Dhammapada
Sutta
(Khuddaka Nikaya - Sutta Pitaka)
Nghiên cứu so sánh văn bản kinh Pháp Cú chữ
Hán và chữ Pàli
Thích Nữ
Nguyệt Chiếu
A . DẪN NHẬP
Kinh PHÁP CÚ là một bộ Kinh rất xưa, được xem là kinh Lời Vàng cho những
ai có chí nguyện tu tâm, dưỡng tánh để tiến thân trên lộ trình hành đạo
giải thoát. Từ lâu kinh Pháp Cú đã trở nên quen thuộc với Tăng Ni và Phật
Tử Việt Nam ngay những câu mang tính ca dao, dân ca làm cho mọi người dễ
đọc, dễ nghe, dễ học, dễ hiểu v.v...dần dần có sự ăn sâu, bám rễ vào lòng
Dân Tộc, góp phần không nhỏ trong việc xây dựng, nâng cao phẩm giá con
người. Từ đó những đóa hoa đạo đức-trí huệ của Phật Giáo vốn có sắc và
hương thơm ngát lại là người bạn cố tri luôn đem đến nguồn cảm hứng, an
ủi, nâng đỡ, hộ trì và cải thiện đời sống tâm linh trong những bước thăng
trầm của cuộc sống. Trong suốt 45 năm thuyết giảng giáo pháp, Đức Phật đã
dùng vô số phương pháp để hóa độ chúng sanh. Những phương pháp ấy đều có
chứa những bài kệ ngắn gọn, hàm xúc, thú vị, tinh túy, hữu ích và đúng
theo chân lý. Đó chính là những câu Pháp Cú nằm tản mát trong Kinh- Luật-
Luận thuộc Nam Truyền và Bắc Truyền. Do vậy, sau khi Đức Phật nhập Vô Dư
Niết Bàn thì kinh Pháp Cú trở thành áng văn bất hủ cho cả hai giới Tại Gia
và Xuất Gia.
Chính sự lan truyền rộng rãi của kinh Pháp Cú nên dần dần dễ dẫn tới việc
sai khác về ngôn từ và ý nghĩa của kinh so với nguyên bản. Vì thế, khi mới
xuất gia học đạo liền bắt gặp trong quyển "Sa Di Luật Giải" của Hòa Thượng
Hành Trụ, phần Qui Sơn Cảnh Sách, trang 497 có đoạn viết:
"Đức Như Lai diệt độ chưa bao lâu, có một ông Tỳ Kheo, lầm tụng bài
kệ trong kinh Pháp Cú: "Nếu người sống trăm tuổi, chẳng thấy con Hạc già
dưới nước, chẳng bằng sống một ngày mà đặng thấy rõ đó" khi ấy ngài A
Nan Tôn giả nghe rồi nguôi thản than rằng: "Chánh Pháp Như Lai sao mà
diệt mau lắm vậy!" Rồi nói với Thầy Tỳ Kheo kia rằng: Thưa Huynh! Đức
Phật, Ngài nói: "Nếu người sống trăm tuổi chẳng thấy sanh diệt, chẳng
bằng sống một ngày mà thấy rõ đó". Ông Tỷ Kheo ấy bấy giờ trở về thuật
lại với Bổn sư, sư nói: "Ơi! Ông A Nan già cả, nói hay lầm lộn không nên
tin vậy. Ngươi cứ về tụng như trước đi."
Ôi! Xét như xưa đời chánh pháp hãy còn lầm lộn như thế đó. Huống đời
bây giờ cách Phật đã xa, không gần Thầy hay Bạn giỏi, làm sao nói ra cho
nhằm Kinh Luật ấy ư?"
Qua đoạn trích trên, người viết nhận thấy nguyên nhân có sự nhầm lẫn giữa
chữ "sanh diệt" với "hạc già" là xuất phát từ sự truyền khẩu của kinh,
truyền từ người này qua người nọ nên dẫn đến sự sai khác. Như theo bản
PàLi câu 113 trong Phẩm Ngàn, tức là câu 14 của bản phụ lục ở phía sau cho
biết: "Yo ca vassa- satam jìve apassam udaya – vyayam" (Ai sống
một trăm năm mà không thấy sanh tử). Và theo bản Prakrit câu 317 cho thấy:
"Ya ji vasa – s ado jivì apas u udaka - vaya". (Ai sống một trăm
năm mà không thấy sanh tử). Do lẫn lộn chữ "Udaka-vaya" dịch là "Sanh tử"
đọc nhầm thành "Udaka-bakam" dịch là "Hạc nước". Sự đọc nhầm này cũng do
một phần sau khi Đức Phật nhập diệt, phần đông các vị Tổ về sau đều là gốc
Bà La Môn nên họ cứ tin tưởng và chấp chặt vào ngôn ngữ của mình, không để
ý đến nghĩa của chữ dẫn đến sự nhầm lẫn như thế.
Và
Thầy Lê Mạnh Thát cũng có bàn về vấn đề này trong quyển Tư Tưởng "Thử bàn
về một phương pháp phê bình văn học", bộ IV, số 2 (1971), tr 101-112; số 3
(1971), tr 127 – 134; số 6 (1971), tr 85- 106. Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh –
Sài Gòn.
Từ
sự nhầm lẫn trên, người viết hằng suy nghĩ : Tất cả Tăng Ni sinh chúng ta
đều mong sao tự mỗi cá nhân trước hết phải nhìn nhận đây là vấn đề, là mấu
chốt cần phải tìm hiểu và nghiên cứu kỹ trước những kinh sách về Phật giáo
thật sự có tính cách lợi ích cho sự hành đạo giải thoát hay không? Có như
vậy, chúng ta mới trang bị nền móng vững chắc cho sự hành đạo giải thoát ở
chính ngay con người mình. Từ sự nhận định tổng quát như vậy mà các nước
trên thế giới đều đã nghiên cứu so sánh Kinh Pháp Cú như S. LéVi, L
Apramàdavarga. Etude sur les recensions des-Dharmapada, JAS (xx) 1912,
203-94; và người nghiên cứu The Gàndhàrì by John Brought (London, Oxford
University Press, 1962); còn ở Việt Nam nước ta thì chưa thấy ai so sánh
kinh Pháp Cú. Đây là lý do người viết chọn đề tài: "Nghiên cứu so sánh văn
bản kinh Pháp Cú chữ Hán và chữ Pàli."
Kinh Pháp Cú có tầm quan trọng trong kho tàng Pháp Bảo Phật Giáo, nên được
dịch ra nhiều thứ tiếng nhất. Hầu hết các ngôn ngữ quan trọng trên thế
giới đều có bản dịch kinh Pháp Cú và nhiều tác giả đã xem tập này như một
Thánh Thư của Đạo Phật. Riêng tiếng Việt, hiện nay Kinh Pháp Cú có khá
nhiều bản như sau:
- Kinh Pháp Cú do H.T Thích Trí Đức dịch từ bản Hán văn của Pháp Sư
Liễu Tham (từ bản Pàli sang Hán). Bản này được xuất bản lần đầu tiên vào
năm 1959 và đến nay được tái bản nhiều lần.
- Kinh Pháp Cú do Á Nam Trần Tuấn Khải dịch từ bản Anh-Hán Đối Chiếu
Hòa dịch 1963 của soạn giả Thường Ban Đại Định.
- Kinh Pháp Cú do Phạm Kim Khánh dịch từ Pàli-Anh của Đ.Đ Narada
người Tích Lan, được xuất bản năm 1971.
- Kinh Pháp Cú do H.T Thích Minh Châu dịch từ bản Pàli, được trường
Cao Cấp Phật học Việt Nam ấn hành 1989, nay là Học Viện Phật Giáo Việt
Nam.
- Thi Hóa Pháp Cú Kinh do Tịnh Minh dịch từ bản tiếng Anh của Đ.Đ.
Narada, 1990.
Hầu hết các văn bản trên đều có nguồn gốc từ bản Tích Lan 26 phẩm 423 bài
kệ do các dịch giả dịch từ tiếng Hán, tiếng Pàli, tiếng Anh. Ngoài ra,
kinh Pháp Cú còn có nhiều dị bản như:
- Hán dịch Pháp Cú kinh. Bản này do Ngài Pháp Cứu người Ấn ở thế kỷ
thứ I trước Công Nguyên tuyển tập, nhóm Ngài Duy Kỳ Nan đời Ngô Tam Quốc
dịch sang Hán, được thâu vào Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh. ĐTK 210 tờ
559 a1 – 575 b10.
- Phạn bản Ưu Đà Na phẩm, còn gọi Ô-Đà-Nam Phẩm, theo câu Xá Luận
Quang Ký quyển 1 nói cũng do Ngài Pháp Cứu tuyển tập, có Phạn bản lưu
hành ở Ấn Độ.
- Tạng dịch Phạn bản Ưu-Đà-Na phẩm với tên là Che-du-brjod-pahi
tshoms, nằm trong Đại Tạng Kinh Tây Tạng.
Kinh Pháp Cú ngoài văn bản và dị bản như đã kể trên, lại có kinh Pháp Cú
Thí Dụ với những dị bản như sau:
- Pháp Cú Kinh chú (Dhammapada-tthakathà) của Ngài Phật Âm
(Buddha-Ghosa), thế kỷ thứ V viết, bằng văn Pàli.
- Hán dịch Pháp Cú Thí Dụ Kinh (Thuộc ngữ hệ Pàli) cũng chính để giải
thích ý nghĩa, nhân duyên truyện tích của kệ Pháp Cú.
- Hán dịch Xuất Diệu Kinh do Ngài Tăng Già Bạt Trừng và Trúc Phật
Niệm dịch vào năm 398.
- Tạng dịch Ưu-Đà-Na Phẩm Chú Giải (Che-du-brjod-pahi
tshoms-Kyirnam-parthrelpa).
Các bài kệ Pháp Cú Thí Dụ này cũng dịch ra tiếng Việt như:
- Kinh Pháp Cú Thí Dụ, Dịch giả Thích Minh Quang, nhà xuất bản TP.
HCM-1994.
- Kinh Pháp Cú Thí Dụ, Dịch giả Thích Thiện Phát, nhà xuất bản TP.
HCM-1997.
- Chú Giải Kinh Pháp Cú (Dhammapàdatthakathà). Tác Giả:
Bhadantàcàriya Buddhaghosa. Dịch Giả: Trưởng Lão Pháp Minh, nhà xuất bản
TP. HCM-1997
- Trích Truyện Pháp Cú, Dịch Giả T.V.Viên Chiếu, nhà xuất bản TP.
HCM-2000.
Vì
vậy, khi đi vào nghiên cứu so sánh kinh Pháp Cú, người viết thật vô cùng
ngần ngại với số văn bản và dị bản khá nhiều. Muốn có cái nhìn nhất quán
về lời Phật dạy, người viết quyết chọn hai văn bản có cơ sở: 1) Kinh Pháp
Cú - nguyên tạng Pàli do H.T. Thích Minh Châu dịch; 2) Kinh Pháp Cú Đại
Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, ĐTK 210 tờ 559 a1-575 b10, để so sánh sự giống
nhau và khác nhau như thế nào. Tại sao có sự dị biệt này? Đây là vấn đề mà
người viết cần muốn tìm hiểu về giáo lý nguyên thủy để làm ngọn đuốc soi
đường dẫn lối cho hành giả đi đến giải thoát, giác ngộ như Đức Phật từng
dạy:
Kẻ mất ngủ cho rằng đêm rất dài, người lữ khách mệt mỏi cho rằng
đường hãy còn xa thế nào? Thì cũng như thế ấy, kẻ nào chưa tìm được chân
lý, hằng phải bị sanh tử luân hồi trong thời gian vô tận." - Dhammapada-
kệ số 60
Sự
thật, với tinh thần đi tìm một giá trị đích thật về kinh Pháp Cú mà tập
tiểu luận này được ra đời. Vả lại, cũng có duyên may được học dưới mái
trường Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Thành Phố Hồ Chí Minh, lại được gặp
Giáo Sư Tiến Sĩ Lê Mạnh Thát đồng ý hướng dẫn đề tài này, nên có cơ hội để
hoàn thành tốt tiểu luận. Với sự rộng lớn của Đề Tài, người viết xin chỉ
tập trung một số bài tụng phổ biến nhất trong các phẩm của kinh Pháp Cú.
Mặc dù, nổ lực hết sức mình và cố gắng rất nhiều trong khi viết nhưng
không sao tránh khỏi nhiều điều thiếu sót trong việc tìm hiểu và trình bày
lời Phật dạy. Kính mong Giáo Sư hướng dẫn cùng Chư Tôn Đức, các bạn đồng
học, chư vị thiện tri thức từ bi hoan hỷ chỉ giáo để kiến thức Phật Học
được tăng bổ.
Phước Viên Tự,
ngày 17/12/2000.
Kính bút
Ni sinh Thích Nữ Nguyệt Chiếu (Nguyên Anh)
-ooOoo-
B. SO
SÁNH VĂN BẢN KINH PHÁP CÚ CHỮ HÁN VÀ CHỮ PÀLI
1. VẤN
ĐỀ VĂN BẢN CHỮ PÀLI:
Tất cả Kinh điển chữ Pàli
phân thành 5 Nikàya: 1. Dìgha-Nikàya (Kinh Trường Bộ); 2. Majjhimanikàya
(Kinh Trung Bộ); 3. Samyuttnikàya (Kinh Tương Ưng); 4. Anguttaranikàya
(Kinh Bộ Tăng Chi); và 5. Khuddakanikàya (Kinh Tiểu Bộ) thì Dhamma-pada
(Kinh Pháp Cú) là một Kinh thuộc kinh thứ 5-Tiểu Bộ Kinh (Khuddakanikàya)
trong kinh tạng Pàli.
Vậy "Dhammapada" nghĩa là
gì? Dhamma dịch là Pháp, Pada dịch là Cú (câu). Dhammapada tức là những
câu ghi chép lại lời dạy Đức Phật, nên thường được dịch là Pháp Cú.
Chữ "Dhamma" là Pháp, có
nhiều nghĩa như chân lý, giác ngộ, giải thoát hàm chứa: là giáo pháp,
chánh pháp, chân lý được Đức Phật khai thị; là Phật ngôn, pháp ngữ hay
những lời giáo huấn của Đức Phật về chơn, thiện, mỹ; là kỷ luật, phép tắc,
tín ngưỡng hình thức sinh hoạt của Phật Giáo.
Chữ "Pada" là Cú (câu)
nghĩa là đường lối, lối đi, nền tảng căn bản. Pada cũng có nghĩa là bàn
chân, bước chân.
Cuối cùng, "Dhammapada" có
thể có nghĩa là những bàn chân hay bước chân đưa đến chân lý giác ngộ,
giải thoát; đưa đến chân, thiện, mỹ v.v... Được hiểu như là "con đường
chân lý, con đường đạo hạnh."
Kinh Dhammapada theo
truyền thống được xem là bộ kinh được kiết tập vào kỳ kiết tập thứ nhất,
ngay ba tháng sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Có thể nói đây là một cuốn
kinh chứa đựng một cách gọn ghẽ, đầy đủ giáo lý nguyên thủy của Đức Phật.
Hay nói một cách khác là một cuốn kinh chọn lọc những lời dạy của Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế. Ngài đã truyền dạy trong khoảng ba trăm
trường hợp giáo hóa khác nhau trong suốt 45 năm thuyết pháp độ sanh, Ngài
đã giảng nhiều pháp ngữ chứa đựng nghĩa lý thâm thúy để cởi mở nghiệp khổ
cho chúng sanh mà đưa họ đến Niết Bàn an lạc. Những giáo pháp ấy được
trình bày dưới hình thức các bài kệ đơn giản và súc tích gồm phần lớn là
bốn câu, thỉnh thoảng lên đến sáu câu và mỗi câu gồm có tám âm đồng đều,
cụ thể qua 423 gàthà (bài kệ) chia làm 26 vagga (phẩm) như sau:
|
01 |
Yamaka Vagga |
Phẩm Song Yếu |
20 bài kệ |
|
02 |
Appamàda Vagga |
Phẩm Không Phóng Dật |
12 bài kệ |
|
03 |
Citta Vagga |
Phẩm Tâm |
11 bài kệ |
|
04 |
Puppha Vagga |
Phẩm Hoa |
16 bài kệ |
|
05 |
Bàla Vagga |
Phẩm Ngu |
16 bài kệ |
|
06 |
Pandita Vagga |
Phẩm Hiền Trí |
14 bài kệ |
|
07 |
Arahanta Vagga |
Phẩm A La Hán |
10 bài kệ |
|
08 |
Sahassa Vagga |
Phẩm Ngàn |
16 bài kệ |
|
09 |
Pàpa Vagga |
Phẩm Ác |
13 bài kệ |
|
10 |
Danda Vagga |
Phẩm Hình Phạt |
17 bài kệ |
|
11 |
Jarà Vagga |
Phẩm Già |
11 bài kệ |
|
12 |
Atta Vagga |
Phẩm Tự Ngã |
10 bài kệ |
|
13 |
Loka Vagga |
Phẩm Thế Gian |
12 bài kệ |
|
14 |
Budda Vagga |
Phẩm Phật Đà |
18 bài kệ |
|
15 |
Sukha Vagga |
Phẩm An Lạc |
12 bài kệ |
|
16 |
Piya Vagga |
Phẩm Hỷ Ái |
12 bài kệ |
|
17 |
Kodha Vagga |
Phẩm Phẫn Nộ |
14 bài kệ |
|
18 |
Mola Vagga |
Phẩm Cấu Uế |
21 bài kệ |
|
19 |
Dhammattha Vagga |
Phẩm Pháp Trụ |
17 bài kệ |
|
20 |
Magga Vagga |
Phẩm Đạo |
17 baì kệ |
|
21 |
Pakinnaka Vagga |
Phẩm Tạp Lục |
16 bài kệ |
|
22 |
Niraya Vagga |
Phẩm Địa Ngục |
14 bài kệ |
|
23 |
Nàga Vagga |
Phẩm Voi |
14 bài kệ |
|
24 |
Tanhà Vagga |
Phẩm Tham Ái |
26 bài kệ |
|
25 |
Bhikkhu Vagga |
Phẩm Tỷ Kheo |
23 bài kệ |
|
26 |
Bràhmana Vagga |
Phẩm Bà La Môn |
41 bài kệ |
Mỗi phẩm đặt trọng tâm vào
một đề tài chính, như "Phẩm Tâm" tập hợp các bài kệ về tâm, nghĩa là tinh
thần không hình nhưng tạo tác không mất; hay "Phẩm A La Hán" tập hợp các
bài kệ nói về con người nói lời chân chánh thì thoát được dục, tâm không
còn đắm trước.v.v... Tất cả 26 Vagga (phẩm) trong Kinh Dhammapada-Pháp Cú
đều thích hợp với tâm tính trình độ và căn cơ khác nhau của người nghe.
2. VẤN ĐỀ VĂN BẢN CHỮ
HÁN:
Căn cứ vào bài tựa của
Kinh Pháp Cú, ĐTK 210 tờ 566 b14 – c 26, quá trình hình thành văn bản chữ
Hán được trình bày như sau:
"Kệ Đàm Bát là yếu
nghĩa trong kinh. Đàm đó là Pháp, Bát đó là Cú, mà Kinh Pháp Cú có vài
bản để phân biệt. Có bộ gồm 900 bài kệ, hoặc có bộ 700 bài kệ và 500 bài
kệ. Kệ là lời đúc kết lại cũng giống như thi tụng vậy. Đó chính là Đức
Phật thấy sự việc nêu lên chẳng phải Ngài nói trong cùng một lúc mà tất
cả đều có nhân duyên được phân bố chặt chẽ trong các kinh. Đức Phật là
bậc Nhất Thiết Trí, tánh của Ngài là một bậc đại nhân cho nên Ngài
thương xót chúng sanh mà xuất hiện nơi đời, mở bày đạo nghĩa để cứu độ
con người. Trong 12 bộ kinh, tổng quát yếu nghĩa của từng thể loại mà
chia ra làm nhiều bộ. Sau khi Đức Phật nhập diệt, Ngài A Nan trùng tuyên
lại 4 bộ A Hàm (Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tạp A Hàm, Tăng Nhất A Hàm).
Kinh không có dài ngắn, mở đầu ngài A Nan đều tụng: Nghe như vầy, và nơi
chốn Đức Phật thuyết pháp, là nơi diễn đạt những lời đầy đủ tự thuyết
của Ngài. Sau đó, năm bộ Sa Môn mỗi mỗi sao chép ra thành kệ 4 câu hoặc
6 câu trong các kinh rồi so sánh, phán định ý nghĩa vào các điều chương
mà phân biệt thứ loại, từng phẩm. Đối với 12 bộ kinh không đâu không
tham cứu rút ra và không có một tên gọi nhất định cho nên gọi là Pháp
Cú. Các Kinh là pháp ngôn, pháp cú do từ pháp ngôn mà có ra vậy. Gần đây
người họ Cát có lưu truyền 700 bài kệ, nghĩa của kệ rất sâu xa, người
dịch ra rất nhiều. Do nghĩa lý ẩn sâu trong kinh mà khiến cho người dịch
lẫn lộn. Chỉ có Đức Phật là khó gặp, giáo pháp cũng khó mà nghe được.
Lại nữa, Chư Phật xuất thế ở Thiên Trúc nên ngôn ngữ Thiên Trúc với Hán
ngữ khác âm. Sách của Thiên Trúc gọi là Thiên Thư, lời âm nói gọi là
Thiên Ngữ. Do ngôn ngữ và sự vật bất đồng nên truyền đạt sự chân thật
chẳng phải là chuyện dễ. Ngài Lam Điều, An Hầu Thế Cao, Đô Quý Phật Điều
dịch từ tiếng Phạn ra tiếng Trung Hoa, sự thật đạt được thể của ngôn ngữ
nhưng việc ấy khó có người kế thừa. Người sau lưu truyền không thể sâu
sắc nhưng vẫn còn tôn trọng chỗ quý báu những bản kinh, và tạm cho phần
này đã đạt được chỉ thú của kinh.
Người đầu tiên là Duy
Kỳ Nan sinh ra ở Thiên Trúc vào năm thứ ba đời Hoàng Vũ đến Vũ Xương,
tôi mới theo ngài Duy Kỳ Nan mà nhận được bộ sách gồm 500 bài kệ, mời
người đồng đạo Trúc Tướng Diễm dịch. Tướng Diễm, tuy giỏi tiếng Thiên
Trúc nhưng mà chưa am hiểu đầy đủ Hán ngữ cho nên lời truyền đạt của
Ngài hoặc còn Phạn ngữ, hoặc lấy nghĩa mà dịch thành âm. Vì thế văn
nghĩa chất phác, lời của nói không đẹp, không bóng bẩy. Đầu tiên, Duy Kỳ
Nan nói rằng: Lời của Phật nương theo nghĩa mà không dùng sự trau chuốt
ngôn từ, chọn lấy pháp mà không lấy chỗ nghiêm sức. Phàm người truyền
dịch kinh được dễ hiểu, chớ nên làm mất đi nghĩa lý của Kinh. Được như
vậy là điều hay nhất, cần thiết nhất. Những người ngồi ở đạo tràng phiên
dịch đều cho rằng: Lão Tử nói ngôn từ trau chuốt thì không đáng tin, lời
đáng tin thì không cần hoa mỹ. Khổng Tử cũng nói rằng: Thư viết ra không
hết lời, lời nói ra thì không thâu tóm được hết ý. Đó là những lời nói
của bậc Thánh Nhân. Ý của bậc Thánh Nhân thâm thúy vô cùng, nay thì
người truyền đạt ý nghĩa của tiếng Phạn cần phải thấu đạt được ý Kinh.
Vì thế, từ những bài kệ được người dịch ra cần phải chính lý yếu chỉ,
chớ không cần thêm trau chuốt văn chương. Nếu có dịch những chỗ không
hiểu thì thiếu sót không thể truyền đầy đủ, cho nên phần nhiều có sự
thiếu sót, phần lớn do sự có ra ngoài những trường hợp mất mát ý nghĩa.
Nhưng bài kệ Pháp Cú này, tuy lời mộc mạc, chất phác mà ý chỉ sâu sắc.
Văn sơ sài, ước lược
mà nghĩa thì rộng lớn nên sự việc được dẫn dắt trong các kinh. Chương
phẩm có đầy đủ, câu cú có ý nghĩa. Những người mới tu học ở tại Thiên
Trúc không học Kinh Pháp Cú cho là vượt quá thứ bậc nhưng kinh này mới
chính là quy tắc lớn cho người mới học và kho tàng sâu kín của người
thâm nhập. Khó có thể khai mở cho những người sơ cơ phân biệt những chỗ
lầm lẫn, dụ dẫn chúng sanh đi đến chỗ tự lập. Công sức tu học ít, mà chỗ
hiểu biết thì rộng. Kinh này, thật đáng cho là cốt yếu và vi diệu thay!
Khi xưa lúc truyền đạt kinh này. Tôi có chỗ không hiểu, gặp lúc ông
Tướng Diễm đến cho nên theo đó mới thưa hỏi và thọ nhận lấy những bài kệ
này rồi được thêm 13 phẩm nữa, đồng thời so sánh với những bản cổ rồi
tăng bổ hiệu đính lại, sắp xếp phẩm mục gom lại một bộ thành 39 phẩm gồm
có 752 bài kệ, ngỏ hầu để cho có sự bổ ích và rộng cho sự học hỏi."
Qua bài tựa giúp chúng ta
hiểu được phần nào về nguồn gốc và nội dung của kinh Pháp Cú. Kinh Pháp Cú
còn có tên gọi Pháp Cú Tập Kinh, Pháp Cú Tập, Pháp Cú Lục, Đàm Bát Kinh,
Đàm Bát Kệ. Đó chính là Đức Phật thấy sự việc mà nêu lên. Kinh không có
dài ngắn, mở đầu được ngài A Nan đều tụng: Tôi nghe như vậy và nơi chốn
Đức Phật thuyết pháp.v.v... Nghĩa là có đầy đủ lục chủng thành tựu. Sau
đó, năm bộ Sa Môn sao chép ra thành kệ bốn câu, sáu câu trong các kinh mà
phân biệt thứ loại, từng phẩm. Gần đây ngưới họ Cát có lưu truyền 700 bài
kệ, nghĩa của kệ rất sâu, người dịch ra rất nhiều. Về sau ngài Lam Điều,
An Hầu Thế Cao, Đô Quý Phật Điều dịch từ tiếng Phạn ra tiếng Trung Hoa.
Người đầu tiên là Duy Kỳ Nan sinh ra ở Thiên Trúc nói rằng: Lời của Phật
nương theo nghĩa mà không dùng sự trau chuốt ngôn từ, chọn lấy pháp mà
không lấy chỗ nghiêm sức. Những người ngồi ở đạo tràng phiên dịch đều cho
rằng: Lão Tử nói ngôn từ trau chuốt thì không đáng tin, lời đáng tin thì
không cần hoa mỹ. Khổng Tử cũng nói rằng: Thư viết ra không hết lời, lời
nói ra thì không thâu tóm được hết ý. Đó là những lời nói của bậc Thánh
Nhân. Ý của bậc Thánh Nhân thâm thúy vô cùng nay thì người truyền đạt ý
nghĩa của tiếng phạn cần phải thấu đạt được ý kinh. Vì thế, những bài kệ
Pháp Cú này, tuy lời mộc mạc, chất phác mà ý chỉ sâu sắc. Văn sơ sài, ước
lược mà nghĩa thì rộng lớn nên sự việc được dẫn dắt trong các kinh. Những
người mới tu học ở tại Thiên Trúc không học kinh Pháp Cú cho là vượt quá
thứ bậc, nhưng kinh này mới chính là quy tắc lớn của người thâm nhập. Kinh
gồm 2 quyển, 39 phẩm, 752 bài tụng do ngài Pháp Cứu, người Ấn Độ soạn,
ngài Duy Kỳ Nan nước Ngô dịch vào thời Tam Quốc (có thuyết cho rằng do
ngài Chi Khiêm và Trúc Tướng Diễm dịch vào năm 224) được xếp vào Đại Chánh
Tân Tu Đại Tạng Kinh, ĐTK 210 tờ 559a1 – 575 b10. Nội dung gom góp những
bài kệ do Đức Phật nói trong các kinh mà biên tập thành, được thể hiện ở
mỗi bài kệ có bốn câu, sáu câu, có lúc tám câu; mỗi câu có bốn chữ hay năm
chữ. Kinh Pháp Cú trình bày cụ thể qua hai quyển với 39 phẩm 752 bài kệ
như sau:
Quyển Thượng
| 10 |
Phẩm Phóng
Dật |
20 bài kệ |
| 11 |
Phẩm Tâm Ý |
12 bài kệ |
| 12 |
Phẩm Hoa
Hương |
17 bài kệ |
| 13 |
Phẩm Ngu Ám |
21 bài kệ |
| 14 |
Phẩm Minh
Triết |
12 bài kệ |
| 15 |
Phẩm La Hán |
10 bài kệ |
| 16 |
Phẩm Thuật
Thiên |
16 bài kệ |
| 17 |
Phẩm Ác Hành |
22 bài kệ |
| 18 |
Phẩm Đao
Trượng |
14 bài kệ |
| 19 |
Phẩm Lão Mạo |
14 bài kệ |
| 20 |
Phẩm Ái Thân |
13 bài kệ |
| 21 |
Phẩm Thế Tục |
14 bài kệ |
Quyển Hạ:
| 22 |
Phẩm Thuật
Phật |
21 bài kệ |
| 23 |
Phẩm An Ninh |
14 bài kệ |
| 24 |
Phẩm Hảo Hỷ |
12 bài kệ |
| 25 |
Phẩm Phẫn Nộ |
26 bài kệ |
| 26 |
Phẩm Trần
Cấu |
19 bài kệ |
| 27 |
Phẩm Phụng
Trì |
17 bài kệ |
| 28 |
Phẩm Đạo
Hành |
28 bài kệ |
| 29 |
Phẩm Quãng
Diễn |
14 bài kệ |
| 30 |
Phẩm Địa
Ngục |
16 bài kệ |
| 31 |
Phẩm Tượng
Dụ |
18 bài kệ |
| 32 |
Phẩm Ái Dục |
32 bài kệ |
| 33 |
Phẩm Lợi
Dưỡng |
20 bài kệ |
| 34 |
Phẩm Sa Môn |
32 bài kệ |
| 35 |
Phẩm Phạm
Chí |
40 bài kệ |
| 36 |
Phẩm Nê Hoàn |
35 bài kệ |
| 37 |
Phẩm Sanh Tử |
18 bài kệ |
| 38 |
Phẩm Đạo Lợi |
19 bài kệ |
| 39 |
Phẩm Kiết
Tường |
19 bài kệ |
3. ĐỐI CHIẾU GIỮA HAI
VĂN BẢN CHỮ HÁN VÀ CHỮ PÀLI:
Theo S. Lévi trong
"L.Apramàdavarga. Étude sur les recensions des Dharmapada, JAS (x.x) 1912,
203- 94" thì cho rằng văn bản tiếng Pàli và tiếng Hán hoàn toàn khác nhau.
Nhưng theo John Brough trong The Gàndhàri Dharmapada, Oxford University
Press, lại nhận định rằng giữa hai văn bản tiếng Pàli và tiếng Hán có
những điều cơ bản giống nhau, bên cạnh đó có những cái khác nhau theo hai
quan điểm: 1) Ở văn bản tiếng Hán có thể đưa thêm "thơ" hay "những kinh
khác" vào kinh Pháp Cú; 2) Ở quan điểm này thì ngược lại, nói do chính bản
Pàli mất. Còn quan điểm bản thân người viết khi nghiên cứu so sánh thì cảm
nhận giữa hai văn bản có một số phẩm lại chứa điều cốt yếu cơ bản về nội
dung của từng phẩm là hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên ở văn bản Chữ Hán có
39 phẩm 752 bài kệ thì số phẩm và số bài kệ lại nhiều hơn so với bản Pàli
chỉ có 26 phẩm 432 bài kệ. Điều này, có thể cho rằng văn bản Pàli bị thiếu
một số phẩm. Bởi ở bản Hán, từng phẩm có ghi chú tương đương tiếng Pàli,
ta có thể lập bảng đối chiếu như sau:
Bảng đối chiếu giữa văn
bản chữ Hán và chữ Pàli:
|
SỐ THỨ TỰ |
TÊN PHẨM |
SỐ LƯỢNG BÀI KỆ |
|
HÁN |
PÀLI |
HÁN |
PÀLI |
HÁN |
PÀLI |
|
1 |
0 |
Phẩm Vô Thường |
Không có |
21 |
0 |
|
2 |
0 |
Phẩm Giáo Học |
Không có |
29 |
0 |
|
3 |
0 |
Phẩm Đa Văn |
Không có |
19 |
0 |
|
4 |
0 |
Phẩm Đốc Tín |
Không có |
18 |
0 |
|
5 |
0 |
Phẩm Giới Thận |
Không có |
16 |
0 |
|
6 |
0 |
Phẩm Duy Niệm |
Không có |
12 |
0 |
|
7 |
0 |
Phẩm Từ Nhân |
Không có |
18 |
0 |
|
8 |
0 |
Phẩm Ngôn Ngữ |
Không có |
12 |
0 |
|
9 |
1 |
Phẩm Song Yếu |
Phẩm Song Yếu |
22 |
20 |
|
10 |
2 |
Phẩm Phóng Dật |
Phẩm Không phóng Dật |
20 |
12 |
|
11 |
3 |
Phẩm Tâm Ý |
Phẩm Tâm |
12 |
11 |
|
12 |
4 |
Phẩm Hoa Hương |
Phẩm Hoa |
17 |
16 |
|
13 |
5 |
Phẩm Ngu Ám |
Phẩm Ngu |
21 |
16 |
|
14 |
6 |
Phẩm Minh Triết |
Phẩm Hiền Trí |
12 |
14 |
|
15 |
7 |
Phẩm La Hán |
Phẩm A La Hán |
10 |
10 |
|
16 |
8 |
Phẩm Thuật Thiên |
Phẩm Ngàn |
16 |
16 |
|
17 |
9 |
Phẩm Ác Hành |
Phẩm Ác |
22 |
13 |
|
18 |
10 |
Phẩm Đao Trượng |
Phẩm Hình Phạt |
14 |
17 |
|
19 |
11 |
Phẩm Lão Mạo |
Phẩm Già |
14 |
11 |
|
20 |
12 |
Phẩm Ái Thân |
Phẩm Tự Ngã |
13 |
10 |
|
21 |
13 |
Phẩm Thế Tục |
Phẩm Thế Gian |
14 |
12 |
|
22 |
14 |
Phẩm Thuật Phật |
Phẩm Phật Đà |
21 |
18 |
|
23 |
15 |
Phẩm An Ninh |
Phẩm An Lạc |
14 |
12 |
|
24 |
16 |
Phẩm Hảo Hỷ |
Phẩm Hỷ Ái |
12 |
12 |
|
25 |
17 |
Phẩm Phẫn Nộ |
Phẩm Phẫn Nộ |
26 |
14 |
|
26 |
18 |
Phẩm Trần Cầu |
Phẩm Cấu Uế |
19 |
21 |
|
27 |
19 |
Phẩm Phụng Trì |
Phẩm Pháp Trụ |
17 |
17 |
|
28 |
20 |
Phẩm Đạo Hạnh |
Phẩm Đạo |
28 |
17 |
|
29 |
21 |
Phẩm Quãng Diễn |
Phẩm Tạp Lục |
14 |
16 |
|
30 |
22 |
Phẩm Địa Ngục |
Phẩm Địa Ngục |
16 |
14 |
|
31 |
23 |
Phẩm Tượng Dụ |
Phẩm Voi |
18 |
14 |
|
32 |
24 |
Phẩm Ái Dục |
Phẩm Tham Ái |
32 |
26 |
|
33 |
0 |
Phẩm Lợi Dưỡng |
Không Có |
20 |
0 |
|
34 |
25 |
Phẩm Sa Môn |
Phẩm Tỳ Kheo |
32 |
23 |
|
35 |
26 |
Phẩm Phạm Chí |
Phẩm Bà La Môn |
40 |
41 |
|
36 |
0 |
Phẩm Nê Hoàn |
Không Có |
35 |
0 |
|
37 |
0 |
Phẩm Sinh Tử |
Không Có |
18 |
0 |
|
38 |
0 |
Phẩm Đạo Lợi |
Không Có |
19 |
0 |
|
39 |
0 |
Phẩm Kiết Tường |
Không Có |
19 |
0 |
Qua bảng so sánh, giúp
chúng ta biết được ở văn bản Pàli thiếu các phẩm Sau: Phẩm Vô Thường (thứ
1); Phẩm Giáo Học (thứ 2); Phẩm Đa Văn (thứ 3), Phẩm Đốc Tín (thứ 4); Phẩm
Giới Thận (thứ 5); Phẩm Duy Niệm (thứ 6); Phẩm Từ Nhân (thứ 7); Phẩm Ngôn
Ngữ (thứ 8); Phẩm Lợi Dưỡng (thứ 33); Phẩm Nê Hoàn (thứ 36); Phẩm Sinh Tử
(thứ 37); Phẩm Đạo Lợi (thứ 38); Phẩm Kiết Tường (thứ 39). Tổng cộng bản
Pàli thiếu 13 phẩm-256 bài kệ; và nội dung đề tài của 13 phẩm này nói về
Vô Thường; Giáo Học, Sinh Tư.v.v... đều đặt trọng tâm vào giáo lý của Đức
Phật dạy. Theo như chúng ta thiết nghĩ, những giáo lý của Đức Phật dạy khi
còn tại thế thì Ngài không thể nào lại không quan tâm khi bàn về vấn đề Vô
Thường, Sanh Tử, Niết Bàn v.v...
Mặt khác, theo như bài tựa
của Pháp Sư Ấn Thuận viết cho bản kinh Pháp Cú Hán Văn của sư Liễu Tham có
đoạn ghi: "Theo truyền thuyết của Hữu Bộ thì sau khi Đức Phật diệt độ,
Đại Đức Pháp Cứu (Dharmahata) tùy nên chỗ lần được nghe, thuận theo ý
nghĩa soạn tập đặt thành tên phẩm. Như gom những câu tụng dạy lý vô
thường, lập làm phẩm vô thường, cho đến gom những bài tụng dạy về Phạm Chí
làm phẩm Phạm Chí". (Xem Bà Sa Luận 1) đều là chỉ cho Pháp Cú, nhưng theo
Ngài Chi Khiêm (khoảng 230 T.L) trong bài tựa Pháp Cú của Ngài có nói:
"Năm bộ chúng Sa Môn đều lượm lặt những bài kệ bốn câu, sáu câu trong các
Kinh, sắp đặt thứ lớp theo nghĩa lý rồi làm thành từng phẩm riêng. Cho nên
gọi Pháp Cú. Pháp Cứu là người ở thế kỷ I trước Công Nguyên, Ngài chỉ làm
công việc cải biên. Bởi vì từ các tập Pháp Cú của ngũ bộ chúng Sa Môn, cho
đến khi các bộ phải phân chia, thì mỗi bộ điều có biên thêm, cải đổi. Tuy
nhiên chúng đều là trích từ trong kinh Phật ra, chứ không phải do sự tái
biên, cải biên mà giảm mất giá trị".
Cũng có người viết:
"Lúc Phật còn tại thế, Ngài Buddhaghosa không cho ghi chép Kinh, vì sợ tam
sao thất bổn. Mấy Tổ về sau giỏi chữ nghĩa văn chương nhất là vị gốc Bà La
Môn sẽ có thể thêm bớt làm sai lệch nguyên bổn, Ngài chỉ thuyết bằng tiếng
Pàli, tiếng bình dân xứ Magadha, không có chữ Nam Phạn, Bắc Phạn
(sanskrit) là của Đạo Bà La Môn, tuy hơi giống như tiếng Pàli, nhưng không
phải là một thứ tiếng như tiếng Việt Nam ở hai miền Nam, Bắc của xứ ta"
(Quyển Chú Giải Kinh Pháp Cú-tr 94, Q 1. Dịch Giả Trưởng lão Pháp
Minh). Lại nữa, theo Từ Điển Phật Học Huệ Quang của Phật Quang Sơn cho
biết: "Bản gốc Kinh Pháp Cú chữ Hán có nhiều loại: Loại 1000 bài tụng;
900 bài tụng; 500 bài tụng… Năm 224, ngài Duy Kỳ Nan đem về 26 phẩm, 500
bài tụng, sau lại thêm 13 phẩm, thành 39 phẩm - 752 bài tụng. Kinh này
hiện còn có bốn bản khác là: Kinh Pháp Cú (Pàli: Dhammapada); Phẩm Ưu Đà
Na (Phạn: Udàna- Varga, còn gọi: Ô đà nan phẩm), Che-du-brjod tshoms (bản
Tây Tạng), Kinh Pháp Tập Yếu Tụng, bốn quyển do ngài Thiên Tức Tai dịch
vào đời Tống-Trung Quốc (thuộc hệ tiếng Phạn, được xếp vào Đại Chánh Tạng
Tập 4). Trong đó bản Pàli gồm có 26 phẩm, 423 bài tụng (1 bài tụng có
nhiều đoạn). Bản này rất giống với bản do ngài Duy Kỳ Nan thỉnh về Trung
Quốc". Quan điểm này dễ gây hiểu lầm hai văn bản hoàn toàn giống hệt
nhau. Theo bảng đối chiếu trên thì giữa hai văn bản có sự chênh lệch về số
phẩm và số lượng bài kệ. Chi tiết này cũng cho thấy hai văn bản có phần
khác nhau. Vả lại, một số nước trên thế giới trước đây có so sánh hai văn
bản khác nhau nhưng Từ Điển Phật Quang Sơn lại cho bản Pàli rất giống với
bản chữ Hán do ngài Duy Kỳ Nan thỉnh về Trung Quốc. Điểm này, chúng ta
phải điều soát lại.
Do vậy, khi bàn về hai văn
bản chữ Hán và chữ Pàli thì chúng ta nên hiểu rằng: Hết thảy Phật Pháp đều
cùng bắt nguồn từ thân giáo, ngữ giáo của Đức Thế Tôn mà được lưu truyền
mãi về sau cho nên đôi lúc họ chú trọng lý lẽ của nghĩa câu, hoặc lúc
thiên về bảo thủ, cục bộ v.v...Từ đó, hình thành ra nhiều học phái. Thế
nên phải từ trong sự nghiên cứu so sánh mới hiểu rõ tính cộng thông và
tính sai biệt của nó. Được vậy mới có thể nhìn nhất quán về lời Phật dạy;
và có thể giải được Phật ý một cách hoàn chỉnh, hiểu rõ được cách thích
ứng với thế gian vô thường lưu biến này. Còn như cứ chấp một bề cho là
phải (bản chữ Hán đủ, bản Pàli thiếu), hoặc tự xưng nguyên thủy (bản Pàli
đúng, còn bản chữ Hán bị pha tạp bởi đạo Bà La Môn, Đạo Hồi. v.v...), hoặc
tự xưng cứu cánh, mình phải người trái, thì đó là một bóng mờ đáng sợ của
tiền đồ Phật Giáo vậy. Để hiểu rõ hơn, người viết xin đi sâu vào phần chi
tiết.
III-a. Những Phẩm
Khác Nhau Về Văn Bản Chữ Hán Và Chữ Pàli:
Y Theo bài tựa ở bản chữ
Hán của ngài Pháp Cứu soạn, cho biết: "Khi xưa lúc truyền đạt kinh này,
ngài Duy Kỳ Nan có những chỗ không hiểu nhân lúc gặp ngài Tướng Diễm rồi
theo đó mới thưa hỏi và thọ nhận những bài kệ lại được thêm 13 phẩm nữa,
đồng thời so sánh với bản cổ 26 phẩm 423 bài kệ rồi tăng bổ hiệu đính lại
thành 39 phẩm 752 bài kệ". Đó là 13 phẩm của bản Hán mà phẩm Pàli
không có. Mười ba phẩm ấy bao gồm: tám phẩm đầu, bốn phẩm cuối và một phẩm
Lợi Dưỡng ở gần cuối của văn bản. Nội dung lần lượt của mười ba phẩm này
như sau:
1/ PHẨM VÔ THƯỜNG:
Phẩm này có tổng cộng 21
bài kệ. Trong đó, từ bài kệ số 1 đến số 17 là mỗi bài có 4 câu, mỗi câu
có 4 chữ; riêng bài kệ số 18 có 6 câu, mỗi câu có 4 chữ. Tất cả 21 bài
kệ trên đều đặt trọng tâm vào đề tài "Vô Thường". Nghĩa là người ngủ
nhiều thì hôn mê, mạng sống được sung sướng thì buông lung, tham đắm ngũ
dục, chỉ lo cung dưỡng thân mình. Vì họ chấp trước bản ngã, không biết
vô thường, không hiểu mọi vật trên đời đều như vậy, không có cái gì
trường tồn; mọi người đều phải chết, không ai tránh được lẽ này, cho nên
chỉ có con đường đạo mới là chơn. Vì thế Đức Phật dạy chúng sanh biết
rằng: "Làm người từ xưa đến nay có bốn việc đáng sợ nhất đó là : 1. Sanh
phải già yếu; 2. Bệnh sẽ tiều tụy; 3. Chết thần thức ra đi và 4. Xa lìa
quyến thuộc". Rồi Đức Phật ví mạng người như dòng nước chảy liền nói bài
kệ số 4:
Như hà sử lưu
Vãng nhi bất phản
Nhân mệnh như thị
Thệ giả bất hoàn
Dịch:
Như dòng nước chảy,
Trôi mãi chẵng về .
Mạng người cũng thế
Chết rồi không lại
2/ PHẨM GIÁO HỌC:
Phẩm này có tổng cộng 29
bài kệ. Bài kệ từ số 1 đến số 4 là mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5 chữ.
Bài kệ từ số 5 đến số 16, là mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 4 chữ. Bài kệ
từ số 17 đến số 22 là mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5 chữ. Bài từ số 23
đến số 29, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 4 chữ. Tất cả 29 bài kệ trên đều
đặt trọng tâm vào đề tài "Giáo Học". Ý nói dẫn dắt người tu hành hãy
tinh tấn tu tập đạo nghiệp, dứt trừ các ấm cái, tâm trong sáng, tinh
thần định tĩnh, mới có thể tránh được các khổ. Và "Giáo Học" còn có
nghĩa là giải thích người ngu muội thấy được đạo rõ ràng. Ví như người
xuất gia học đạo mà không lo niệm kinh trì giới, chỉ biết tham mê lợi
dưỡng cung phụng cho huyễn thân, cứ ăn no lại ngủ không nhớ đến lẽ vô
thường. Người muốn cầu đạo trước phải dứt trừ si mê rồi sau mới chế phục
tâm. Tâm là nguồn gốc của thiện, ác. Muốn dứt trừ tận gốc ái dục phải
chế phục tâm. Tâm an định, ý thông hiểu mới đắc đạo được, như bài kệ số
4.
Chánh kiến học vụ
tăng
Thị vi thế gian minh.
Sở sinh phúc thiên bội.
Chung bất đọa ác đạo
Dịch:
Chánh kiến luôn
trau dồi,
Là ánh sáng giữ đời.
Phước đức tăng ngàn lần,
Chết không đọa đường ác.
3/ PHẨM ĐA VĂN:
Phẩm này có 19 bài kệ,
mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5 chữ. Tất cả 19 bài kệ này đều đặt trọng
tâm vào đề tài "Đa Văn". Nghĩa là khuyên người nghe nhiều học rộng thì
được bậc thánh, được trí chánh giác. Cũng như Đức Phật nhờ học rộng giáo
pháp không biết nhàm chán, phụng hành chánh đạo không có giải đãi, tinh
tấn trì giới tu huệ không có phóng dật, nên đạt đến Niết Bàn, cụ thể qua
bài kệ số 3.
Đa văn năng trừ ưu
Năng dĩ định vi hoan
Thiện thuyết cam lồ pháp
Tự trí đắc Nê Hoàn.
Dịch:
Nghe nhiều dứt âu
lo
Luôn vui trong thiền định.
Khéo nói cam lồ pháp
Tự mình được Niết Bàn.
4/ PHẨM ĐỐC TÍN:
Phẩm này có hết thảy 18
bài kệ. Trong đó, bài kệ từ số 1 đến số 3, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có
5 chữ; từ bài kệ số 4 đến số 18, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 4 chữ. Tất
cả 18 bài kệ này đặt trọng tâm vào đề tài "Đốc Tín". Nghĩa là đôn đốc
niềm tin, kết quả để thành lập đạo, là nguyên nhân để trở về tâm nguyện
của mình. Vì người chưa biết đạo đức, không tu giải thoát, cứ quen thói
ương ngạnh, dối trá, tham lợi, buông lung theo tình ý khó mong được giải
thoát khổ đau. Nếu người có lòng tin, tâm kiên cố, thọ trì ngũ giới làm
Phật Tử tại gia biết tu hành liền được trí huệ và hạnh lành, lần lần
người ấy vượt thóat sanh tử như bài kệ số 7.
Tín chi giữ giới.
Tuệ ý năng hành.
Kiện phu độ tuệ
Tùng thị thoát uyên.
Dịch:
Lòng tin và giới
luật
Tuệ quán siêng tu hành,
Bậc trượng phu trí tuệ,
Qua được vực tử sinh.
5/ PHẨM GIỚI THẬN:
Phẩm này có 16 bài kệ,
mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 4 chữ. Tất cả 16 bài kệ này đều đặt trọng
tâm vào đề tài "Giới Thận". Ý nói giữ điều khuyên răn, không phạm điều
cấm, về sau khỏi ăn năn. Do vậy, người hành đạo phải lấy giới làm căn
bản, lấy nhiếp tâm làm công hạnh, coi nhẹ thân thể, quý trọng chân lý,
xả thân cầu đạo. Ăn uống là để duy trì mạng sống, tu tập thiền định.
Phải hướng đến mục tiêu đắc đạo mà tu học chỉ quán, dứt trừ vọng tưởng.
Còn nếu chỉ lo cung dưỡng thân thể, chìu theo đòi hỏi thì làm sao thoát
được khổ đau? Cho nên Đức Phật dạy bài kệ số 8.
Tỳ Kheo lập giới.
Thủ nhiếp chư căn
Thực tri tự tiết
Ngụ ý linh ưng.
Dịch:
Tỳ Kheo giữ giới.
Nhiếp giữ các căn
Ăn biết tiết độ,
Ngủ nghĩ có chừng
6/ PHẨM DUY NIỆM:
Phẩm này có tổng cộng 12
bài kệ.bài kệ số 1 có 6 câu, mỗi câu có 5 chữ. Từ bài số 2 đến số 12,
mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5 chữ. Tất cả 12 bài kệ này đều đặt trọng
tâm vào đề tài "Duy Niệm". Nghĩa là hãy cẩn thận đối với những nguyên
nhân gây ra tội lỗi. Cũng có nghĩa những điều nhỏ từ trước phải giữ,
trong phải tự mình suy nghĩ cho an ổn mới hiểu được đạo. Như "Mạng người
mong manh sáng còn tối mất. Vô thường nghiệp báo không hẹn chợt đến. Chỉ
cần quán sát thân tứ đại do đâu mà có, tạm hợp thành rồi sẽ hoại diệt.
Đất, nước, gió, lửa sẽ trả về cho đất, nước, gió, lửa! Hãy tư duy tỉnh
giác, tâm vắng lặng không có vọng tưởng, chuyên niệm Tam Bảo, bố thí,
giới đức. Nếu có thể biết được lẽ vô thường thì cũng như thấy Phật! Nghĩ
đến việc ngày mai chỉ là vọng tưởng vô ích." Do vậy, Đức Phật dạy bài kệ
số 11.
Kỷ tri tự giác ý
Thị vi pháp đệ tử
Thường đương trú dạ niệm
Phật dữ pháp cập chúng.
Dịch:
Đã biết mình giác
ngộ
Mới là đệ tử Phật
Thường phải ngày đêm nhớ
Phật, Pháp, và chúng Tăng
7/ PHẨM TỪ NHÂN:
Phẩm này có hết thảy 18
bài kệ. Bài kệ từ 1 đến 6, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 4 chữ. Riêng bài
số 7 và số 10 thì mỗi bài có 6 câu, mỗi câu có 4 chữ. Còn bài số 8, số
9, số 11 đến số 18, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 4 chữ. Tất cả 18 bài kệ
này đều đặt trọng tâm vào đề tài "Từ Nhân". Ý nói bậc đại nhân đức bao
trùm vô lượng. Điều này khuyên chúng ta được làm người phải biết thương
yêu các loài chúng sanh để nuôi sống cho mình. Vì không có ai là không
tham sống sợ chết, cho nên giết chúng sanh nuôi sống bản thân mình tội
lỗi rất nặng. Do vậy, được làm thân người rất là khó , nên phải thực
hành tâm từ bi đối với mọi loài chúng sanh thì đời đời sẽ được an vui
như bài kệ số 1, Đức Phật dạy:
Vi nhân bất sát.
Thường năng nhiếp thân
Thị xứ bất tử
Sở thích vô hoạn
Dịch:
Làm nhân không giết
Thường hay nhiếp thân,
Chỗ đó bất tử.
Đi đâu không họa.
8/ PHẨM NGÔN NGỮ:
Phẩm này có 12 bài kệ.
Bài kệ từ số 1 đến số 4, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 4 chữ. Từ bài số 5
đến số 12, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5 chữ. Tất cả 12 bài kệ này đều
đặt trọng tâm vào đề tài "Ngôn Ngữ". Nghĩa là: con người sở dĩ dùng lời
nói phát ra để đàm luận phải đúng với chân lý, cho nên phải chú ý thận
trọng, gìn giữ lời nói cho hòa nhã, nghiêm túc, chớ nói những lời ác,
chưỡi rủa mắng nhiếc nhau là tự hại cho mình. Do vậy, Đức Phật liền dạy
bài kệ số 3.
Phu sĩ chi sinh
Phủ tại khẩu trung
Sở dĩ trảm thân
Do kỳ ác ngôn
Dịch:
Phàm người ở đời
Gươm đao trong miệng
Sở dĩ chém mình,
Do lời nói ác.
9/ PHẨM LỢI DƯỠNG:
Phẩm này thuộc phẩm thứ
33 trong bản Hán, có 20 bài kệ. Trong đó, bài kệ số 1, 2 và số 18 thì
mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5 chữ; các bài kệ còn lại, mỗi bài đều 4
câu, mỗi câu 4 chữ. Tất cả 20 bài kệ đặt trọng tâm vào đề tài "Lợi
dưỡng". Nghĩa là khuyên người phòng tham muốn. Vì tham muốn làm tổn đức
của mình, cho nên lúc nào trong tâm của họ đầy dãy xan tham, tật đố,
giận càn, mắng chưỡi, trù rủa, ôm lòng thâm độc v.v...không thể nghĩ bàn
làm cho uế sanh. Do vậy, là đệ tử của Phật nên phải sáng suốt chớ có
tham lam, tật đố v.v... dầu mình ở cõi nào đi chăng nữa. Vì thế, Đức
Phật dạy bài kệ số 4.
Tuy hữu thiên dục
Tuệ xả bất tham
Nhạo ly ân ái
Vi Phật đệ tử.
Dịch:
Tuy dục lạc cõi
trời.
Sáng suốt bỏ không tham
Vui viễn ly ân ái
Là đệ tử Phật Đà.
10/ PHẨM NÊ HOÀN:
Phẩm này thuộc phẩm thứ
36 trong bản Hán, có tổng cộng 35 bài kệ. Trong đó, bài kệ số 1 và số 13
đến số 19, và kệ từ số 21 đến kệ số 35 là mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5
chữ. Bài kệ từ số 2 đến số 7, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 4 chữ. Bài kệ
từ số 8 đến số 12, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 6 chữ. Riêng bài kệ số
20 có 6 câu, mỗi câu có 5 chữ. Tất cả 35 bài kệ đều đặt trọng tâm vào đề
tài "Nê Hoàn". Nghĩa là trở về đạo lớn, tịch diệt độ được sinh tử. Như
bài kệ số 24, Đức Phật dạy:
Lợi thắng bất túc
thị
Tuy thắng du phục khổ
Đương tự cầu thắng pháp
Dĩ thắng vô sở sanh
Dịch:
Thắng người không
đủ cậy,
Tuy thắng, vẫn lại khổ
Phải cầu pháp tự thắng,
Thắng rồi được vô sanh.
11/ PHẨM SINH TỬ:
Phẩm này thuộc phẩm thứ
37 trong bản Hán, có tổng cộng 18 bài kệ, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5
chữ. Tất cả 18 bài kệ này đều đặt trọng tâm vào đề tài "Sinh Tử". Ý nói
các người có vong linh tùy theo sự tu hành mà chuyển sanh. Như bài kệ số
3, Đức Phật dạy:
Thị thân vi tử vật,
Tinh thần vô hình pháp.
Giả linh tử phục sinh
Tội phước bất bại vong
Dịch:
Thân này là vật
chết
Tinh thần vật vô hình
Thân chết, thức tái sinh.
Tội phước vẫn không mất.
12/ PHẨM ĐẠO LỢI:
Phẩm này thuộc phẩm thứ
38 trong bản Hán, có tổng cộng 19 bài kệ. Trong đó, có bài kệ số 16, 17
là mỗi bài có 6 câu, mỗi câu có 5 chữ. Các bài ệ còn lại là mỗi bài có 4
câu, mỗi câu có 5 chữ. Tất cả 19 bài kệ đều đặt trọng tâm vào đề tài
"Đạo Lợi". Nghĩa là bất cứ những ai hay Cha, Mẹ, Thầy Tổ khai mở con
đường hành thiện, diệt được tiền khiên oan trái để đến con đường chánh.
Như bài kệ số 1, Đức Phật dạy:
Nhân tri phụng kỳ
thượng
Quân phụ sư đạo sĩ
Tín giới thí văn tuệ.
Chung kiết sở sinh an.
Dịch:
Người biết thờ bậc
trên
Vua, Cha, Thầy, Đạo Sĩ.
Có tín, giới, thí, tuệ.
Chết tốt, tái sinh an.
13/ PHẨM KIẾT
TƯỜNG:
Phẩm này thuộc phẩm thứ
39 trong bản Hán, có 19 bài kệ, mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 5 chữ. Tất
cả 19 bài kệ này đều đặt trọng tâm vào đề tài "Kiết Tường". Ý nói nếu
mình tu hành tốt đẹp bỏ được cái ác và tu được cái thiện thì mình sẽ
được hưởng cảnh tốt đẹp. Như bài kệ số 5, Đức Phật dạy:
Khứ ác tùng tựu
thiện
Tị sửu tri tự tiết
Bất dâm ư nữ sắc
Thị vi tối kiết tường
Dịch:
Bỏ ác theo điều
thiện,
Tránh rượu, biết tiết chế.
Không dâm với nữ sắc,
Là tối thượng kiết tường.
III-b. Những Phẩm
Giống Nhau Về Văn Bản Chữ Hán Và Chữ Pàli:
Ở hai văn bản Hán và Pàli
đều có 26 phẩm tương đương với nhau. Tức là 26 phẩm còn lại của bản Hán
hoàn toàn giống với 26 phẩm của bản Pàli. Điều này chứng minh rằng: Dù hai
văn bản thuộc hai ngữ hệ Hán và Pàli nhưng nội dung đề tài cơ bản của từng
phẩm đều giống nhau. Tuy nhiên, số lượng bài kệ của mỗi phẩm đôi lúc có sự
chênh lệch, có phẩm bằng nhau, có phẩm nhiều, phẩm ít. Như chúng ta đều
biết kinh Pháp Cú là tập hợp những bài kệ nằm rãi rác trong các Kinh-
Luật- Luận. Có lúc nghĩa của một bài kệ mà Đức Phật lại tùy theo căn tánh
của chúng sanh nên trình bày trong nhiều trường hợp khác nhau. Do vậy, đôi
khi nghĩa của từng kệ có khác nhưng nội dung cơ bản vẫn không có gì lạ. Để
tìm hiểu điểm nhất quán trong kinh, người viết xin lần lượt giới thiệu
từng phẩm một.
PHẨM SONG YẾU:
Phẩm này của hai văn bản
gồm những bài kệ song đối nhau, bao hàm các nội dung đối lập nhau, giữa
tốt và xấu, giữa thiện và bất thiện, được biểu lộ qua các hành động của
chính mình đã tạo và gặt lãnh kết quả từ những hành động tạo tác ấy. Với
bản Hán có 22 bài kệ và ở bản Pàli có 20 bài kệ, ta có thể lập bảng đối
chiếu như sau:
|
Hán |
Pàli |
Hán |
Pàli |
Hán |
Pàli |
Hán |
Pàli |
Hán |
Pàli |
|
1 |
1 |
5 |
5 |
9 |
9 |
13 |
13 |