm pha, không biết hổ, chẳng
biết thẹn thì, bị những cơn bịnh phiền não làm hại; cũng như làm cho vô số
chúng sanh trong a tăng kỳ kiếp mất chỗ trụ an ổn ở Niết Bàn. Xá Lợi Phất,
nếu người phá hủy ao A Nậu Ðạt là giết đại long vương, nên biết rằng kẻ ấy
làm hủy hoại chúng sanh hai chân, bốn chân khao khát nước tám công đức.
Như thế Xá Lợi Phất, nếu người quấy loạn tâm Bồ Tát cũng hủy diệt luôn vô
số chúng sanh đang thèm khát nước bát thánh đạo. Này Xá Lợi Phất, nếu có
người phá hủy mặt trời người ấy làm tiêu luôn ánh sáng của chúng sanh
trong bốn châu thiên hạ. Như thế Xá Lợi Phất, nếu có người quấy nhiễu tâm
Bồ Tát, nên biết rằng người ấy cũng hủy diệt luôn ánh sáng giác ngộ của
tất cả chúng sanh trong mười phương thế giới. Xá Lợi Phất, như người phá
hủy chất ngọc báu, nên biết kẻ ấy cũng phá luôn vô số trân bảo của chúng
sanh. Như thế Xá Lợi Phất nếu người quấy nhiễu tâm Bồ Tát, nên biết rằng
kẻ ấy phá luôn phần pháp bảo của vô số chúng sanh; cũng như làm hủy diệt
hết các kinh điển làm cho không còn lưu hành nữa. Này Xá Lợi Phất, cũng
như từ ngọc báu làm ra đủ món đồ cung cấp cho chúng sanh. Cũng thế Xá Lợi
Phất, tâm chư Bồ Tát là tánh pháp bảo; từ pháp bảo sanh Phật pháp không
thể suy cùng thần thông trí lực. Vì thế, Xá Lợi Phất, ông nên biết rằng,
phá hoại tâm Bồ Tát tạo vô lượng vô biên tội báo sâu dày. Xá Lợi Phất, như
có kẻ ác tâm làm cho thân Phật chảy máu, hoặc có người phá giới không tin
nên hủy hoại, xa lià tâm Bồ Tát tội càng sâu dày.
Xá Lợi Phất, kẻ dùng
ác tâm làm cho thân Phật ra máu, ta gọi đủ là phạm năm tội vô gián
(19), nếu người hủy hoại tâm Bồ Tát tội còn nặng hơn thế nữa. Tại
sao thế? Vì tạo năm tội vô gián chỉ phá hoại pháp của một đức Phật; còn
người hủy hoại tâm Bồ Tát là làm đoạn diệt Phật pháp. Xá Lợi Phất, như
người giết bò là làm tiêu hủy mở bò và sữa bò. Như thế Xá Lợi Phất, nếu
người phá hủy tâm Bồ Tát là làm đoạn diệt Phật tuệ. Vì thế, Xá Lợi Phất,
nếu người phá giới không tin, mắng rủa làm hủy hoại tâm Bồ Tát thì, nên
biết rằng tội đây còn hơn năm tội vô gián kia. Xá Lợi Phất, tội vô gián là
nếu có một người nào trong bốn châu thiên hạ giết hại các bậc A La Hán. Ý
ông nghĩ sao? Người ấy đắc tội có nặng không?
- Rất
nặng, thưa Thế Tôn, Xá Lợi Phất nói.
- Phật
bảo: Nay ta cho ông hay, nếu người nào làm hại quấy loạn Bồ Tát làm cho
tín tâm họ xa lià tâm Bồ Tát là làm mất Phật tuệ, nếu đem so với tội
trước thì trăm phần, nghìn phần, trăm nghìn vạn phần không bằng một, cho
đến dùng thí dụ cũng không thể sánh bằng. Tại sao thế? Tuy giết bậc A La
Hán như thế mà không làm cản trở mười lực của Phật, bốn vô sở úy (20),
bốn trí vô ngại (21), 18 pháp bất cộng, đại từ đại bi chẳng hư
hạnh Phật, không làm trở ngại phép quán vô kiến đảnh tướng, như sư tử hùng
mãnh tượng vương của Như Lai, không làm ngăn cản tiếng thổi trăm ngàn loại
pháp cụ của Phật, cũng không làm phương hại đến việc truyền bá chánh pháp
vô thượng, không làm cản trở thần lực thánh chúa tự tại; cũng không làm
cản trở trí huệ nhận biết các căn lợi, độn (22) của chúng sanh
có mỗi mỗi dục lạc khác nhau.
Này Xá Lợi Phất, như
Bồ Tát phát tâm vô thượng Bồ Ðề thành Ðại Thừa bằng thệ nguyện kiên cố
trang nghiêm, nếu có kẻ đến quấy phá làm lui sụt đạo tâm thì, kẻ ấy làm
cản trở mười lực của Phật làm cho không thể biết được mọi dục nhiễm của
chúng sanh. Xá Lợi Phất, bốn châu trong khắp tam thiên đại thiên thế giới
có các bậc A La Hán như cỏ cây, lúa mè, rừng cây mà có một người tới đoạt
mạng các vị ấy thì, ý ông nghĩ sao? Người ấy đắc tội có nặng chăng? Rất
nhiều, thưa Thế Tôn. Xá Lợi Phất, lại có kẻ mang tâm sân hận, khinh mạn,
phá giới không tin, quấy loạn tâm Bồ Tát kẻ ấy đắc tội chỉ có Phật mới
biết được. Tại sao thế? Vì kẻ ấy quấy phá tâm Bồ Tát cũng hủy diệt luôn cả
Phật pháp và đoạn dứt Phật chủng. Tại sao thế? Vì nếu không có Bồ Tát sơ
tâm làm sao có Phật tuệ, Phật lực tự tại xuất hiện ở đời. Vì thế, Xá Lợi
Phất, so sánh tâm vô thượng, đại tâm, thâm tâm, tâm Bồ Tát, tỳ kheo, tỳ
kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, trời, rồng, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca
lâu la, khẩn na la, ma hầu la dà (23), nhơn, phi nhơn... hết
thảy thế giới đều nên kính lễ. Tại sao? Vì người có tâm Bồ Tát thì biết
chắc sẽ là vị Phật tương lai. Xá Lợi Phất, ý ông nghĩ sao? Như Lai tán
thán tâm Bồ Tát như thế, có phân biệt thứ loại tên gọi chúng sanh như dòng
Sát Ðế Lợi, Bà La Môn, đại cư sĩ, dòng vua Chuyển luân thánh vương, trời
Tứ thiên vương, trời Thích Ðề Hoàn Nhân hoặc trời Ðao Lợi, Diệm Ma thiên,
Ðâu Suất Ðà thiên, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa, trời Tự Tại hay Phạm Thiên
vương chăng? Không thể có, thưa Thế Tôn. Tại sao thế? Vì Thế Tôn chỉ nói
với tâm thanh tịnh, đại tâm, thâm tâm như thế thôi. Ý ông nghĩ sao? Nếu ta
tán thán tâm ấy có thể nói hoặc đại lực sĩ có sức mạnh phi thường... hoặc
trẻ, già, giàu, nghèo, có người cao quí, kẻ hạ tiện chăng? Không thể có,
thưa Thế Tôn.
Này Xá Lợi Phất, ông
thấy tâm trụ ở một chỗ nên phân biệt có trẻ, già, giàu, nghèo, kẻ có thế
lực, người không thế lực, các vị đều nên tôn kính ủng hộ, trợ lực cho họ,
vì hàng Thanh Văn báo ân vô thượng, đem giáo pháp ban rải giáo hóa cho Bồ
Tát. Xá Lợi Phất, nếu chúng Thanh Văn làm được như thế là người cúng dường
Như Lai một cách trọn vẹn, ấy là chỉ dạy làm cho chư Bồ Tát không thối tâm
vô thượng Bồ Ðề. Xá Lợi Phất bạch Phật: bạch đức Thế Tôn: Bồ Tát có ba
loại tâm: một là tâm ban đầu, hai là chuyển tâm và ba là tâm thành thục.
Trong ba loại tâm ấy đức Thế Tôn tán dương, ủng hộ tâm nào? Phật bảo: như
vậy, như vậy. Như lời ông nói, Bồ Tát có ba loại tâm: tâm ban đầu, chuyển
tâm và tâm thành thục. Này Xá Lợi Phất trong các tâm ấy Như Lai tán thán
nhiếp hộ tâm ban đầu và chuyển tâm làm cho tâm ấy được thành tựu. Tại sao
thế? Nếu có người phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác đều không còn
thối chuyển ở quả Thanh Văn hay Bích Chi Phật. Vì tâm không còn lui sụt
nên dần dần thành tựu được tâm vô thượng Bồ Ðề. Vì thế, Bồ Tát phát tâm Bồ
Ðề nên quán xét cái "không tướng" của tâm ấy. Xá Lợi Phất, tâm ấy là tâm
gì? Và thế nào là không tướng? Xá Lợi Phất, tâm gọi là ý thức, tức là cái
biết tiềm tàng; ý vào tâm ý. Không tướng là tâm vô hình tướng, không ai
tạo tác. Tại sao thế? Nếu có kẻ tạo tác có kẻ kia làm, người này nhận. Còn
tâm tự tạo tác cũng chính do tâm tự thọ. Này Xá Lợi Phất, tâm vô hình
tướng, không ai tạo tác, không ai sai sử; không có tác giả cũng không có
tướng tạo tác. Nếu ta bàn suông cái tướng của tâm cũng chỉ nói tới cái vô
tướng trống rỗng mà thôi. Nếu chỉ bàn tới cái không tướng trống rỗng vô
ích kẻ kia cùng tranh luận với Như Lai, mà cùng với Như Lai tranh luận nên
biết là kẻ ấy rơi vào vực thẳm. Kẻ đã rơi trong vực thẳm thì gọi là địa
ngục, ngạ quỉ, súc sanh, và thấy các cõi âm, thấy ta, thấy người, thấy
chúng sanh... Này Xá Lợi Phất, nói một cách ngắn gọn trong Phật pháp có
cái thấy tăng thêm và cái thấy Niết Bàn; thấy như thế đều gọi là có chỗ
thấy. Những cái thấy ấy là nguồn gốc của ác thú, do chúng sanh tham chấp
nên mới có ra những cái thấy ấy, là nguyên nhân đọa vào vực thẳm; cũng như
làm hại kẻ khác rơi vào vực thẳm mà kẻ ở vực thẳm gọi là ở trong năm đường
sanh tử vậy.
Lúc bấy giờ trong
chúng hội có một người ăn xin tên là Tuyển Trạch từ chỗ ngồi đứng dậy chấp
tay cung kính bạch Phật rằng, bạch đức Thế Tôn: con nay không muốn đọa vào
vực thẳm, cũng không muốn tranh cải với Như Lai. Con từ xưa đến nay phát
tâm là muốn đạt được đạo vô thượng Bồ Ðề, nên lại nghĩ xưa con là một
người nghèo gặp bao nhiêu khổ nạn, đời sống rất là vất vả. Ðây là những
dòng Sát Ðế Lợi, Bà La Môn, cư sĩ có thế lực còn chưa có thể tu tập đạo vô
thượng Bồ Ðề, huống gì con là kẻ ăn xin nghèo khổ hạng bét. Nay được nghe
Phật tán thán sơ tâm của Bồ Tát mà trong đó không đề cập tới dòng đại Sát
Ðế Lợi, Bà La Môn, cư sĩ thế lực, và trời Tứ Thiên Vương, Thích Ðề Hoàn
Nhân, trời Ðao Lợi, Diệm Ma Thiên, Ðâu Suất Ðà Thiên, trời Hóa Lạc, Tha
Hóa Tự Tại; cũng không nói tới trời Phạm Thế và Phạm Thiên Vương, cũng
không đề cập đến nghèo giàu, sang hèn. Kể từ hôm nay, con quyết định phát
tâm vô thượng Bồ Ðề, không dám khinh mình nữa. Phật bảo: lành thay, Tuyển
Trạch! Nay ông có thể theo học pháp Như Lai nên quyết định phát tâm vô
thượng như thế.
Lúc bấy giờ Tuyển
Trạch ở trước Phật liền nói bài kệ:
Con không cầu tán dương
tán dương chẳng xứng đáng
mà
chỉ mong ý sáng
được Phật trí vô thượng
Phật ở nơi vô lượng
các cảnh giới vô thượng;
trong chúng sanh khổ não
để
làm chỗ tựa nương.
Phật chứng pháp vô lậu
nhiệm mầu sạch khó lường.
Thương chúng sanh nói pháp
sanh tử khổ độ thoát.
Thần lực Phật phổ quát
hào quang tỏa vô cùng
được trí huệ không ngằn
phước đức cao tột cùng.
Thế Tôn: bổn tâm con
là
mong được thành Phật
tâm lại sanh lui sụt
ai
cho kẻ nghèo hèn
được như vua, cư sĩ,
thích, phạm, các tôn thần
uy
đức như trời, người
mà
còn chưa thể được
huống phận kẻ nghèo hèn
xin ăn nuôi thân mạng.
Trí Phật, trí vô thượng
làm sao đạt thấu đặng?
Thế Tôn rõ tâm con
bảo Xá Lợi Phất rằng:
Ta
nói phát tâm bằng
không nghèo, giàu, sang, hèn
cũng không Sát Ðế Lợi
Bà
La Môn, cư sĩ,
chúng trời, rồng, thần, quỉ.
Kẻ
phát tâm bền chí
nay nghe Phật diễn nói
tâm con được lợi lớn
quyết chắc sẽ thành Phật
nên phát tâm chân thật.
Ðổi thay luật trời đất
núi Tu Di tan tác
hư
không dù biến diệt
tâm con khó chuyển dời.
Nếu chúng sanh mọi loài
tất cả đều là ma
ắt
đến quấy phá ta.
Tâm con định bất động
Có
người trước mặt con
tự
ý bèn phát ngôn:
Phật trí thật khó tròn
không ai cho kẻ hèn.
Con nghe xong đáp liền:
ngươi chính kẻ bần tiện.
Vì
không có tín tâm
được làm Phật là lầm.
Chư Phật vô hữu tánh
cũng không hình nhất định
chỉ nhiếp tâm hồi hướng
đạo Ðại Thừa vô thượng
ấy
là Phật tánh tướng
cũng giống Như Lai ch