KINH A SOA MẠT BỒ TÁT
Hán dịch: Tam Tạng
Pháp Sư Trúc Pháp Hộ, Nước Nguyệt Chi - Ðời Tây Tấn
- Việt dịch: Tuệ
Khai cư sĩ - Phan Rang
Chứng nghĩa: Tỳ Kheo Thích Đỗng Minh
--- o0o ---
Quyển thứ sáu.
Ngài A Soa Mạt nói rằng
:
- Thưa ngài Xá Lợi Phất !
Nghiệp công đức và nghiệp Thánh tuệ của Bồ tát cũng chẳng thể tận. Sao gọi
là Ðức nghiệp ? Nếu có thể bố thí ra sở hữu của bản thân, đức trì giới,
nghiệp đạo tuệ. Thường hành Từ tâm, tư duy định ý, hành vô cực ai, phụng
mọi gốc thiện, vì thân mình thí cũng vì người khác. Tập hợp công đức,
khuyến thí tất cả chúng sinh ba đời, phổ cập đến những bậc học và cùng
chẳng học, các Duyên giác thừa. Cũng lại khuyến trợ những người mới phát ý
học pháp Bồ tát, người đã chứng nhập hạnh, bậc Bất thoái chuyển, bậc Nhất
sinh bổ xứ, các đức Phật quá khứ, đương lai và hiện tại. Khuyên khắp gốc
đức, hành động phúc lộc tốt lành hết thẩy đều chúc nguyện chư Phật hiền
thánh. Thầy giảng Kinh pháp nhờ công đức đó khiến cho được trường tồn, thọ
mạng vô cực. Khuyên mọi gốc đức, tuy hợp phúc lộc mà họ chẳng phát ý thì
khuyên phát tâm đạo. Kẻ đã phát tâm thì khiến cho độ vô cực. Nếu có kẻ
nghèo thiếu thì cứu lấy bằng của cải. Người ấy thân bệnh thì cấp cho thuốc
thang, tuy lúc cung dưỡng chẳng mang lòng dua nịnh. Người ấy yếu hèn thì
khuyên lập nhẫn nhục. Người ấy che giấu tội thì khiến cho họ chẳng giấu
lỗi, thường mang lòng xấu hổ lộ bày tội ương, phụng kính các đức Phật hiện
tại và quá khứ, yêu kính qui mạng thầy hòa thượng, thường hành pháp thí,
giáo hóa vô sư chủ, siêng tu tinh tấn, cầu pháp chẳng giải đãi, thấy các
pháp sư như nhìn thấy Phật, nghe pháp không chán, hoài bão trong tâm niệm.
Cách xa mười bốn ngàn dặm mà có Kinh thì nên tự đi đến, chẳng lấy làm nhọc
nhằn. Tuy nói Kinh pháp, chẳng hâm mộ lợi dưỡng. Hiếu thuận với cha mẹ,
ngày đêm cung dưỡng, chẳng rời bên cạnh, thường nghĩ lại ơn nhũ bộ, chẳng
ôm lòng hận, tích đức không chán, hành động của thân kính cẩn, hình thể
không trang điểm diêm dúa, thường giữ gìn lời của miệng, chẳng diễn lời
nói thô ác, tự giữ ý mình, lòng chẳng mang độc hại. Kiến lập chùa Phật,
giảng đường tinh xá thi thu hoạch công đức phước báo giống như trời Phạm.
Sao gọi là Phước Phạm (phước đức của trời Phạm) ? - Khi đức Phật mới thành
đạo, liền muốn Diệt độ thì chư thiên nghiễm nhiên đều đến khuyến trợ :
“Ngài vốn vì tất cả, muốn độ mười phương, năm sông, ba nguồn chảy tràn
chẳng dứt, nguyện giữ bổn thệ khai độ tất cả mê hoặc, mù tối, điên đảo,
trên dưới sáu mươi hai kiến, chìm đắm bế tắc tại chín mươi sáu đường.
Nguyện xin đức Ðại Thánh dùng ánh sáng tế độ cho !” Ðức Phật nói rằng :
“Hay thay ! Vua trời mang lòng từ ! Ðời ngũ trược rất khó khai hóa ! Ta sẽ
phân ra ba thừa mà khai hóa, dẫn dụ, sách tấn rồi nhiên hậu mới có thể vào
Ðại Ðạo Vô thượng”. Phước của trời Phạm này chẳng thể nói lên giới hạn, Kẻ
hưng tạo Phật tự công đức cũng vậy, chứa vô lượng đức. Nhân công huân này
mà đầy đủ những ba mươi hai tướng. Nhờ phụng hành ngần ấy những gốc thiện
nên đầy đủ tám mươi vẻ đẹp. Tu hành thập thiện mà chẳng tự đại nên thân ấy
trang nghiêm đoan chánh đẹp đẽ. Ném bỏ tất cả lời nói thô ác, nhờ đó miệng
trang nghiêm, diễn nói biện tài.Thường có lòng từ chẳng mang độc hại thì
lòng trang nghiêm thanh tịnh như ngọc sáng. Cõi Phật trang nghiêm, thần
thông biến hóa. Kinh điển trang nghiêm vì người khác giảng nói. Chúng hội
trang nghiêm khiến cho mọi người phụng sự đạo giáo. Trừ bỏ lưỡng thiệc, ác
khẩu, sàm ngôn (nói gièm pha), ganh tị người. Hỏi han thính thọ kinh điển
mà quan sát. Lấy gì khai hóa độ thoát khiến cho đến với Ðại đạo ? Có điều
ban tuyên thì chưa từng vượt thứ lớp, cũng không ép uổng, sắc mặt vui hòa,
mọi người thấy không ai chẳng vui vẻ, cắt bỏ ấm cái, một lòng nghe kinh,
lấy ý niệm thông minh linh lợi làm trang nghiêm, cúi đầu qui mạng các đức
Phật chánh giác, trang nghiêm đạo tràng, tuân theo mọi gốc đức lấy làm
nguyên thủ. Làm thanh tịnh chỗ sinh sống, tương hộ tội phước, ái dục, trần
lao, đạt được bàn tay báu đều có thể bố thí tất cả của báu quan trọng mà
không hy vọng. Dùng của cải nhiều vô cực mà thí cho thì đạt được kho báu
rộng lớn vô tận. Mặt thường hòa vui, chẳng lộ nét mặt lo buồn nên thân
hữu, bè bạn đồng học, không ai chẳng vui mừng. Tâm bình đẳng đối với chúng
sinh, nhờ đó đạt được bình thản như lòng bàn tay, chẳng khinh người chưa
học. Ưa đốt đèn lửa cống hiến lên chùa Phật, cha mẹ, thầy bạn thì được ánh
sáng thanh tịnh không đâu chẳng chiếu soi. Tích đức, phụng giới tu hành
không thấm bẩn, đời đời sống tại chỗ thanh tịnh, chẳng nhiễm dơ bẩn của
người khác, hoặc ở tại thai tạng thường không nhiễm cấu bẩn. Phụng hành
thập thiện thì sinh lên trời. Trở lại ở tại nhân gian chưa từng tưởng niệm
tất cả lưới kết sử. Do vậy nên độc bộ mà không hư vọng, dạy bảo pháp vô sư
nên đối với các pháp là bậc tôn hào cùng cực, chí tánh thanh tịnh, khắp
đời mọi người nhìn thấy không chán. Chẳng tiếc thân mạng, chưa từng hư
dối, không lấn lướt ép uổng, nhờ những nguyện xưa có thể thành tựu đầy đủ
đạo pháp của các đức Phật. Do vậy cho nên đầy đủ mọi gốc đức. Thưa ngài Xá
Lợi Phất ! Kiến lập gốc đức mỏng manh mà tùy lúc nuôi dưỡng thì thu được
phước không lường, lại quá hơn phước này chẳng thể nói lên hạn lượng. Tôi
thô thiển nêu lên đôi điều cần yếu, chẳng phu diễn hết được. Sao gọi là
tuệ nghiệp đã từ nhân do thọ thần thức ấy biết năm tuệ thông ? Sao gọi là
nhân ? Sao gọi là do ? Người nhiều dục ấy thì thường cầu Phật pháp, thân
hữu minh tuệ thường cùng với họ hỏi han, thính thọ, phụng kính, chấp ngự
Phật tuệ, chẳng cầu thừa Thanh văn, Duyên giác, lìa khỏi tự đại, phụng như
bậc Tôn Thánh, kính như bậc Chánh Giác, Chí tánh điều hòa nhìn thấy các
thân hữu, tuân theo tuệ nghĩa, chẳng chấp trước ngôn từ. Thấy các pháp sư
tu hành đạo phẩm thì chẳng ưa ngoại hình mà nghe lời nói pháp, siêng tu
theo lời pháp giáo. Người hành pháp ấy chính là làm tuệ nghiệp.
Sao gọi là pháp nghiệp ? Ít
cầu, thiểu dục chẳng tại miệt mài, thiểu lời ít nói thường tự giác ngộ, tu
hành tinh tấn. Có được nghe nghĩa thì suy nghĩ xưng lường, đói rỗng đối
với pháp thì chưa từng lười biếng mệt mỏi. Lòng ấy tươi sáng chẳng bị sự
che chắn của năm cái, hối hận tội lỗi, tiêu hóa mọi tai ương. Ý ấy chất
phác mà không dua nịnh, lấy hạnh làm cốt yếu, yêu pháp, ưa pháp, lấy pháp
làm gốc, cử động làm pháp, luôn luôn cầu Kinh nghĩa như cứu đầu cháy tơ
tóc và da. Siêng năng tu thân, tập làm theo trăm họ chưa từng lìa xa, dong
ruỗi theo đường thù thắng, ném bỏ loạn hội, một mình ở riêng một chỗ, ưa
thích nhàn cư. Tu tập nhân hiền, giới hạn điều tiết biết đủ, chưa từng
thoái lui quay lại. Ưa thích pháp lạc, chẳng mộ thế vinh, cứu độ thế pháp,
chí chẳng bỗng quên mất. Cử động tiến lùi thường ưa yếu nghĩa, cầu nghiệp
nhu thuận, tích lũy điều bền vững cần yếu, mang hổ thẹn, tu niệm tuệ sáng
suốt, điều khiển những kẻ vô trí trừ bỏ ngu si năm lưới mù tối, tuệ nhãn
thanh tịnh. Sự giác liễu ấy rất là mênh mông, lấy ý Thánh tuệ vô vi soi
chiếu xa xôi. Trí tuệ hiện tại, công huân đương lai chẳng tự dương danh mà
khen ngợi công huân người khác, khéo tu nghiệp Thánh, chẳng lìa tội phước,
tịnh tu đạo tuệ. Lại nữa, tuệ nghiệp ấy có bốn việc thí mà đạt đến được.
Một là thí giấy, tre, lụa. Hai là đem viết ban cho để viết Kinh bản. Ba là
thí cho mực tốt và cả nghiên mài mực. Bốn là pháp sư đã diễn giảng ngần ấy
pháp, nhân theo đó mở mang thọ nhận những điều có thể khó đạt đến của thế
gian. Ðể cúng dường pháp sư, hoặc dùng kệ tụng
thí cho người, hoặc có diệu pháp trao cho pháp sư mà chẳng mang lòng dua
nịnh, chí thành bố thí. Thí bốn việc này thì được đạt đến tuệ nghiệp,
chứng được năm việc là tín, giới, tuệ, giải thoát, độ tri kiến. Nuôi hộ
bốn tuệ mà được tự tại. Sao gọi là bốn ? Một là nuôi hộ pháp sư lấy làm sư
chủ. Hai là nuôi hộ dòng giống chẳng khởi loạn tâm. Ba là nuôi hộ đất đai,
làng ấp, ý người. Bốn là tự thủ hộ tâm khiến cho chẳng dong ruỗi. Ðó là
bốn việc. Lại có bốn việc gần gũi tuệ nghiệp khiến cho đức thành tựu. Sao
gọi là bốn ? Một là đem kinh điển sâu xa dâng tiến pháp sư. Hai là ngày
đêm ân cần gần gũi tuệ nghĩa. Ba là sự thiếu thốn y thực được cung cấp.
Bốn là dần dần gần gũi đạo tràng mà chẳng thoái lui quay lại. Ðó là bốn
việc. Nhờ đó nên hành giả đạt đến năm lực tuệ. Sao gọi là năm ? Một là tín
lực. Hai là giải thoát lực, tinh tấn chẳng phế bỏ, nghe rộng chẳng chán.
Ba là ý lực, chẳng bỏ đạo tâm. Bốn là định lực, bình đẳng nhìn các pháp.
Năm là trí lực, điều nghe được chẳng quên. Ðó là năm lực. Nghiệp giới tuệ
lực lại có bốn việc. Sao gọi là bốn ? Một là dùng pháp an đế (yên ổn chắc
chắn) để phụng hành căn bản của cấm giới. Hai là suy nghĩ về kinh điển xem
xét sự qui thú của nghĩa. Ba là dùng pháp để khuyến trợ đối với đạo chân
chính. Bốn là cốt cầu lời dạy bảo quan trọng lấy pháp làm giới (cấm). Ðó
là bốn tuệ. Hành nghiệp Nhẫn lại có bốn việc. Sao gọi là bốn ? Một là tinh
tấn cầu pháp. Nếu có kẻ gia ác mắng chửi thân mình mà đều nhẫn hết. Hai là
yêu thích pháp. Nếu gặp chiến đấu, tranh tụng, đói khát, nóng lạnh... đều
có thể nhẫn nhịn được. Ba là phụng kính thiện sư, thuận theo mệnh lệnh của
Hòa Thượng. Bốn là trăm họ suy nghĩ pháp nhẫn là nghĩa Không, Vô tướng, Vô
nguyện. Ðó là bốn việc. Hành nghiệp tinh tấn lại có bốn việc. Một là siêng
cầu nghe kinh chẳng lấy làm nhọc mệt. Hai là nghe rồi thì chấp trì chưa
từng quên sót. Ba là tinh tu nói pháp, chẳng lười biếng phế bỏ. Bốn là
trăm họ phụng hành, lấy làm chánh nghiệp. Ðó là bốn việc. Hành nghiệp
thiền định lại có bốn việc. Một là căn tâm tịch tịnh mà không rối loạn ồn
ào. Hai là thường một ý ấy, khổ vui không hai. Ba là một lòng tinh chuyên
cầu các thần thông. Bốn là vào đến Phật tuệ, tiêu trừ trí thế tục. Ðó là
bốn việc. Hành nghiệp trí tuệ lại có bốn việc. Một là chẳng trụ ở đoạn
diệt. Hai là chẳng ở “hữu thường”. Ba là tâm ấy chẳng mê, hiểu rõ chẳng
loạn gốc của duyên khởi. Bốn là tin không ngô ngã. Ðó là bốn việc. Nghiệp
thiện quyền tuệ nghiệp lại có bốn việc. Một là với kẻ ưa thế pháp thì tùy
theo thế tục mà giáo hóa. Hai là kẻ cho là có người thì theo đó mà dắt dẫn
lại. Ba là lại dùng kinh đạo và nhân theo đó dẫn dụ sách tiến. Bốn là
người tu tuệ giải nhân theo ánh sáng mà độ. Ðó là bốn việc. Nghiệp đạo tuệ
lại có bốn việc. Một là tu lục độ vô cực mà được đến đạo. Hai là đã đạt
qui tận (về hết), đi với chánh hóa. Ba là học ấy điều hòa tâm, gọi là bảy
giác ý. Bốn là thường tinh tấn tuân hành tất cả gốc trí tuệ. Ðó là bốn
việc. Nghiệp không chán Thánh lại có bốn việc. Một là nghe pháp không
chán. Hai là ban tuyên kinh điển mà không lười biếng khó khăn. Ba là thách
thức phiền não thì xem xét căn nguyên chẳng lấy làm nhọc nhằn. Bốn là sáng
đạt tiết tháo cao, thông lợi không mệt mỏi. Ðó là bốn việc vậy.
Ngài A Soa Mạt lại nói rằng :
- Bồ tát ấy có thể vào cùng
khắp, nếu bố thí thì phải chánh quán nghiệp trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
nhất tâm, trí tuệ, từ bi hỷ hộ. Sở dĩ vì sao ? Vì Bồ tát tuy chưa thành
tựu tất cả nhưng lấy trí tuệ làm đầu ở đất đai Thánh nên đều về với đạo,
trụ ở Chánh tuệ, giáo hóa kẻ không tuệ nghĩa khiến cho về Ðại thừa, tất cả
các ma chẳng được tiện nghi của chúng. Tất cả đều là sự kiến lập của chư
Phật để đến Nhất thiết trí Vô Thượng Chánh Chơn. Ðó là nghiệp Thánh tuệ
của Bồ tát mà chẳng thể tận.
Ngài A Soa Mạt nói rằng :
- Thưa ngài Xá Lợi Phất ! Ý chỉ
của Bồ tát cũng chẳng thể tận. Bồ tát đó tự quán thân mình, quán thân
người khác, quán bổn hạnh của thân thành tựu nghiệp tinh tấn, xem xét theo
sự hợp thành báo ứng của thân để biết thân không có chủ, không thể tham
giống như quan sát bên ngoài cỏ cây, hoa trái, rừng rậm, cỏ rơm... từ nhân
duyên sinh, đều không chủ, không tên. Thân đó như vậy. Giống như cỏ cây,
tường vách, sành đá, bóng trong nước... sự mê hoặc của năm ấm, bốn đại như
vậy. Phải quán thân mình rỗng không, không có ngô ngã, chẳng thường còn
mãi, không có bền chắc là vật dễ vỡ nát, là pháp phân ly. Do vậy cho nên
chẳng được cho rằng thân chính là ngã sở (vật sở hữu của ta). Vì thân dễ
tan vỡ, không bền chắc này nên phải cầu yếu nghĩa. Sao gọi là yếu nghĩa ?
Thân Như Lai mới gọi là chân yếu. Ta phải siêng cầu thành tựu Thánh thể
của Phật, pháp thân vô cực, giống như Kim cương chẳng thể phá hoại, siêu
việt tất cả thân phàm tục của ba cõi. Giả sử thân thể này tỳ vết không
lường, nhân đó phải trừ tất cả vẩn đục thì phải đạt đến pháp thân không
tuệ của Như Lai. Do sức siêng tu tập hợp mọi đức, chân thành tụ hội xem
xét thân bốn đại. Ta đem
thân này để vì chúng sinh, chí cầu tu đạo.
Giống như xem xét bên ngoài có bốn đại, đất nước lửa gió đã tạo thành ngần
ấy hình tượng nào là cửa ngõ, giếng bếp, tạo lập nhà cửa, nghề nghiệp sinh
sống để yên ổn mọi người. Thân bốn đại của ta cũng lại như vậy,
nhờ ngần ấy việc mà nương cậy vào để dấy khởi ngần ấy tiện nghi, vô lượng
của cải. Vậy mới được nghiệp an dưỡng thân. Quan sát thân đau khổ chẳng
thể nói lên giới hạn, quan sát vô thường sinh tử qua lại mà chẳng nên lại
tham thọ hình không cùng cực. Quan sát thân vô ngã mà loài chúng sinh
chẳng hiểu thấu gốc ngọn thì phải dạy bảo khiến cho họ chán nản hoạn nạn
này. Quan sát thân tịch nhiên, đem đến một định khiến cho hành giả tu tịnh
mặc. Phải quan sát thân
Không, Vô tướng, Vô nguyện thì liền với bản
tế thanh tịnh đạm bạc. Bồ tát đó tự quán thân mình, quán thân người khác
không có sự ưa thích, chẳng cho là bền chắc, biết chẳng trường tồn. Xét
bên trong thân hạnh chẳng lại nghe từ bên trong các hoạn nạn trần lao ái
dục. Lại quán bên ngoài thân thì chưa từng được cùng ngoại trần hợp chung.
Thân không nhọc nhằn dơ bẩn, hành động thanh tịnh. Thân đã thanh tịnh
nhiên hậu liền đạt đến hình dáng đẹp, thân thể trang nghiêm. Thân thể hình
dáng đã thành tựu là quá hơn chư thiên và người thế gian, dung nhan lồng
lộng không có ai sánh bằng. Ðó là Bồ tát tự quan sát thân mình, quan sát
thân người khác kiến lập ý chỉ.
Sao gọi là Bồ tát tự
quan sát thống dương, quan sát thống
dương người khác mà được ý chỉ ? Bồ tát phát ý quan sát như vầy. Ðiều có
thể trải qua đều chính là khổ não. Xem xét thống dương đó để cầu gặt hái
Thánh tuệ, tuyển chọn minh trí, ưa thích tịch nhiên. Giả sử gặp vui thì
chẳng buộc mình ở dục. Nếu tồn tại ở dục thì dính dáng đến đau khổ. Thấy
các chúng sinh đọa vào những đường ác, hoạn nạn nơi tam đồ thì vì họ dấy
khởi Ðại Ai, chẳng do lưới kết sử mà thấy trói buộc. Tuy thân đã gặp những
thống dương chẳng khổ, chẳng vui thì chẳng bị si tối, lưới kết sử mà thấy
trói buộc. Tuy ở tại ý thống dương mà tịch định. Từ chỗ đến lại chẳng
thống dương khổ, lạc thì do Thánh tuệ hiển bày cho chúng sinh. Ném bỏ
nghĩa vô ích của thống dương. Tiêu trừ thống dương của tất cả chúng sinh.
Mặc áo giáp đồng đạm bạc, lòng tự nghĩ rằng : “Những quần lê này đều về
tại thống dương, chẳng tự hiểu rõ, trói buộc ở đất của mọi khổ thống dương
thường ôm lòng lo buồn. Nương cậy thống dương chẳng khổ chẳng vui mà vì đó
mê man. Do đó cho nên chẳng vào được trí tuệ còn nhiếp lấy Ðại ai thì vào
đến trí tuệ, hiểu rõ ngưng nghỉ tất cả thống dương. Nhân Ðại ai này mà
khiến cho các chúng sinh miễn trừ mọi nạn, vì họ tuyên nói Kinh điển. Sao
gọi tên đó là
Thống dương ? Trong lòng mang phiền não, hoặc lại thành niềm vui. Sao
gọi là chọn lựa ? Ðây không thống dương, không ngã, nhân, thọ mạng. Lại Bồ
tát đó chẳng cậy vào thống dương, cũng không tham lam hộ trì. Việc thọ
thống dương không ngược lại với hạnh, không đảo lộn thống dương, cũng
không vọng tưởng thống dương các kiến, cũng không thống dương của mắt,
tai, mũi, miệng, thân, tâm, cũng không thống dương sắc, thanh, hương, vị,
xúc. Cái thuộc về mắt là từ nhân duyên khởi mà cho là khổ, vui, không
khổ, không vui thì đó gọi là thống dương. Nói tóm lại, trong ngoài cũng
vậy, từ nhân duyên sanh cho đến thống dương, khổ vui, thiện ác, chẳng khổ,
chẳng vui. Cứ một thống dương nhân theo một tâm thức. Hai thống dương thì
gọi là có trong ngoài. Ba thống dương thì tùy theo lời dạy quá khứ, từ
hành động đương lai nhân theo sự nhận thức hiện tại. Bốn thống dương thì
gọi là từ bốn thứ đất nước lửa gió. Năm thống dương thì từ ý niệm năm ấm :
sắc, thống dương, tư tưởng, sinh tử, thức. Sáu thống dương là từ sáu suy.
Bảy thống dương là từ bảy thức. Tám thống dương là hoặc từ tám tà mà mê
man.
Chín thống dương thì gọi là chín chỗ thần. Mười thống dương thì gọi là
mười nghiệp ác. Nói tóm lại tất cả thống dương đều do tham lạc. Nhân từ ý
niệm dục mà đạt đến mọi thống dương. Vậy nên nói rằng chẳng thể tính thống
dương nhiều không lường của con người. Bồ tát ở đó quan sát thống dương
của mình và quan sát thống dương của người khác, biết được sự khởi lên,
phân biệt thống dương của mọi quần lê, rồi sẽ hiển bày tuệ nghiệp khiến
cho các chúng sinh nhân tuệ thống dương mà nhìn thấy gốc đức, trừ khử các
tội. Ðó là Bồ tát quan sát thống dương của mình quan sát thống dương của
người khác mà tâm ý dừng vậy.
Sao gọi là Bồ tát tự quan sát tâm mình và
quan sát tâm người khác mà ý ấy dừng ? Tâm Bồ tát ấy chưa từng bỗng
chốc quên. Cử động bước đi thường tự nuôi hộ mà lại xem xét. Lòng vừa dấy
lên đã liền tiêu diệt ngay, không chỗ thường trụ, chẳng trụ tại bên trong,
cũng chẳng ở bên ngoài, chẳng được cả hai nơi. Ta từ lúc mới bắt đầu phát
tâm Bồ tát đến nay tâm đó tận diệt, ly biệt, tan nhỏ ra, đều không có chỗ.
Tâm ấy không vô xứ mà chẳng thể ở đó. Tâm ở chỗ nào đó thì tâm ấy đã gom
mọi gốc đức, chính đó cũng diệt tận, ly biệt, tan nhỏ ra, không chỗ nào
chẳng ở, chẳng thể phân biệt, đã có thể nhân đó khuyên phát ý đạo thì cũng
lại tự nhiên. Do đó nên nói rằng, tâm thì chẳng biết tâm, tâm thì chẳng
thấy tâm, tâm tâm chẳng đợi nhau. Sao gọi tâm ấy mà phát ý đạo Vô Thượng
Chánh Chơn, thành Tối Chánh Giác. Tâm đạo ấy thì chẳng cùng thiện hòa hợp.
Tâm gốc thiện ấy chẳng cùng khuyến trợ, ý chung đều hòa hợp. Tâm thanh
tịnh ấy chẳng bỏ tâm đạo. Người ấy quan sát điều này chẳng sợ chẳng hãi,
cũng chẳng ôm lòng tủi thẹn. Lại nữa, lòng nghĩ mười hai nhân duyên rất là
thâm diệu chẳng mất báo ứng kết quả đã gieo trồng. Tâm cũng chẳng đắm
trước với tất cả pháp. Giả sử nhân duyên từ báo ứng đạt đến thì tất cả các
pháp không có chân đế, cũng không vua chúa (?). Buông thả sở dục ấy mà tự
mê hoặc. Ta phải tinh tấn nắm giữ sự nhất tâm ấy khiến cho chẳng hồi
chuyển. Sao gọi là tâm pháp ? Sao gọi là mê hoặc ? Tâm như huyễn hóa không
thể tịnh thì đó là tâm pháp. Giả sử cởi bỏ hết việc mê hoặc, khuyến trợ
đất nước Phật mà đó cũng mê hoặc thì tâm như giấc mơ đêm, thức dậy chẳng
biết ở đâu. Ðó là tâm pháp. Nếu đối với cấm giới mà tu hành cẩn thận rồi
nhiên hậu tư khuyên thì đó là năm thần thông, đó là biến hóa. Tâm như ngựa
hoang, gốc ngọn diệt hết, đó là tâm pháp. Giả sử do thuận theo tất cả nhẫn
lực, an hòa Chánh Giác trang nghiêm tâm ấy mà biến hóa, dùng để khuyến trợ
thì đó là biến hóa. Tâm như vầng trăng trong nước rốt ráo tự nhiên, tịch
tịnh đạm bạc thì đó là tâm pháp. Nếu tinh tấn khuyến phát đều đầy đủ vô số
Phật pháp thì đó là biến hóa. Tâm chẳng thể giữ, cũng chẳng thể thấy thì
đó là Tâm pháp. Nếu lại đủ hết thiền tư thoát môn, tam muội chánh thọ,
nguyện Phật định ý thì đó là biến hóa. Tâm là vô hình, không so sánh,
không mệnh lệnh, cũng không sắc tượng thì đó là Tâm pháp. Nếu có thể ban
tuyên phân biệt trí tuệ, khuyến trợ Phật đạo, tìm về đời xa xưa thì đó là
biến hóa. Tâm không nhân duyên, nhất định chẳng khởi sinh thì đó là Tâm
pháp. Nếu có thể dẫn đường, ngự trị tất cả gốc đức thì đó là biến hóa. Giả
sử tâm không có đối, nhất định chẳng khởi thì đó là Tâm pháp. Nếu nhân báo
ứng của pháp mà tu theo đạo tâm thì đó là biến hóa. Cảnh giới tâm ấy vĩnh
viễn lìa khỏi cấu bẩn, ban đầu không có gì sinh ra thì đó gọi là Tâm pháp.
Nếu dẫn đường ngự trị tâm được đạt đến sự báo ứng, đến với cõi Phật thì đó
gọi là biến hóa. Bồ tát tự quán sát tâm mình, quan sát tâm người
khác đắc thần thông, tâm đó đã nhất định, rồi tìm thấy tất cả tâm
niệm chúng sinh, nhân đó nói tội phước đều tự nhiên. Bồ tát tự thấy tâm
ấy, thấy tâm người khác rồi thì dấy khởi Ðại ai. Ðã dấy khởi đại ai giáo
hóa chúng sinh, chẳng lấy làm nhọc mệt. Tâm ấy chẳng diệt, cũng lại chẳng
tận kiên trụ ở tâm ấy, chẳng cùng với sinh tử mà chung đồng trần, có thể
tự chế ngự tâm mình. Dùng tâm Thánh tuệ thông đạt này vào với pháp Bất
Khởi vô sở sinh, chẳng rơi vào đất Thanh văn, Duyên giác, thường tự chế
ngự tâm, kham nhận đầy đủ đạo pháp của chư Phật, trong khoảnh khắc một
niệm dùng tâm trí tuệ chứng được đạo Vô thượng Chánh Chơn, làm Tối Chánh
Giác. Ðó là Bồ tát tự quan sát lòng mình, quan sát lòng người khác được
đến ý chỉ.
Sao gọi là Bồ tát tự quan sát pháp của
mình, quan sát pháp của người khác được ý chỉ pháp ? Dùng mắt minh trí
nhìn thấy khắp các pháp, chưa từng giữa chừng quên mất thành tựu Phật đạo.
Tự quan sát pháp của mình, quan sát pháp người khác thì lúc đó Bồ tát thấy
hết các pháp. Tưởng ấy đối với không khiến cho thoát khỏi nghĩa không,
thoát khỏi vô tưởng nguyện, qua khỏi không sở sanh cũng không sở diệt mà
lìa khỏi các hạnh, bình đẳng thấy các pháp, bỏ cả duyên khởi, mười hai dẫn
dắt nối liền, quan sát hạnh pháp giới. Bồ tát xem xét pháp chẳng tùy theo
phi pháp, chẳng kể ngô ngã, cũng chẳng kể nhân, thọ mạng, xứ sở. Ðó gọi là
Pháp. Sao gọi là phi pháp ? Tự thấy ngô ngã, kể có nhân, thọ mạng, nhìn
thấy đoạn diệt, kể có thường còn mà thấy sự có không, hợp tan. Tất cả các
pháp đều cũng chính là Pháp, tất cả các pháp cũng lại chẳng phải pháp (phi
pháp). Sở dĩ vì sao ? Vì hiểu nghĩa không, vô tướng và vô nguyện. Tất cả
pháp đó đều là ứng pháp, tự cho là ngô ngã, trói buộc tại các kiến. Tất cả
pháp đó đều là phi pháp, người đó tự quán pháp, quán pháp người khác. Bồ
tát tu hành như thế này thì chẳng thấy các pháp. Phật pháp ở đâu ? Ai
chẳng phải Phật pháp ? - Người ấy không đường lối, không có giải thoát,
cũng không sinh tử thì đều có thể mở đường dẫn lối tất cả các pháp, ở với
chúng sinh, chứng được vô cái vô cực Ðại ai, trị liệu các trần lao, lòng
mình phát khởi niệm. Vô trần dục đó cũng không gì chẳng trần dục. Sở dĩ vì
sao ? Vì thú hướng đó là khai hóa độ thoát
bình đẳng, chẳng nghi trần lao,
chẳng sợ tham dục. Người hiểu rõ vậy thì mới gọi là Phật. Trần dục tự
nhiên, đạo cũng tự nhiên, kiến lập tâm như vậy, tuy có sở trụ cũng không
xứ sở, chẳng trụ ở ý kiến lập mà gọi là trụ. Ðó gọi là trụ lập ở pháp
giới. Chẳng trụ pháp giới, chẳng trụ nhân giới thì không chỗ trụ thì gọi
là hư không. Tất cả các pháp bình đẳng như hư không. Nếu có Bồ tát tự quán
pháp của thân, quán pháp người khác thì có thể dẫn đường ngự trị đạo pháp
của chư Phật. Tất cả các pháp đều qui về pháp giải thoát. Nếu người hiểu
rõ thì mới có thể hiển phát. Tận cùng đến vô vi cũng không tận cùng. Ðạo
không sinh ở chỗ chẳng sinh. Quan sát chúng sinh chưa từng lìa bỏ. Bản tế
vô sinh hướng đến ý chỉ của pháp. Ý
ở tại các pháp mà khiến cho trụ vững
bền, chẳng chấp trước pháp của Thanh văn, Duyên giác và Phật. Sao gọi là
trước ? Sao gọi là xứ đương ? Chỗ sở tại của tâm thường có thể trụ bền.
Trụ ấy chẳng mê, chưa từng bỗng chốc quên mất. Quan sát biên tế về sau,
nguyên do của pháp ấy, cũng quán pháp của người khác mà được ý chỉ. Ban
tuyên vô lượng, phân biệt chương cú. Sở hạnh không bờ bến, bình đẳng, ngự
trị Phật pháp, có thể làm vui lòng của tất cả chúng sinh, hàng phục mọi
ma, được tuệ tự tại thì mới gọi là đạo nghĩa. Ðó là Bồ tát tự thấy pháp
của mình, thấy pháp người khác được đạt đến ý chỉ. Sao gọi là bốn ý đoạn
mà chẳng thể tận ? Các pháp ác của thân chưa dấy khởi thì khiến cho chúng
chẳng khởi sinh. Do sinh ra liền diệt đi mà tu tinh tấn, tự nhiếp lấy sở
niệm của tâm mình thuận theo nghĩa càng thêm tinh cần. Ðó gọi là bình đẳng
phụng trì hạnh tinh tấn, chẳng mất thuận tiết, tập tu bình quân (chia
đều). Do có thể nhiếp lấy tâm, quan sát đến Chánh đế nên gọi điều này vậy.
Sở dĩ vì sao ? Vì sở niệm thuận nghĩa, pháp ác bất thiện chẳng lại đến
nữa. Sao gọi là bất thiện ? Hủy giới, loạn định, mê hoặc trí tuệ. Sao gọi
là hủy giới ? Muốn sinh lên trời thì gọi là hủy giới. Chẳng theo lời pháp
giáo, khuyết lậu giới phẩm ấy thì gọi là hủy giới. Sao gọi loạn định ?
Trái mất lễ nghi, tu hành chẳng chuyên tinh, lòng ở tại ý niệm khác thì
chính là ý loạn định. Sao gọi là mê hoặc trí tuệ ? Ðoạn các tà kiến, thấy
ngần ấy thứ những việc điên đão, ấm cái ngăn
ngại pháp. Trí tuệ khuyết lậu ấy thì
gọi là bất thiện. Giả sử các ác như vậy, đời tượng pháp hưng khởi đến mà
chẳng nghe thì đó là một ý đoạn. Giả sử các pháp ác bất thiện hưng khởi
tức thì hiểu ngay, biết đó là phi pháp, báo ứng bất thiện, rõ đó là hao
tổn, là làm bẩn, tên đó là nhà tối. Tu hành phụng trì thuận nghĩa, tiêu
trừ dục bất tịnh thì dùng từ tâm mà trừ sân nhuế, hiểu mười hai nhân duyên
mà diệt ngu tối. Hết trần lao ấy thì đó gọi là đoạn. Ðồng với nhân duyên
khởi, quan sát sự sinh ấy, chẳng được gốc ngọn mà không sở đoạn, tất cả
các pháp từ tập hành đạt đến, đó là hai ý đoạn. Giả sử khiến cho thiện
pháp chưa dấy khởi thì khuyến trợ khiến cho hưng phát, hiển hiện khiến cho
tinh tấn tự nhiếp lấy tâm ấy khen đức không lường. Sở dĩ vì sao ? Vì thiện
pháp không lường mà Bồ tát đại sĩ đã ứng tu hành phải ưa thích mọi gốc đức
của tuệ căn. Tất cả đều do tinh tấn mà đạt đến các phước khánh. Hiển dương
thần thông đạt đến căn nguyên của đức lộc, đó là ba ý đoạn. Ðiều có thể
gọi là thiện pháp, nếu hưng phát mà khiến cho được trụ bền vững thì chẳng
sợ mất tiết tháo, chẳng bỗng chốc quên mất, thêm vui cho trăm họ, ngày đêm
tinh tấn, tự nhiếp lấy tâm ấy để khuyến trợ đạo, ấy gọi là bình đẳng. Sở
dĩ vì sao ? Vì khuyến trợ đạo tâm thì gốc đức chẳng mục nát. Sở dĩ vì sao
? Vì tâm ấy thanh tịnh. Tuy ở ba cõi mà tâm ấy không chấp trước. Nếu có
khuyến trợ đức mà nương cậy vào ba cõi thì gọi là tan tác hết. Nếu có thể
khuyên chí ưa thích Nhất thiết trí thì các gốc thông tuệ nhất định chẳng
tổn hao. Ðó là bốn ý đoạn. Sao gọi là Bồ tát mà tu thần túc. Thần túc có
bốn đã tự phát khởi ưa thích ân cần tinh tấn. Bồ tát đó lấy gì tập hưng
khởi gốc thần túc ? Phải hành bốn đẳng tâm, từ bi hỷ hộ, thường phải tuân
hành tu tập bốn điều không phóng dật. Tâm Bồ tát ấy rộng lớn mà chẳng
tham thân. Do có thể ngự trị được tâm, phụng hành đệ nhất thiền. Cứ như
vậy cho đến được bốn thiền định thì thân tâm nhẹ nhàng thuận tiện. Thân
tâm đã thuận tiện thì gọi là nhập thần thông. Ðã nhập thần thông thì liền
sinh ra thần túc. Siêng tu tinh tấn, ý chí đạo của trăm họ. Do siêng năng
ưa thích nên liền thân cận với đạo nghĩa. Do tinh tấn nên có thể thành tựu
pháp này. Do siêng tu nên đạt đến nghĩa này. Một lòng quan sát dùng pháp
phương tiện hiểu thấu thần thông nên gọi là thần túc. Thường yêu thích nên
có thể có sự biến hóa. Do tinh tấn nên có thể khiến cho thành tựu. Do
chuyên tinh nên có thể tỏ rõ rộng lớn. Người tự tu đức liền thành tựu đạo.
Có kể đến thần túc Bồ tát đó thì nhờ đó nên được thân cận. Có tâm tự tại
thì sở dục đạt đến không ai có thể trái phạm. Hành động chắc chắn đã đạt
đến rốt ráo căn nguyên, mọi hạnh đầy đủ, ma chẳng thể chế ngự, bình đẳng
như hư không, nhìn thấy suốt vô biên, nghe thấu vô tế, định ý không hạn,
thần túc không đáy, thấy tất cả căn, tự nhìn thấy nguồn gốc của chúng. Ðó
là Bồ tát hành bốn thần túc mà chẳng thể tận.
Sao gọi là Bồ tát tu đến năm căn mà chẳng
thể tận ? Sao gọi là năm ? Một là tín căn, hai là tinh tấn căn, ba là ý
căn, bốn là định căn, năm là tuệ căn. Sao gọi là tín căn ? Thường tin các
pháp. Sao gọi là pháp ? Người chánh tín ấy tin sống trong sinh tử, tùy
theo thần túc ấy để thành tựu hạnh đó, chẳng ưa thần túc khác mà hiểu được
nghĩa của đệ nhất chân đế. Người đó thoát khỏi mười hai nhân duyên thâm
diệu, không ngô ngã, nhân, không, vô tướng, vô nguyện, không tướng chấp
trước, tin khắp các pháp, chẳng rơi vào các kiến, tin pháp của chư Phật,
tin theo mười lực, bốn vô sở úy, chẳng mang hồ nghi cũng không do dự, tập
hợp Phật pháp khiến cho không còn giới hạn. Ðó gọi là tín căn. Sao gọi là
tinh tấn căn ? Ðã tin pháp thì nhân tinh tấn này các căn sáng thêm, vượt
qua ánh sáng mặt trời mặt trăng. Việc có thể dùng pháp tu tinh tấn căn thì
do đó nên chẳng mất ý căn. Ý ấy rộng lớn chẳng trụ ở bờ cõi thì đó gọi là
ý căn. Ý ấy vắng lặng chẳng trái ý căn, ý rộng như hư không. Do định ý
căn, chuyên tinh chẳng loạn thì đó gọi là Ðịnh căn. Ðịnh ý căn ấy thường
trụ ở tịch tịnh mà giữ chuyên nhất thì đó gọi tuệ căn quan sát hiểu rõ.
Nếu đối với pháp này, sắc tượng như vậy mà phân biệt vô ngã thì đó gọi là
tuệ căn. Như vậy năm căn có thể đầy đủ thì đủ các Phật pháp. Năm căn ấy có
thể đủ thì trụ ở thọ quyết (thọ ký) địa mà chẳng di động. Giống như tiên
nhân ngũ thông của ngoại học tuy nhìn thấy trong thai mà chẳng thể phân
biệt, dự báo căn nam hay nữ, các đức Phật Thế Tôn cũng lại như vậy, sở học
của Bồ tát chưa thành tựu năm căn thì chẳng trao quyết (thọ ký), năm căn
đạt rồi nhiên hậu mới thọ quyết. Ðó là năm căn của Bồ tát vô tận.
Sao gọi là các lực ? Có năm lực mà chẳng
thể tận. Những gì là năm ? - Một là tín lực, hai là tinh tấn lực, ba là ý
lực, bốn là định lực, năm là tuệ lực. Sao gọi là tín lực ? Thường mang tâm
thuần hậu ở tại tịch tịnh mà chẳng mê man, không có sắc tượng, trụ thấy
Phật hình, cũng biết pháp khác, một lòng tịch tịnh, tín lực hiện có chưa
từng thoái chuyển. Ðó gọi là tín lực. Sao gọi là tinh tấn lực ? Giả sử
trăm họ tu hành tinh tấn, ở tại khắp nơi tu đức, tinh cần với kinh điển, ở
chỗ sinh sống, lòng họ kiên cường, việc tu gốc đức, trên trời, dưới thế
gian, không ai có thể hủy hoại, cũng chẳng thể chế ngự khiến cho chẳng
tăng thêm. Do đó cho nên gốc đức hưng thịnh đến không hạn lượng. Ðó là lực
tinh tấn. Sao gọi là ý lực ? Nghĩ về pháp hiện có mà lòng chẳng lười biếng
phế bỏ, mọi nạn ái dục không thể xâm phạm. Do ý lực này vượt qua mọi trần
lao nên ý niệm của Bồ tát ấy, trên trời, dưới thế gian không ai có thể làm
loạn được. Ðó là ý lực. Sao gọi là định lực ? Nếu tại chúng hội sống trong
náo loạn, với tịch tịnh của mình, ban tuyên đạo lực, tiến dừng, bước đi mà
người được thiền thứ nhất không thể ngăn che gây trở ngại. Việc tu gốc
đức, chuyên tinh đạo hạnh cũng không thể hủy mà người được thiền thứ hai
hân hoan vui vẻ. Bên trong thanh tịnh đạm bạc mà chẳng có trở ngại. Người
được thiền thứ ba muốn hóa độ chúng sinh, nuôi hộ chánh pháp, không tự
quan sát. Người chứng đến thiền thứ tư cũng không ngăn ngại. Dùng bốn
thiền này để tu các phẩm loại thiền thì người không thể vượt qua. Ðã tu
định ý thì người không thể làm loạn. Ðịnh ý tự tại thì đó gọi là định lực.
Sao gọi là tuệ lực ? Nếu xử theo pháp thế tục và pháp độ thế thì đều có
thể hiểu rõ chỗ sinh sống không thể làm thầy, biết hết văn tự chương cú
của thế tục, tạo lập nghiệp thần tiên dị thuật, năm kinh, sáu nghệ, sách
khác về phương tục... tất cả Bồ tát chẳng cần học mà tự nhiên biết hết và
pháp độ thế không chỗ nào chẳng thông. Bồ tát dùng tuệ Thánh minh này,
lòng có thể thông suốt trên trời, dưới thế gian, đi một mình không bè bạn,
tùy lúc mà ban tuyên. Ðó gọi là tuệ lực mà chẳng thể tận.
KINH A SOA MẠT VÀ BỒ TÁT
- Quyển thứ sáu - hết.
--- o0o ---
Quyển
1
|
Quyển
2
|
Quyển
3
|
Quyển
4
Quyển
5
|
Quyển
6
|
Quyển
7
--- o0o ---
Vi tính: Thọ Huệ
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật:
4-2003