ti Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Kinh Điển Phật Giáo


...... ... .


 

KINH BÁT NÊ HOÀN

Hán dịch: Không có ghi tên người dịch. Phụ lục sách của Ðông Tấn.

Việt dịch: Thích Chánh Lạc

--- o0o ---

Quyển Thượng

Nghe như vầy:

–Một thời Phật du hóa tại núi Diêu, thành Vương Xá, cùng đông đủ chúng Ðại Tỳ kheo 1.250 người.

Bấy giờ Vua A Xà Thế nước Ma Kiệt, cùng nước Việt Kỳ không hòa thuận, quần thần nghị luận rằng:

–Nước Việt - Kỳ tư thị giàu có, nhân dân đông đúc, đất đai phì nhiêu, sản sanh ra nhiều châu báu, không chịu thần phục ta, vậy hãy đem binh chinh phạt nước ấy.

Trong nước ấy có một đại hiền thần tên là Vũ Xá, vốn dòng dõi Phạm Chí. Nhà vua ra lệnh ông đến cuối đầu lạy dưới chân Ðức Phật. Kính hỏi thăm tin tức về thân thể Ngài có khỏe mạnh khinh an, đi lại có sức lực chăng? Ðức hóa có dễ dàng chăng? và thưa rằng: “ Vua A Xà Thế cùng nước Việt Kỳ có sự hiềm khích, chúng thần nghị luận muốn đem quân sang công phạt nước ấy, cúi mong Ðức Chúng Hựu có lời gì dạy bảo chăng?”.

Ông Ðại thần vâng lệnh nhà vua, liền chuẩn bị năm trăm cổ xe, 2.000 người đi bộ, 2.000 người cỡi ngựa, đến núi Diêu, tới con đường nhỏ liền xuống xe đi  bộ, đến gặp Ðức Phật, ông rất hoan hỷ, sắc mặt cung kính, phấn khởi, vái chào, quì dài thưa rằng:

–Vua A Xà Thế nước Ma Kiệt, bảo con đến cúi đầu lạy dưới chân Ðức Phật, cung kính hỏi thăm sức khỏe Ngài, trong người có khỏe mạnh khinh an, đi lại có sức lực chăng? Ðức hóa có dễ dàng chăng?

Ðức Phật đáp:

–Lành thay! Nhà vua, quốc dân cùng ông đều bình an chứ. 

Vũ Xá thưa:

–Nhà vua cùng nước Việt Kỳ có điều hiềm khích. Chúng thần nghị luận rằng: “Do vì nước ấy tự  thị nước giàu, dân đông, đất đai phì nhiêu, sản sanh ra nhiều trân bảo, không chịu thuần phục nước ta, cho nên muốn đem quân sang chinh phạt. Cúi mong Ðức Phật dạy bảo”.

Ðức Phật trả lời Ðại thần:

–Ngày xưa, một thời ta từng du hóa ở nước Việt Kỳ, dừng chân ở trong nhà của Táo Thần. Ta thấy dân nước ấy đều ra lệnh cẩn mật. Khi ấy ta liền nói bảy pháp trị nước, là con đường không nguy hiểm, nếu ai thực hành thì ngày càng hưng thịnh, không hề suy tồn.

Ðại thần liền chắp tay thưa rằng:

–Con muốn được nghe bảy pháp ấy, và thi hành như thế nào?

Ðức Phật dạy:

–Hãy lắng nghe cho kỹ!

Thưa rằng:

–Con xin thọ giáo.

Khi ấy hiền già A Nan đứng ở phía sau quạt Phật, Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:  

–Ngươi có nghe người nước Việt-Kỳ thường cùng nhau tụ hội, để giảng luận chính sự, sửa sang, phòng bị để tự phòng thủ chăng?

Thưa rằng:

–Con có nghe người nước họ thường cùng nhau tụ hội để giảng luận chính sự, sửa sang phòng bị để tự phòng thủ.

Ðức Phật dạy:

–Nếu như vậy thì nước ấy không thể suy thối.

–Ngươi có nghe nước Việt-Kỳ, Vua tôi thường hòa thuận, quan lại trung lương giúp đỡ lẫn nhau chăng?

Thưa rằng:

–Con có nghe Vua tôi nước ấy thường hòa thuận, quan lại trung lương, giúp đỡ lẫn nhau.

–Ngươi có nghe dân nước Việt Kỳ cùng nhau tôn trọng pháp luật, không chấp chặt, không vọng cầu, không dám làm điều lỗi lầm chăng?

Thưa rằng:

–Con nghe nước ấy tôn trọng luật pháp, không chấp chặt, không vọng cầu, không dám làm điều lỗi lầm.

–Ngươi có nghe dân nước Việt-Kỳ kính cẩn lễ hóa, nam nữ sống riêng biệt, lớn nhỏ kính nhường lẫn nhau chăng?

Thưa rằng:

–Con có nghe dân nước Việt-Kỳ kính cẩn lễ hóa, nam nữ sống riêng biệt, lớn nhỏ kính nhường lẫn nhau.

–Ngươi có nghe dân nước Việt-Kỳ hiếu thuận đối với cha mẹ, tôn trọng sư trưởng, nghe lời dạy bảo chăng?

Thưa rằng:

–Con có nghe dân nước ấy hiếu thuận đối với cha mẹ, tôn kính sư trưởng, nghe lời dạy bảo.

–Ngươi có nghe dân nước Việt-Kỳ vâng theo sự vận hành của trời đất, kính nể quỉ thần, cung kính tùy thuận bốn mùa chăng?

Thưa rằng:

–Con có nghe dân nước ấy vâng theo sự vận hành của trời đất, kính nể quỉ thần, cung kính tùy thuận bốn mùa.

–Ngươi có nghe dân nước Việt Kỳ kính thờ đạo đức, trong nước có sa môn, Ứng chơn từ bốn phương đến thì cúng dường y thực, giường nằm và thuốc chữa bệnh chăng?

Thưa rằng:

–Con có nghe dân nước ấy kính thờ đạo đức, trong nước có sa môn, ứng chơn từ bốn phương đến thì cúng dường y thực, giường nằm và thuốc chữa bệnh.

Ðức Phật dạy:

–Phàm hễ nước nào thực hành bảy pháp này, khó làm sao họ nguy khốn được.

Vũ Xá thưa rằng:

–Nếu dân nước Việt Kỳ mà thực hành được một pháp thôi thì còn không thể công phá nổi, huống chi là có đủ bảy pháp này.

Vũ Xá thưa:

–Vì việc nước quá đa đoan cho nên con xin kiếu từ trở về.

Ðức Phật bảo:

–Ngươi nên biết thời.

Ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ðức Phật rồi đi.

Bấy giờ Ðức Phật bảo hiền giả A Nan hãy vân tập các Tỳ kheo ở trong núi Diêu Sơn, tập họp tại giảng đường.

Tôn giả liền triệu tập các Tỳ kheo vân tập tại giảng đường. Ðại chúng cúi lạy Ðức Phật rồi ngồi sang một bên.

Ðức Phật dạy:

–Này các Tỳ kheo! Hãy nghe ta nói, hãy khéo mà suy nghĩ.

Tất cả Tỳ kheo đều thưa:

–Chúng con xin thọ giáo.

Ðức Phật dạy:

–Tỳ kheo có bảy điều giáo giới thì chánh pháp không suy tồn... Những cái gì là bảy?.

1. Thường xuyên tập hội để giảng tụng kinh đạo, không có giải đãi.

2. Phải hòa thuận trung chánh, dạy bảo lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau.

3. Không bảo thủ, không vọng cầu nơi người khác, vui thích ở núi, đầm.

4. Phải dứt bỏ dâm dục, lớn nhỏ có thứ tự, đối xử nhau bằng lễ phép

5. Phải lấy lòng từ hiếu mà thờ sư trưởng, nghe lời dạy bảo.

6. Phải phụng thờ giới pháp, kính sợ kinh giới, để tu phạm hạnh.

7. Phải tuân theo sư cúng dường thánh chúng, khai mở cho kẻ trẻ dại mê mờ, người đến học, phải cung cấp y thực, giường nằm cùng thuốc chữa bệnh cho họ.

Ðó là bảy pháp có thể làm cho chánh pháp được lâu dài.

Lại nữa Tỳ kheo có bảy điều cần phải phòng thủ thì chánh pháp không suy thối, phải khéo suy tư mà thực hành.

1. Giữ sự thanh tịnh không ưa hữu vi.

2. Giữ sự vô dục, không tham lợi dưỡng.

3. Giữ nhẫn nhục, không có tranh tụng.

4. Giữ hạnh không, không vào trong chỗ đông người.

5. Giữ pháp ý, không khởi các tưởng.

6. Giữ nhất tâm, tọa thiền định ý.

7. Giữ sự kiệm ước, y thực thô sơ.

Bảy pháp như vậy, có thể làm cho pháp chánh được lâu dài.

Lại nữa, này Tỳ kheo, có bảy điều cung kính thì chánh pháp không bị suy thối, phải khéo suy niệm mà thực hành.

1. Kính Phật, hãy khéo đem tâm lễ bái, không nương tựa vào đâu khác.

2. Kỉnh pháp, chí ở tại ý đạo, không nương tựa vào đâu khác.

3. Kỉnh chúng Tăng, vâng theo lời dạy, không nương tựa vào đâu khác.

4. Kỉnh trọng sự học, kính thờ người trì giới, không nương tựa vào đâu khác.

5. Kính trọng những điều nghe, kính thờ những vị giảng dạy không nương tựa vào đâu khác.

6. Kính trọng sự thanh tịnh, vô dục, không có nương tựa vào đâu khác.

7. Kính trọng thiền định, phụng sự việc ngồi thiền tịnh lặng, không nương tựa vào đâu khác.

Hành bảy pháp như vậy thì chánh pháp có thể được lâu dài.

Lại nữa, Tỳ kheo có bảy pháp tài, làm cho chánh pháp không suy thối, phải khéo nhớ nghĩ mà thực hành.

1. Phải có tín tâm, thấy điều chân chánh hỷ lạc.

2. Phải có giới cẩn thận hộ trì không phạm.

3. Phải có tâm tàm sửa đổi lỗi lầm tự hối hận điều lỗi lầm.

4. Phải có tâm quý, nói và làm phải phù hợp.

5. Phải nghe nhiều, đọc tụng không nhàm chán.

6. Phải có trí tuệ thâm sâu, thực hành vi diệu.

7. Phải bố thí pháp, chớ mong được lễ bái.

Thực hành bảy pháp như vậy, thì chánh pháp có thể được lâu dài.

Lại nữa, Tỳ kheo có bảy giác ý thì chánh pháp không suy thối, phải nên khéo nhớ nghĩ mà thực hành.

1. Chí niệm giác ý, thanh tịnh không dâm, tịch phần tán ý.

2. Pháp giải giác ý, thanh tịnh không dâm, xả phần tán ý.

3. Tinh tấn giác ý, thanh tịnh không dâm, xả phần tán ý.

4. Ái hỷ giác ý, thanh tịnh không dâm, xả phần tán ý.

5. Nhất hướng giác ý, thanh tịnh không dâm, xả phần tán ý.

6. Duy định giác ý, thanh tịnh không dâm, xả phần tán ý.

7. Hành hộ giác ý, thanh tịnh không dâm, xả phần tán ý.

Thực hành bảy pháp như vậy, có thể làm cho chánh pháp được lâu dài.

Lại nữa, Tỳ kheo có 6 điều cần phải biết, thì chánh pháp được lâu dài, phải khéo nhớ nghĩ mà thực hành.

1. Phải tri pháp, 12 bộ kinh của Phật, phải thọ trì, tụng đọc thật kỹ.

2. Phải tri nghĩa, cầu các pháp huệ, rộng hiểu chỗ cốt yếu.

3. Phải tri thời, biết lúc nào nên tụng kinh, lúc nào đi kinh hành, lúc nào tham thiền, lúc nào nằm nghỉ, đừng xáo trộn thời biểu.

4. Phải tự tri, đã nhập pháp hạnh, nhiều hay ít, sâu hay cạn, đã thành thục hay mới thực tập, quyết chí ngày một tiến bộ.

5. Phải biết tiết độ, chớ tham đồ tốt đẹp phải biết thích nghi thân, điều độ trong việc ăn uống, đừng để thân mình bị bệnh.

6. Tri chúng, khi đi vào chúng Tỳ kheo, phạm chí, thánh nhân, quân tử và chúng sĩ dân, phải biết phân biệt biết chỗ nào đáng cung kính, chỗ nào nên đứng, chỗ  nào nên ngồi, chỗ nào nên im lặng, chỗ nào nên nói năng.

7. Tri nhân. Hãy quán chỗ tốt đẹp, hay xem xét cái trí năng từng người, tùy ý mà khuyến hóa, dẫn dắt, khiến cho mọi người điều biết được chỗ giáo hóa của Thánh.

Thực hành bảy pháp như vậy, có thể làm cho chánh pháp được lâu dài.

Lại nữa, này Tỳ kheo có bảy điều tưởng nhớ làm cho chánh pháp không suy thối, phải khéo ghi nhớ mà thực hành.

1. Tưởng nhớ kinh đạo, như người nhớ tưởng nhớ cha mẹ. Cha mẹ sanh con, công ơn to lớn một đời, nhưng chánh pháp cứu người trong vô số đời, độ con người thoát khỏi sanh tử.

2. Tưởng nhớ người đời, chẳng ai mà chẳng khổ, nhớ nghĩ vợ con thuộc sở hữu của nhà mình, chết rồi mỗi người ly tán một ngã, chẳng biết đọa lạc nơi nào?! Nếu thân ta có tội thì quyến thuộc cũng không thể cứu. Biết nó là phi thường, hãy nhớ nghĩ như vậy mà hành đạo.

3. Tưởng nhớ sợ tinh tấn, phải đoan nghiêm thân, khẩu, ý thì giữ đạo không khó khăn.

4. Tưởng nhớ đến sự khiêm cung, không có tự kiêu, tự đại, phải thừa sự bậc minh triết, kính trọng lời răn dạy mà trước đây chưa được nghe, từ mẫn sự giáo dục..

5. Tưởng nhớ sự hàng phục ý, không chạy theo 6 tình, hãy đè bẹp trạng thái dâm, nộ, si xuống, không có tà hạnh.

6. Tưởng nhớ trong thân, toàn là đồ hôi thúi, phong hàn máu nóng, có cái gì để ham đắm?!

7. Tưởng nhớ việc tự quán sát, thân hình như đất bụi, nghĩ rằng nó có thể chết một ngày nào đó, đất trời rộng thinh, dân sinh từ xưa đến nay, chẳng ai mà chẳng chết cả. Thế gian như mộng, nhìn thấy sự vật đáng yêu, đâu biết rằng nó đã bị biến hóa mà ra, khi tỉnh ngộ rồi mới biết là không. Nên biết nó là đồ huyền thuật, đừng để con mắt mình bị đánh lừa.

Thực hành bảy pháp như vậy thì chánh pháp được lâu dài.

Lại nữa, này Tỳ kheo, lại có 6 trọng pháp hãy nên khéo nhớ nghĩ mà thực hành, thì chánh pháp có thể được lâu dài.

1. Tu thân, phải khởi tâm từ, nương theo sự quy định của Thánh, các vị thanh tịnh, thực hành pháp quan trọng này, hòa đồng ái kính với người đồng học, không chấp, không tranh, cố gắng cùng nhau giữ hạnh, như vậy là thực hành.

2. Tu khẩu nghiệp, lấy sự khởi tâm từ bi làm thiện hạnh.

3. Tu ý, lấy sự khởi tâm từ bi làm thiện hạnh.

4. Ðã thấy bờ pháp rồi, thì nếu được y thực bình bát vật dụng, trọn không nên tiếc của, che giấu.

5. Trì giới không phạm, không nên vi phạm giới, mới có thể dạy người được.

6. Nếu theo chánh kiến sẽ được con đường thọ đạo cốt yếu để chấm dứt khổ đau, độ thoát tri kiến rốt ráo. Làm được việc quan trọng này đều lấy sự tuần thông, thanh tịnh của Thánh để hòa thuận ái kính, ban cho bạn đồng đạo, không chấp, không tranh, thay nhau xây dựng, cùng giữ đạo hạnh.

Lại nữa, Tỳ kheo phải thương yêu tất cả côn trùng, cho đến con trùn, con kiến, cũng phải có tâm từ, với sự chết chóc của con người phải nên buồn thương. Kẻ ấy được làm người, nếu như không nghe đạo, cả nhà khóc lóc, cũng chẳng biết lúc chết thần hồn đi về đâu? Chỉ có người đắc đạo mới có thể biết được việc ấy. Ðức Phật vì những người ấy cho nên mới nói rõ trong kinh pháp. Vậy kinh không thể không học, đạo không thể không hành. Trong thiên hạ có nhiều đạo, chỉ có Vương đạo là tối đại, Phật đạo thì hết sức tối thượng. Giống như vài mươi người cùng nhau thi bắn vào một ngọn đồi, có cái trúng ở trước, có cái trúng ở sau, cứ bắn liên tục đừng nghỉ, chắc chắn sẽ có cái trúng đích.

Lại như các giòng nước trong trời đất không ngừng chảy ra biển. Tỳ kheo cũng như vậy, hành đạo không ngừng nghỉ, sẽ được giải thoát.

Như pháp dạy của Ðức Phật, phải thay nhau mà thọ trì đọc, ngâm lời Phật dạy, phải luôn luôn dạy bảo cho bốn chúng đệ tử thay nhau mà dạy dỗ, như vậy kinh của Phật có thể được tồn tại lâu dài.

Bấy giờ Ðức Phật bảo hiền giả A Nan cùng đi đến xóm Ba Liên Phất. Hiền giả liền vâng lời và đi. Ðức Phật thu xếp y bát, đi qua thành Vương Xá, mới đi nửa đường Ngài bổng dừng chân ở trong cung viên. Ðức Phật bảo các Tỳ kheo:

–Tất cả hãy lắng nghe! Người hành đạo phải biết Tứ đế. Ai không biết Tứ đế mới trôi lăn mãi mãi, qua lại trong sanh tử, chẳng có khi nào dừng. Vì vậy ta muốn mở mang tâm ý các người về pháp này. Những gì là bốn?

1.      Biết khổ. Ðó là chân đế.

2.      Khổ do tập sanh. Ðó là chân đế.

3.      Khổ tập tận diệt. Ðó là chân đế.

4.      Khổ tập tận diệt thọ đạo. Ðó là chân đế.

Ðối với khổ mà không hay biết cho nên mới lưu lạc mãi mãi, sanh tử không cùng. Cho nên cần phải biết khổ đế này. Khổ là: Sanh khổ, Già khổ, Bệnh khổ, Chết khổ, ưu bi não khổ, ái biệt ly khổ, sở cầu bất đắc khổ. Nói tóm lại, Ngủ thạnh ấm là khổ. Ðã biết khổ này rồi, có thể đoạn trừ ái tập. Ðó gọi là được con mắt, đó là đã rốt ráo đời này, về sau không còn khổ nữa. Do tập mà có ái, khổ tập đều chấm dứt, chơn đế của thọ đạo, được con mắt thấy, sự chứng đạo, chỉ đời này là chấm dứt, sau này không thọ sanh nữa. Ðã thấy chân đế rồi, liền được đạo nhãn, không còn sanh tử trở lại nữa, đường dài sanh tử đã vĩnh viễn chấm dứt. Như vậy, này Tỳ kheo! Lại còn phải biết đạo, đạt được tám hạnh. Những gì là tám?

1.      Chuyên tâm thọ trì kinh pháp của Phật.

2.      Bỏ ái dục, không tranh cãi với thế gian.

3.      Trọn đời không làm sát đạo dâm.

4.      Không được lừa dối, sàm tấu, nịnh, trau chuốt, chữi mắng độc ác.

5.      Không được tật đố, tham lam, bất tín.

6.      Nhớ nghĩ đến sự phi thường khổ, không, phi thân.

7.      Quán thấy trong người toàn là đồ dơ dáy, hôi thúi..

8.      Không tham đắm thân mạng, biết rằng cuối cùng nó trở về đất.

Các vị Phật thời quá khứ đều thấy Tứ đế này. Các vị Phật ở thời đương lai cũng thấy Tứ đế này. Những ai tham luyến việc ân ái, nhà cửa, cùng sự ưa thích tuổi thọ, vinh danh của thế gian, cuối cùng không thể giải thoát khỏi cuộc đời. Ðạo do tâm sanh. Tâm tịnh thì được đạo. Tiếp theo, giữ tâm đoan chánh, không phạm năm giới sẽ được sanh lên cõi Trời. Tiếp theo tin đạo, thích học kinh pháp, về sau có thể được làm người. Nếu muốn đoạn tuyệt con đường địa ngục súc sanh, ngạ quỉ một cách hoàn toàn thì phải nhất tâm phụng hành kinh giới.

Nay Phật ở trong thiên hạ, giải thoát sanh tử, khai mở chánh đạo. Những người muốn học đạo cần phải suy tư chân chánh.

Ðức Phật cùng hiền giả A Nan trước tiên đến Ba Liên Phất, dừng chân dưới gốc cây Thọ Thần ở ngoài thành, Các Phạm Chí, cư sĩ nghe Ðức Phật cùng các đệ tử đến họ đều ra ngoài thành, muốn chiêm ngưỡng cúng dường Ðức Phật. Có người mang chiếu, có người mang nệm, có người mang nước và xách đèn đến chỗ Ðức Phật. Họ cúi lạy rồi đứng qua một bên.. Ðức Phật bảo các phạm chí cư sĩ rằng:

–Con người ở thế gian, ham muốn dục lạc, buông lung tâm ý, có năm điều hao tổn:

1. Tự mình phóng túng, tài sản ngày một giảm.

2. Tự mình phóng túng làm nguy thân, mất đạo.

3. Tự mình phóng túng  nên mọi người không kính nể, lúc chết bị hối hận.

4. Tự mình phóng túng bị danh ô, tiếng xấu, thiên hạ đều nghe.

5. Tự mình phóng túng, khi chết thần hồn đọa vào 3 đường ác..

Nếu ai hàng phục được tâm mà không phóng túng, có đầy đủ năm điều phước đức:

1. Tự mình thu nhiếp thì tài sản ngày một tăng.

2. Tự mình thu nhiếp thì được gần ý đạo.

3. Tự mình thu nhiếp thì mọi người kính yêu.

4. Tự mình thu nhiếp thì được tiếng tốt danh thơm, mọi người đều nghe.

5. Tự mình thu nhiếp thì khi chết thần thức được sanh lên trời- Phước Ðịa.

Con người tự mình không buông lung có năm điều thiện này, phải nhớ nghĩ. Ðức Phật vì mọi người, thuyết pháp giáo hóa cho họ trở về đường chánh, với bao lời dạy quan trọng, chẳng ai mà chẳng hoan hỉ. Họ đều đến trước cúi lạy dưới chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi đi.

Bấy giờ Ðức Phật đứng dậy đi đến xóm A Vệ, ngồi dưới một gốc cây, dùng thần tâm, đạo nhãn xem thấy chư thiên, bảo hiền thần thủ hộ đất này.

Hiền giả A Nan từ chỗ ngồi thiền đứng dậy, cúi lạy Ðức Phật rồi đứng qua một bên. Ðức Phật hỏi tôn giả A Nan:

–Ai lo liệu xây cất thành quách của Ba Liên Phất này.

Thưa rằng:

–Ðó là do Ðại thần Vũ Xá nước Ma Kiệt xây cất, nhằm cầu tuyệt sự xâm phạm của nước Việt Kỳ.

Ðức Phật dạy:

–Lành thay! Lành thay! Hiền thần Vũ Xá, mới biết mưu đồ này. Ta thấy chư thần Diệu thiên ở cung trời Ðạo Lợi cùng nhau hộ trì đất này. Ðất đai ở đây được thiên thần ủng hộ, đã an ổn mà lại phú quý, Lại nữa cuộc đất này, trong những vị gần cõi trời, chủ Ðịa thần ở đây tên là Nhân Ý. Vị này ủng hộ nước này được lâu dài mà càng thêm thắng ích, chắc chắn ở đây có nhiều thánh hiền, nhân trí hào kiệt hơn các nước khác, cho nên nước này cũng không thể phá hoại được. Thành này về lâu sau, như khi muốn phá hoại phải có 3 nguyên nhân:

1. Lửa cháy lớn.

2. Nước lớn.

3. Người trong nước và ngoài nước âm mưu mới có thể phá hoại thành này được..

Vũ Xá nghe Ðức Phật cùng chúng đệ tử đi đến nơi đây. Ông liền vâng theo oai thần của vua, sửa soạn năm trăm cổ xe, ra khỏi thành muốn đến chiêm ngưỡng, cúng dường Ðức Phật. Khi đến nơi, ông liền xuống xe đi bộ vào cửa của khu vườn, thấy Phật hoan hỉ, nhan sắc khiêm cung, từ tốn, vái chào xong, đứng qua một bên. Ðức Phật thuyết pháp cho ông nghe, chánh hóa bằng những lời cốt yếu. Ông Vũ Xá hoan hỉ, bèn tránh qua một bên, thưa rằng:

–Con muốn dâng cúng một ít trai phạn đạm bạc, cúi mong Ngài cùng Thánh chúng đồng duỗi oai thần đến nhà con để thọ trai.

Ðức Phật liền im lặng nhận lời.

Ông liền đứng dậy đảnh lễ Ðức Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi trở về. Ðại thần trở về nhà rồi suốt cả đêm sắm đủ thức ăn ngon, bổ, sửa sang phòng ốc, bên trong dọn sàng tòa để ngồi. Sáng sớm ông đi đến bạch Ðức Phật.

–Trai phạn đã chuẩn bị xong, cúi mong Ðức Phật biết thời.

Ðức Phật liền mặc y bưng bát cùng chúng đệ tử đồng đi đến nhà ông. Ngài ngồi trên tòa cao ở trước đại chúng. Ông Vũ Xá tự tay mình bưng dọn thức ăn ngon bổ và sớt thức ăn vào bát Ðức Phật. Khi rửa tay xong, ông đứng lên bạch Ðức Phật rằng:

–Con đã tạo phước duyên này, cúi mong Ðức Phật chú nguyện cho nhân dân, tất cả nhân thiên ở trong nước này luôn luôn được an lạc.

Ðức Phật chú nguyện rằng:

–Nguyện cầu các ngươi được hoan hỷ, vì đã cúng dường cho bậc nhân thiên, vì Ngài là thầy dẫn đường mọi người. Nếu ai cúng dường trai phạn cho Phật và Tỳ kheo tăng xưng dương chánh pháp, thọ giáo những lời trí tuệ, phụng hành kinh giới, ta đều chú nguyện cho họ: Bậc đáng kính thì phải biết kính trọng, việc nên làm thì phải biết mà làm, rộng bố thí cùng từ ái, có lòng thương xót, mong cho tất cả các người được phước lợi, được thấy chánh đạo.

Ðại thần Vũ Xá vui mừng. Ðức Phật lại dạy:

–Ngươi ở đời này tuy làm việc quan, nhưng nhờ phước này, về sau chắc chắn được giải thoát. Nếu ai cúng dường trai phạn cho Phật, cùng những bậc trì giới chơn hiền, nhờ sa môn chú nguyện, trọn đời được lợi ích.

Lại phải nên biết, nếu muốn làm quan hay làm cư sĩ, không nên có tâm tham, xa xỉ, không nên có tâm kiêu mạn, không nên có tâm ngang ngược, không nên có tâm khoái lạc, bỏ năm thứ tâm này về sau sẽ không hối hận, chết được sanh lên cõi trời, trừ bỏ tội lỗi trong ác đạo.

Ðức Phật dạy xong, từ tòa đứng dậy, ra khỏi cửa thành phía Ðông, Vũ Xá gọi thị giả bảo:

–Hãy gọi cửa này là cửa Cù Ðàm, bến đò Ngài đi qua thì gọi là Bến Cù Ðàm.

Khi ấy, nhân dân có người đi thuyền lớn qua sông, có người đi thuyền nhỏ, có người đi bè tre, có người dùng cái bè gỗ để qua sông rất đông. Ðức Phật ngồi định ý tư duy:

–Lúc xưa, khi ta chưa thành Phật, muốn qua đây, ta đi trên bè gỗ không biết bao nhiêu lần. Nay ta giải thoát rồi, không còn cỡi lên bè gỗ ấy nữa, cũng khiến cho các đệ tử được xa lìa điều ấy.

Ðức Phật xuất định, tự nói trong bài tụng:

–Phật là Hải-thuyền-Sư,

Pháp là cầu sang sông,

Là chiếc xe Ðại-thừa,

Ðộ hết thảy nhân thiên,

Cũng giải thoát chính mình,

Sang bờ thành Phật đạo,

Khiến tất cả đệ tử,

Ðược giải thoát Niết bàn,

 

Bấy giờ Ðức Phật bảo hiền giả A Nan:

–Tất cả hãy đi đến ấp Câu Lợi.

Tôn giả vâng lời cùng đi, đến ngồi dưới một gốc cây, Ðức Phật bảo các Tỳ kheo:

–Tất cả hãy lắng nghe. Hãy thọ trì tịnh giới, hãy tư duy định ý, hãy hiểu rõ huệ hành. Ba điều này làm cho thiền hạnh ngày càng to lớn, lại được xa lìa sự ô uế của dâm nộ si. Ðó gọi là chánh thức vượt qua tai hoạn của dục, nhờ vậy được sức mạnh để tự giải thoát, đem hết cuộc đời này, nhập vào hạnh thanh tịnh, hành động những điều đáng làm, mới biết được nhất tâm, do tánh hiền thiện nên không tranh cãi với thế gian, đã biết thế sự, phải tự lo thân mình, phải ở chỗ vắng lặng mà tư duy bên trong, ý chí liền sáng, ba cấu nhiễm đã trừ, liền được đắc đạo, tâm không còn khởi lên, cũng không còn đắm trước. Giống như vị quốc vương là chủ của muôn họ. Tỳ kheo có năng lực tự tư duy, thấy vạn cảnh đều do tâm làm chủ.

–Ðức Phật cùng tôn giả A Nan đi đến xóm Hỷ Dự dừng chân dưới cây Kiền Kỳ bên bờ sông. Các đệ tử sáng sớm vào thành khất thực xong, tắm rửa trở về đảnh lễ đức Phật và đứng lên bạch đức Phật rằng:

–Nước này có bệnh dịch lệ làm chết người. sáng nay chúng con đều nghe, có Thanh-tín-sĩ  là: Huyền Ðiểu, Thời Tiên Sơ Ðộng, Giới Chấn, Thục Lương, Khoái Hiền, Bá Tông, Kiêm Ðốc, Ðức xương, Tịnh Cao. Cả thảy mười người đều chết, những người ấy thân họ chết rồi, thần thức sẽ đi về đâu?

Ðức Phật bảo các Tỳ kheo:

–Mười người ấy đã đoạn thần hồn tự nhiên, được sanh lên trên cõi Trời thứ tám, vào địa vị Bất-hoàn, không còn sanh trở lại để thọ pháp thế gian nữa. Vã lại những người chết trong nước này, đâu chỉ được như vậy mà thôi đâu.         

Ðức Phật dùng thiên nhãn quan sát thấy năm trăm Thanh-tin-sĩ, tất cả đều như Nan Ðề.... đã xa lìa ba cầu, chấm dứt sự chết trong ngũ đạo, đều sanh lên quả vị Bất-hoàn  ở đó mà được Nê-Hoàn.

Lại có ba trăm Thanh-tín-sĩ, đã đoạn trừ ba kết, không còn dâm, nộ, si, được sanh lên địa vị Tần Lai, về sau hạ sanh, sẽ thấy được ngàn mé của khổ.

Lại có năm trăm Thanh-tín-nữ, đều đã được Tứ hỷ, đã hết ba kết, được quả cấu hạng, xa lìa ba ác đạo, sanh trong thiên thượng nhân gian, không quá bảy lần, liền được quả ứng chơn.

Bấy giờ đức Phật gọi các Tỳ kheo:

–Các ngươi nói về sự chết của những người ấy đã gây phiền phức cho ta! nhưng ta đã là Phật, nên không còn thấy điều đó, cũng chẳng còn sợ gì nữa, thật là vi diệu vậy, sanh tử thì có lúc.

Phàm Chư  Phật xuất hiện tuy gọi là sanh ở thế gian, nhưng không theo pháp tình của thế gian. Ðối với như Lai, pháp tình đã đình chỉ, thì có chỗ nào mà Ngài không biết? Ðã rõ sự sanh này, trình bày phân minh, cho nên gọi là Diệu vậy. Do cái này có cho nên cái kia có, do cái này không cho nên cái kia không, do cái này sanh nên cái kia sanh, do cái này diệt nên cái kia diệt. Vì sao vậy?

–Do có dục cầu nên mới bị bất minh, do bất minh có hành, do hành có thức, do thức có danh sắc, do danh sắc có lục nhập, do lục nhập có canh lạc (xúc), do canh lạc có Thống ( thọ), do thống có ái, do ái có thọ, do thọ có hữu, do hữu có sanh, do sanh có lão tử, buồn rầu, khổ não, đưa đến toàn bộ sự khổ do tập sanh. Ðã có nguồn gốc sanh tử, nó sẽ xoay chuyển như bánh xe, trôi giạt không bao giờ ngừng. Do si, vô minh nên mới có sanh tử, ví như làm cho vô minh, không còn dấu vết, vô dục. Vô minh đã diệt thì hành diệt, hành diệt nên thức diệt, thức diệt nên danh sắc diệt, danh sắc diệt nên lục nhập diệt, lục nhập diệt nên canh lạc diệt diệt, canh lạc diệt nên thống diệt, thống diệt nên ái diệt, ái diệt nên thọ diệt, thọ diệt nên hữu diệt, hữu diệt nên sanh diệt, sanh diệt nên lão tử , buồn rầu, khổ não, đưa đến toàn bộ khối khổ đau do tập sanh đều bị tiêu diệt.

Cho nên trước đây ta đã nói, ngu si nên có sanh tử, người trí huệ giữ đạo nên không còn sanh tử nữa. Hãy suy niệm điều ấy, hãy kiềm chế tâm mình mới không còn rơi vào đường sanh tử nữa.

Lại nữa nếu muốn gần với đạo nên có bốn điều khoan hỷ, hãy nên khéo suy tư mà thực hành:

1- Niệm Phật, ý vui mừng không ngớt.

2- Niệm pháp, ý vui ngừng không ngớt.

3- Niệm chúng, ý vui mừng không ngớt.

4- Niệm giới, ý vui mừng không ngớt.

Niệm bốn điều hoan hỷ này, khiến cho đầy đủ, mà tự thấy rõ, hãy mong chánh đạo, cầu thân giải thoát, chắc chắn có thể đoạn trừ con đường địa ngục, súc sanh và quỷ thần, đạt được cấu hạng, không đọa vào ác đạo, chỉ còn sanh lại ở thiên thượng nhân gian không quá bảy lần nữa, là đạt được ngàn mé của khổ.

Bấy giờ đức Phật bảo tôn giả A Nan đi đến nước Duy-Da-Ly, Tôn giả liền vâng lời cùng đi. Ðức Phật vào thành Câu Lợi rồi, dừng chân trong vườn Nai của Dâm Nữ ở ngoài thành. Nại nữ nghe đức Phật cùng các đệ tử từ Việt Kỳ đến liền sửa soạn xe cộ y phục, cùng năm trăm nữ đệ tử đồng ra khỏi thành đi đến vườn Nại muốn quỳ lạy hầu hạ chiêm ngưỡng. Ðức Phật từ xa trông thấy năm trăm người nữ đến, ra lệnh các Tỳ kheo là: “Khi thấy họ tất cả đều phải nhiếp tâm mà quán sát ở bên trong, phải tự đoạn tâm mình lại. Những y phục trang sức lộng lẫy của họ giống như cái bình vẽ, tuy bên ngoài màu sắt rất đẹp, nhưng bên trong toàn là phân và nước tiểu mà thôi. Nên biết người con gái đẹp đều là những cái bình vẽ mà thôi. Người hành đạo thì không nên để chúng mê hoặc, cho nên phải kềm chế một cách mạnh mẽ, tư duy phân biệt. Nàng Nại Nữ này đến đây cũng để nghe ta khuyên dạy, sao gọi là kềm chế một cách mạnh mẽ?”. - Ðó là, nếu đã sanh phép ác, phải đoạn trừ liền, nhiếp niệm tinh tấn, tự theo nhiếp ý cho đoan chánh, nếu chưa sanh phép ác thì đừng cho nó sanh, hãy nhiếp niệm tinh tấn, tự thu nhiếp ý cho đoan chánh. Nếu chưa sanh pháp lành, khiến nó phát sanh, nhiếp niệm cho tinh tấn, tự giữ ý mình cho đoan chánh. Nếu đã sanh pháp lành, lập chí đừng có quên, hãy khiến cho nó tăng trưởng, nhiếp niệm tinh tấn, tự giữ ý mình cho đoan chánh. Ðó là điều phải làm. Thà chặt đứt gân cốt, tự đập nát thân thể, chớ đừng theo vọng tâm mà làm ác. Ðó gọi là kềm chế tâm một cách mạnh mẽ.

–Sao gọi là chí - tư - duy?

–Ðó là quán trong thân, theo thứ tự trong thân, quán ngoài thân, theo thứ tự ngoài thân, quán trong ngoài thân,  suy nghĩ phân biệt, đoạn trừ ý sai khiến. Hãy quán thống (thọ) ở trong, quán thống theo thứ tự; quán thống ở ngoài, quán theo thống thứ tự, quán thống cả trong lẫn ngoài, nhớ nghĩ phân biệt để đoạn trừ ý sai khiến. Hãy quán ý ở bên trong, quán theo thứ tự, quán ý ở bên ngoài, quán theo thứ tự, hãy quán ý cả trong lẫn ngoài, nhớ nghĩ phân biệt để đoạn trừ ý sai khiến. Hãy quán pháp ở trong, quán theo thứ tự, quán pháp ở ngoài, quán theo thứ tự, quán pháp cả trong lẫn ngoài, nhớ nghĩ phân biệt để đoạn trừ ý sai khiến. Ðó gọi là chí tư duy.

–Sao gọi là phân biệt để biết cái gì nên làm và cái gì không nên làm?

–Vì nhờ vậy để hành động theo điều chơn chánh. Ðó gọi là phân biệt, vì ai có thể kềm chế tâm, tư duy, phân biệt một cách mạnh mẽ thì đó gọi là người có sức lực, đâu chỉ gọi những tráng sĩ có nhiều sức lực mới là người có sức mạnh, nếu ai có thể bỏ ác theo thiền thì gọi đó là người có sức mạnh tối thượng.

Từ khi cầu Phật quả cho đến nay, ta đã chiến đấu với tâm ta trong vô số kiếp, nhờ không nghe theo tâm tà cho nên nay mới được làm Phật ở trong thế gian, và mới có thể đình chỉ cuộc chiến ấy. Ý của các ngươi từ lâu đã ở trong chỗ bất tịnh, hãy tự nhổ sạch tâm ý ấy để thoát khỏi các khổ, nếu thấy người nữ đến, hãy như lời ta dạy mà tư duy

Bấy giờ Nại Nữ đến, cúi lạy Ðức Phật xong rồi đứng qua một bên, Ðức Phật hỏi:

–Ý của các người bây giờ như thế nào?

Thưa rằng:       

–Chúng con đã thọ lãnh ơn đức lớn của Phật, được nghe giáo pháp làm cho kẻ ngu si tỉnh ngộ được đêm dài tăm tối lâu đời, nay tự dặn lòng mình không dám có tâm tà nữa

Ðức Phật bảo Nại Nữ:

–Ai thích tà tâm, có năm điều tổn hại:

1. Nhiều tiếng không tốt.

2. Bị phép vua theo dõi.

3. Ôm lòng lo sợ, có nhiều nghi ngờ.

4. Chết phải đọa vào địa ngục.

5. Tội trong địa ngục hết rồi phải thọ thân hình súc sanh. Tất cả điều đó do dục mà ra, hãy tự diệt tâm.

Người không có tà dâm có năm điều làm cho phước đức tăng trưởng:

1. Ðược nhiều người khen ngợi.

2. Không sợ huyện quan.

3. Thân được an ổn.

4. Lúc chết được sanh lên trời.

5. Ðược đạo Nê Hoàn thanh tịnh.

Do đó, tự mình cần phải nhàm chán những tai họa (do dục sanh ra). Nữ nhơn sanh bệnh, nguyệt kỳ bất tịnh, bị câu thúc, trói buộc, đánh đập, không được tự tại. Nếu thọ lãnh thực hành kinh giới thì có thể được đạo thanh tịnh như Phật.

Ðức Phật thuyết pháp, chánh hóa những lời căn bản cho Nại Nữ nghe, nàng rất vui mừng, từ chỗ ngồi đứng dậy, quì dài, bạch Ðức Phật rằng:

–Con muốn thiết bày chút ít trai diên, cúi mong Ðức Phật cùng thánh chúng đồng duỗi oai thần hạ cố.

Ðức Phật im lặng nhận lời, nàng liền đảnh lễ rồi lui ra về. Nàng đi chưa lâu thì Hào Tánh ở Duy Da Ly, có các Ly Xa, nghe Ðức Phật cùng các đệ tử đến, cách thành bảy dặm, họ liền vâng theo oai thần của vua, sửa soạn loại xe bốn màu, đi đến muốn yết kiến Ðức Phật. Trong các Ly Xa có người cỡi ngựa xanh, xe xanh, áo xanh, lọng xanh, tràng xanh, phạn xanh, quan thuộc đều xanh. Có người cỡi ngựa vàng, xe vàng, y vàng, lọng vàng, tràng vàng, phạn vàng, quan thuộc đều vàng. Có người cỡi ngựa đỏ, xe đỏ, áo đỏ, lọng đỏ, tràng đỏ, phạn đỏ, quan thuộc đều đỏ. Có người cỡi ngựa trắng, xe trắng, y lọng tràng phạn, quan thuộc đều trắng.

Ðức Phật thấy đoàn xe, ngựa hàng mười vạn người chật cả đường mà đến. Ngài liền bảo các Tỳ kheo rằng:

–Các ngươi muốn thấy các thị tùng ra vào ở trong vườn của Thiên Ðế Thích ở trên cõi Trời Ðao Lợi như thế nào thì đoàn người cũng như vậy, không khác.

Các Ly Xa đến đều xuống xe đi bộ, vào vườn Nại đảnh lễ Ðức Phật xong rồi ngồi qua một bên Ðức Phật thuyết pháp chánh hóa cho mọi người nghe. Có một người tên là Tinh Kỵ, từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại y phục, hướng về đức Phật tự trình bày rằng:

–Mỗi khi nghe công đức của Phật, to lớn vời vợi, trên trời, dưới trời chẳng ai mà chẳng rung động. Con thường ở chỗ mình, luôn luôn kính ngưỡng, lại được giáo hóa thanh tịnh, cho nên không dám không để ý đến.

Ðức Phật bảo Tịnh Kỵ:

–Những người thông minh trong thiên hạ mới biết kính Phật. Hễ ai kính Phật liền được phước đức, khi chết đều được sanh lên trời, không đọa vào đường ác.

Bấy giờ Tịnh Kỵ nói lên bài kệ khen Phật:

Kính, yết pháp vương đến,

Tâm chánh, đạo lực an,

Phật là bậc Tối Thắng,

Danh tiếng như núi tuyết,

Như hoa sạch, không nghi,

Như gần hương hoan hỉ,

Ngắm thân Ngài không chán,

Sáng chói như trăng rằm,

Trí Phật thật cao diệu,

Sáng suốt không chút bụi,

Xin giữ giới thanh tín,

Tự quy y Tam - Tôn.

Bấy giờ ngồi ở trong tòa có năm trăm hào tánh đều cởi áo quý của mình tặng cho Tinh Kỵ. Tinh Kỵ nhận cái áo qúy ấy đến trước Ðức Phật bạch rằng:

–Các tôn giả này nghe lời thánh thiện của Ðức Phật nên hoan hỷ, cùng nhau đem năm trăm áo quý này dâng lên cúng Ðức Thế Tôn, mong Ngài thương xót mà thọ nhận Ðức Phật thọ nhận xong liền bảo rằng:

–Các Truyền sĩ nên biết! Phật là Như Lai Chí Tôn, Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ, đạo pháp ngự thiên nhân sư, hiệu là Phật, Chúng Hựu, xuất hiện ở thế gian. Có năm pháp tự nhiên rất khó được. Những gì là năm:

+ Ðức Phật xuất hiện giáo hóa thiên hạ, Thích, Phạm, Sa môn, Phạm chí, rồng, thần, đế vương, dùng trí huệ tự nhiên, hiện chứng ở thế gian, khai mở, diễn thuyết dạo chơn thật, lời nói đầu cũng thiện, lời nói giữa cũng thiện, lời nói cuối cũng thiện, rất chí yếu, đầy đủ ý nghĩa, thanh tịnh, rốt ráo, Ngài diễn thuyết cho tất cả chúng sanh Ðó là pháp tự nhiên khó thứ nhất.

+ Ðức Phật nói kinh cho thiên hạ, người nghe đều hoan hỉ, tin học, đọc tụng, đoan nghiêm thân, miệng, ý, bỏ tà theo chánh. Ðó là pháp tự nhiên khó thứ hai.

+ Nhân dân trong thiên hạ nghe kinh đạo của Phật, ý chí khai mở, thâm nhập tư duy, đều được trí huệ sáng suốt. Ðó là pháp tự nhiên khó thứ ba.

+ Nhân dân thiên hạ nghe lời giáo giới của Phật, đa số kính yêu, thoát khỏi 3 ác đạo, sanh trong Thiên nhân được lợi ích lớn. Ðó là pháp tự nhiên khó thứ tư.

+ Nhân dân trong thiên hạ, nghe lời diệu pháp thâm ảo của Phật đạo, hiểu được nguồn gốc duyên cớ của sanh tử, đoạn tình, tuyệt dục, đều được giải thoát. Tinh tấn thứ nhất được dạo Ứng Chơn, tinh tấn thứ nhì được đạo Bất Hoàn, tinh tấn thứ ba được đạo Tần Lai, tinh tấn thứ tư được đạo Cấu Hạng. Ðó là pháp tự nhiên khó thứ năm vậy.

Phàm con người đối với Ðức Phật phải có lòng báo ơn, dù cúng dường chút ít, điều lành cũng được đại phước, không bao giờ vô ích. Cho nên, này Tịnh Kỵ, hãy nên tự mình siêng năng, hãy học cái đức ấy. Ðức Phật dạy như vậy xong, các Ly Xa từ tòa đứng dậy, sửa lại y phục chấp tay thưa rằng:

–Chúng con vốn muốn thỉnh Ðức Phật, nhưng Nại Nữ đã thỉnh trước chúng con, mong rằng sau này chúng con được mời Ðức Phật. Hiện nay chúng con có nhiều việc phải trở về, vậy chúng con xin kiếu từ.

Ðức Phật dạy:

–Hãy nên biết thời.

–Khi ấy họ liền cúi đầu lạy dưới chân Ðức Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi ra đi.

Nại Nữ suốt đêm làm những món ăn đặc biệt ngon bổ, trang trí trong phòng, buổi sáng đặt bày sàng tọa, đi đến bạch Ðức Phật:

–Trai phạn đã dọn xong, mong Thánh biết thời.

Ðức Phật cùng các đệ tử đồng đi đến nhà Nại Nữ, Ngài ngồi trên tòa cao trước đại chúng, Nại Nữ tự tay múc dọn, dâng cúng, lấy nước rửa tay xong, cầm một cái ghế nhỏ ngồi trước Ðức Phật, muốn hỏi pháp

Ðức Phật dạy:

–Ðời ta nhờ ưa thích bố thí, về sau không có oán sợ, phần nhiều được tiếng khen, tiếng lành ngày một nhiều, mọi người kính yêu, con người mà không keo kiết, lấy nhân từ làm trí, như vậy là không có cấu uế, được an ẩn, được sanh lên cõi Trời, cùng vui chơi với chư tiên.

Ðức Phật vì Nại Nữ thuyết pháp chánh hóa, nhiều điều cốt yếu xong, tất cả đều hoan hỉ.

Ðức Phật bảo Tôn giả A Nan cùng đi đến ấp Trúc Phương dừng chân ở dưới rừng cây, phía bắc thành. Năm ấy thôn Trúc Phương bị đói kém,  lúa thóc khan hiếm. Ðức Phật bảo các Tỳ kheo:

–Hiện nay ở đây bị đói kém, việc khất thực khó khăn các ngươi nên phân bổ đi đến các thôn xóm của Duy Na và Việt Kỳ, có thể những nơi đó lúa thóc dồi dào hơn. Hãy thọ giáo và thực hiện đi.

Ðức Phật dạy:

–Này Tỳ kheo! Nên biết pháp tự điều độ, được điều lành không mừng, bị điều ác không buồn, việc ăn uống để nuôi thân thể, chớ tham cầu đồ ngon, đắm say mùi vị. Do ái cầu cho nên sanh tử không bao giờ chấm dứt.

Phàm biết giữ thân điều độ, tự mình điều độ thì có thể được định ý. Ðức Phật thuyết pháp cho các bậc Tỳ kheo nghe, chánh hóa nhiều điều căn bản, làm cho tất cả đều vui mừng, họ đảnh lễ rồi lui ra

Các Tỳ kheo phân chia đi đến các vùng lân cận, riêng Ðức Phật và Tôn giả A Nan đồng đi đến xóm Vệ Sa. Khi ấy Ðức Phật bị bệnh, toàn thân đau nhức Ðức Phật nghĩ rằng: “ Hiện nay ta bị đau nhức dữ dội, nhưng các đệ tử đều không có ở đây vậy hãy chờ tất cả về đây ta sẽ nhập Nê Hoàn. Vậy ta nên dùng tự lực tinh tấn để đối trị bệnh này, dùng cái định không niệm các tưởng. Ngài liền dùng tam muội chánh thọ Như Kỳ Tượng, tư duy, dùng định không nghĩ các tưởng. Nhờ nhân ý này mà được tự tại.

Hiền giả A Nan từ dưới một gốc cây đứng dậy đi đến chỗ Ðức Phật, cúi lạy xong đứng qua một bên, hỏi thăm về bệnh tình của Ðức Phật có thuyên giảm chăng?.

Tôn giả thưa:

–Con nghe Thánh thể bị bệnh, trong lòng rất buồn rầu. Ðức Thế Tôn đã được vô dục trước khi nhập Niết bàn, mong có lời giáo giới cho các đệ tử

Ðức Phật bảo Tôn giả A Nan:

–Ta có xa lạ gì với chúng Tăng đâu, ta luôn luôn ở trong chúng Tỳ kheo, những điều cần phải thi vị giáo giới, trước sau ở trong chúng, ta đã nói đầy đủ rồi. Các ngươi hãy nên tinh tấn theo kinh mà làm. Nay ta bị bệnh toàn thân đau đớn, ta liền tư duy về cái định, không nghĩ đến các tưởng, ý không chấp vào bệnh, cố gắng chịu đựng để chấm dứt cơn đau. Này A Nan! Ta đã thuyết pháp trong ngoài đều đầy đủ. Phật là pháp sư, chẳng có bỏ sót điều gì. Những điều gì cần làm, thì tự mình biết một cách rõ ràng. Nay ta cũng đã già, tuổi đã tám mươi giống như chiếc xe cũ kỹ, không còn chắc chắn nữa. Ta vốn có nói: “ Sanh tử có lúc, hễ không sanh thì sẽ không tử. Có một cõi trên trời tên là Bất-Tưởng-Nhập, tuổi thọ đến tám mươi bốn ngàn vạn kiếp, cuối cùng cũng phải chết. “ Cho nên Phật nói kinh cho thiên hạ, nhằm chỉ con đường lớn Nê-Hoàn, đoạn trừ cội gốc sanh tử. Nay ta đã có thân chắc chắn phải có lúc tan rã. (vậy các ngươi) hãy lấy giáo pháp làm lò nung, hãy tự qui y với pháp. Sao gọi là lấy pháp làm lò nung? Sao gọi là tự quy? Ðó là chuyên tâm vào bốn chí duy (tứ niệm xứ).

1/ Quấn thân.

2/ Quán thống (thọ).

3/ Quán ý ( tâm). 

bốn/ Quán pháp.

Kiềm chế sự nhớ nghĩ một cách dõng mãnh, đoạn trừ những vọng tưởng. Ðó gọi là lò nung cho tất cả pháp, rèn luyện nên lấy đó làm chỗ tự quy (nương tựa chính mình). Ta vì điều này nên đã nói lại (cho các ngươi rõ). Nếu muốn hiểu rõ phải tinh tấn thực hành giới pháp trong và ngoài, làm cho được như thường. Nếu ai có tự quy y, hiểu kinh đạo của Phật thì đều là con cháu của đức Phật vậy. Nay ta đã vứt bỏ địa vị chuyển luân vương, vì thiên hạ mà giác ngộ, chuyên lo độ thoát ba cõi. Các ngươi cũng nên tự lo thân mình để đoạn trừ các khổ.

Ðể tránh mùa mưa, tu bổ lại y phục xong, đức Phật bảo tôn giả A Nan đồng đi đến Duy Da Ly. Tôn giả vâng lời cùng đi, dừng chân ở quán Viên Hầu, đi khất thực xong, rửa bát, tắm rửa. Ngài lại cùng với tôn giả A Nan đến chỗ Cấp Tật Thần. Ðức Phật dạy:

–Này A Nan! Duy Da Ly được an lạc, Việt Kỳ cũng được an lạc, Nay ở trong thiên hạ này có mười sáu đại quốc, các lãnh thổ của họ đều được an lạc. Sông Hy Liên Nhiên, sanh nhiều vàng ròng, đất Diêm Phù Ðề có năm màu như bức tranh vẽ, con người ở đời cho sống lâu là vui sướng. Nếu Tỳ kheo, Tỳ kheo ni biết bốn thần túc, thì có thể dứt trừ hết khổ, tu tập thực hành nhiều lần thường nhớ mãi không quên, nếu trong ý muốn thì có thể được bất tử, không chỉ trong một kiếp.

Như vầy, này A Nan, bốn thần túc của Phật đã tu tập nhiều lần, chuyên niệm không quên, tùy theo ý muốn Như Lai muốn kéo dài tuổi thọ hơn một kiếp cũng được. Ðức Phật đã nói điều này đến lần thứ hai, thứ ba.

Bấy giờ tâm ý của tôn giả A Nan mất bình tỉnh, bị ma che khuất, mê mờ không tỉnh, nên im lặng không trả lời.

Ðức Phật bảo:

–Này A Nan! Ngươi hãy đến dưới một gốc cây, tỉnh ý tự tư duy. Tôn giả liền theo lời dạy đi đến ngồi một chỗ. Khi ấy Ma Ba Tuần đến hỏi rằng:

–Ý Phật vô dục, có thể Bát Nê- Hoàn, việc dạy dỗ đã hoàn tất, vậy có thể diệt độ được rồi. Ngày xưa Phật du hóa trên bờ sông Ủ Lưu, giảng dạy cho các người già rằng:

–Ta là Phật, tuy được tự tại, nhưng không tham sống lâu. Vậy nay đã đúng lúc Người hóa độ cũng đã hoàn tất, có thể Bát Nê Hoàn được rồi.

Ðức Phật bảo Ba Tuần:

–Sử dĩ tới bây giờ mà ta chưa diệt độ là vì chờ cho chúng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni của ta đều được trí tuệ để thừa kế kinh giới, khuyến hóa kẻ chưa thâm nhập, khiến cho kẻ theo học được thành tựu. Và cũng vì chờ cho các Thanh-Tín-nam và Thanh-Tín-nữ được trí tuệ để thừa kế kinh giới, ai chưa thâm nhập được thâm nhập, kẻ thọ pháp được thành tựu. Như vậy, này Ba Tuần! Ta phải chờ cho bốn chúng đệ tử Ðều được pháp ý, thay nhau dạy dỗ, khai mở cho những mê muội, làm cho kẻ học được thành tựu. Cho nên mãi đến nay mà ta vẫn chưa diệt độ vậy.

Ma nói rằng:

–Ðã đủ rồi, thời gian đã hết.

Ðức Phật bảo:

–Ngươi hãy im lặng! Không bao lâu nữa, sau ba tháng này Như Lai sẽ nhập Nê Hoàn.

Trong lòng Ma vui sướng, hoan hỷ ra đi. Ðức Phật liền ngồi ngay thẳng, định ý tự tư duy, vào trong tam muội, không trụ vào tánh mạng, xả bỏ tuổi thọ còn lại. Ngay lúc ấy, quả đất rung động mạnh. Bầu trời trong vắt, ánh hào quang của Ðức Phật soi khắp mười phương, các thiên thần đứng chật hư không. Ðức Phật từ định ra, tự nói bài kệ rằng:

–Các hạnh đều vô thường,

  Ta nay bỏ hữu-vi,

  Những người cần hóa độ,

Ta đã hóa độ rồi.

Hiền giả A Nan trong lòng hoảng hốt, lông tóc dựng đứng, chạy nhanh đến chỗ Ðức Phật, cúi lạy xong, đứng qua một bên, bạch Ðức Phật:

–Kỳ lạ thay, bạch Thế-tôn! Quả đất rung động như vậy là do duyên cớ gì?

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:    

–Phàm ở thế gian, động đất có tám nguyên nhân. Những gì là tám?

+ Trong thiên hạ, đất ở trên nước, nước ngăn chặn gió, gió ngăn chặn hư không. Ở hư không, gió lớn có lúc nổi lên làm cho đại thủy bị nhiễu loạn, hễ đại thủy mà nhiễu loạn thì toàn quả đất bị rung động. Ðó là một.

+ Có lúc sa môn đắc đạo và các Thần Diệu Thiên, giới đức to lớn, muốn thử sức lực của mình nên dùng tay ấn xuống mặt đất, thì toàn địa cầu bị chấn động. Ðó là thứ hai.

+ Nếu vị Bồ Tát mới từ cõi trời thứ tư hạ sanh, nhập vào thai mẹ, ý từ sáng suốt, muốn hiện ra đạo để giáo hóa, khai mở cho kẻ ngu muội, bèn phóng luồng thần quang, làm chấn động đất trời, khiến cho Phạm Thiên, Ðế Thích, Ma, Sa môn, Phạm Chí, tất cả đều thấy ánh sáng ấy. Ðó là ba.

+ Lúc Bồ-tát ra khỏi thai Mẹ, đức của Ngài cảm hóa Chư Thiên, thanh tịnh không cấu uế, thần quang chiếu khắp nơi làm cả quả đất chấn động. Ðó là bốn.

+ Ðến lúc Bồ Tác được đạo vô thượng chứng Phật quả, làm cho cả quả đất chấn động mạnh, thiên thần bốn phương đều xưng dương danh hiệu Phật. Ðó là năm.

+ Lúc đã thành Phật, đại hội lần đầu tiên, 3 lần chuyển pháp luân, Thiên nhân hiểu rõ, Bồ Tát khắp nơi được thành đạo lớn, hào quang chiếu khắp, bấy giờ cả quả đất đều chấn động. Ðó là sáu.    + Ðức Phật giáo hóa sắp hoàn mãn, muốn bỏ tuổi thọ, không trụ tánh mạng, bèn phóng luồng hào quang lớn, khuyến phát trời người, làm cả quả đất chấn động. Ðó là thứ bảy.

+ Phật là bậc Chúng- Hựu, lúc sắp xã thân, nhập Bát Nê Hoàn, hào quang chiếu nơi nơi, thiên thần đều đến dự, làm cho quả đất chấn động . Ðó là thứ tám.

Tôn giả A Nan thưa:

–Nay đức Phật đã xả bỏ thân mạng rồi sao?

Ðức Phật đáp:

–Ðã xả bỏ.

Tôn giả A Nan thưa:

–Ngày xưa con nghe Phật dạy: “Nếu có đệ tử nào biết được bốn thần túc, tu tập thực hành nhiều lần, chuyên niệm không quên, tùy theo ý muốn, có thể sống tới một kiếp hay hơn thế nữa cũng được. Nhưng đạo đức của Phật còn thù thắng hơn nhiều, vậy sao Ngài không kéo dài mạng sống?

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

–Nay theo lời ngươi nói, há lại không sai lầm lắm sao? Ta đã nói với ngươi về Tứ thần túc ấy cho đến hai ba lần nhưng lúc ấy ngươi vẫn im lặng. Ngươi đang đắm chìm trong mê muội, không phát minh tưởng, bị ma che khuất, mà bây giờ lại hỏi vì sao vậy?

Ðức Phật hỏi:

–Lời của Ðức Phật đã nói có thể đi ngược lại sao?

A Nan thưa rằng:

–Không thể được.

–Như vậy, này A Nan! Phàm kẻ không có trí khi đã tự nói ra, rồi lại nuốt lời dễ dàng, còn ta thì không như vậy.

Tôn giả A Nan sụt sùi thưa rằng:

–Sao mà nhanh thế! Ðức Phật nhập Niết - bàn! sao mà nhanh thế! Con mắt của thế gian đã mất.

Khi ấy, Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

–Hãy vân tập các Tỳ kheo đang du hành ở nước Duy Da Ly Lại.

Tôn giả liền vâng lệnh đi mời, tất cả Tỳ kheo  nhóm ở giảng đường, cúi đầu lạy Phật rồi đứng qua một bên.

Ðức Phật bảo các Tỳ kheo:

–Thế gian là vô thường, không có bền chắc, tất cả rồi sẽ ly tán. Ở trong cái vô thường đó, để tâm thức dong ruổi chỉ là tự dối mình mà thôi. Ân ái hội họp nào có lâu gì? Núi Tu-di trong trời đất còn phải sụp đổ, huống chi là con người, sự vật mà lại muốn trường tồn?! Sanh tử sầu khổ, chỉ là điều đáng nhàm chán mà thôi. Sau ba tháng nữa, đức Phật sẽ nhập Niết-bàn, chớ cho là lạ, chớ có ưu sầu. Vã lại tất cả các đức Phật quá khứ, vị lai và hiện tại đề do pháp mà thành. Kinh pháp nếu tồn tại đầy đủ thì nên tự mình cố gắng, siêng năng nỗ lực học hành, giữ tâm thanh tịnh, sẽ được giải thoát. Tâm, thức, tình nếu dừng lại thì sẽ không chết, không còn tái sinh nữa, cũng không còn chạy vào năm đường để bỏ một thân, thọ một thân nữa. Năm ấm đã đoạn trừ thì không còn tai họa đói, khát, lạnh, nóng, ưu sầu khổ não nữa.

Con người biết giữ tâm chân chánh thì chư thiên ở trên Trời thảy đều mừng cho kẻ ấy. Hãy hàng phục tâm, làm cho mềm mại, tự điều phục, chớ có theo tâm mà hành động. Hành động của tâm cũng đưa đến sự đắc đạo, tâm làm trời, tâm làm người, tâm làm quỉ thần, súc sanh, địa ngục cũng đều do tâm tạo ra cả. Từ hành động của tâm mà sanh ra các pháp, tâm làm ra thức, thức làm ra ý, ý chuyển nhập vào tâm. Tâm ấy hết sức to lớn, tâm chí tạo ra hành động, hành động tạo ra mạng sống, hiền hay ngu cũng do hành động, thọ hay yểu đều do bổn mạng. Phàm ba cái chí, Hành và Mạng đều tùy thuộc vào việc làm tốt hay xấu, mà thân ta phải thọ lãnh lấy. Cha làm điều bất thiện, con không ảnh hưởng, con làm điều bất thiện, cha cũng không liên can. Làm thiện thì tự mình được phước, làm ác tự mình thọ lấy tai ương. Nay Phật được trên trời dưới đất tôn kính đều do chí nguyện tốt mà ra. Cho nên cần phải lấy chánh tâm mà hành pháp. Chỉ có người thực hành theo pháp thì đời này được dừng nghỉ, đời nay được an vui. Vậy hãy khéo mà gìn giữ, thọ trì, phúng tụng tịnh ý tư duy tự nhiên giáo pháp thanh tịnh của ta mới có thể được an trụ  lâu dài, mới có thể thương xót cứu độ các khổ của thế gian, dẫn dắt Chư thiên và nhân dân được lợi lạc an ổn.

Các Tỳ kheo nên biết, những gì là pháp?

–Ðó là bốn chí- duy, bốn Ý- đoan, bốn thần- túc, bốn thiền- hạnh, năm căn, năm lực, bảy giác và tám đạo đế. Như điều đã thọ mà  hành trì thì có thể được giải thoát, làm cho chánh pháp không suy thối.

–Sao gọi là bốn chí duy:

–Ðó là quán trong thân, theo thứ tự trong thân mà quán, quán ngoài thân, theo thứ tự ngoài thân mà quán, quán cả trong lẫn ngoài, phân biệt nhớ nghĩ để đoạn trừ ý ngu si mê hoặc. Quán về Thống và ý và pháp cũng giống như lối quán ở trên.

–Sau gọi là bốn ý đoan?

–Ðó là đã sanh pháp ác liền có thể đoạn trừ, sửa tánh cho tinh tấn để tự nhiếp ý đoan chánh. Chưa sanh pháp ác thì kiềm chế đừng cho khởi lên, sửa tánh  cho tinh  tấn để tự nhiếp ý đoan chánh. Chưa sanh pháp thiện thì có thể làm cho phát sanh, sửa tánh tinh tấn, để tự nhiếp ý đoan chánh. Ðã sanh pháp thiện, lập chí khôn