HOẰNG ÐẠO QUẢNG HIỂN TAM MUỘI
- Hán dịch:
Tây Tấn Nguyệt Thị, Tam Tạng Trúc Pháp Hộ.
- Việt dịch: Thích
Chánh Lạc
---o0o---
Quyển thứ hai
2.PHẨM THỈNH NHƯ
LAI:
Khi ấy A Nậu Ðạt tự
mình cùng với các quyến thuộc, cúi lại đức Thế Tôn, quỳ gối chắp tay bạch
đức Phật:
–Cúi mong Thiên Tôn,
hạ cố oai thần, đi đến A Nậu Ðạt trí nơi ao lớn Vô Nhiệt, ba tháng để
chúng con cúng dường Thánh Tôn, cùng các Bồ tát biện quả Thần thông với đệ
tử Thượng Tôn, mong đức Phật thương xót chấp nhận sự thỉnh cầu của con.
–Vì sao vậy?
–Vì sự cúng dường
của chúng con hướng đến bậc chí chơn Chánh giác, có thể phù hợp nghi thức
của Như Lai chăng? Cúi mong được nghe đấng tịch tịnh thượng hóa dạy. Chúng
con dùng pháp này để cúng dường. Chúng con suy nghĩ rằng được nghe lại
tượng pháp như vậy, khiến tâm thường oan duyệt. Ðó mới là phụng thờ Tam
bảo chăng?
Bấy giờ đức Thế Tôn
không nhận sự thỉnh cầu ấy.
Long Vương lại thỉnh
hai tháng, nhưng đức Như Lai vẫn không nhận. Long Vương lại thỉnh nữa
tháng, đức Thế Tôn im lặng nhận lời.
Khi ấy Long Vương
cùng với quyến thuộc tùy tùng, thấy đức Thế Tôn nhận lời, nên hân hoan
sung sướng, liền sanh thiện tâm, nhiễu quanh Phật ba vòng, nổi mây, ùn sấm
chớp, mưa phùng khắp mặt đất, bỏng nhiên trong khoảng khắc, họ đều bay về
cung điện của mình.
Khi A Nậu Ðạt đến
ngồi nơi chánh điện của mình, liền gọi năm trăm trưởng tử. Tên các trưởng
tử là Thiện Nha, Thiện Thí, Thiện Ý, Thiện Minh, Năng Diệt, Tịch Tưởng,
Cảm Ðộng, đại Oai, Cam Oai, Cam Quyền, Cam Ðúc, Phổ Xưng, Oai Dũng, Trì
Mật, Nhãn Lực, Hành Tường...
Năm trăm trưởng tử
như vậy thuở xưa đã trồng đạo Vô thượng chánh chơn rồi. Long Vương bảo họ
rằng:
–Này các con, nay ta
đã thỉnh đức Như Lai, bậc Vô Trước bình đẳng, Chánh giác và chúng Bồ tát,
các để tử của ngài suốt trong nữa tháng. Ðức Thế Tôn Chánh giác đã duỗi
lòng đại bi thương xót khởi lòng thương rộng lớn chấp nhận lời thỉnh cầu
của ta. Vậy các ngươi nên một lòng, cùng nhau siêng năng, hết lòng cung
kính đức Thế Tôn, Như Lai Chí Chơn, siêng nhớ Vô thường, mỗi người phải
tịch tịnh, khiêm nhường, cung kính, ở đây chờ đợi đức Như Lai, cần phải xả
bỏ tâm ý dâm dục và sự dục lạc của loài rồng, trừ bỏ tham, nộ, hại, lìa
dục, sắc, thinh, hương, vị, vật trơn mịn.
–Vì sao vậy?
–Vì đức Thế Tôn nhờ
vô dục mà được An lạc, tốt đẹp, nhân từ, tao nhã, suy xét rõ ràng, tùy
thuận điều phục, tịch tịnh, hiển lộ đầy đủ các đức, có thị tùng vây quanh,
vô lượng nghi dung, đều nhờ giới yếu chân chính của chư Phật mà có. Vì
vậy, các ngươi trong nữa tháng này không vào được cung điện, phải trừ bỏ ý
niệm dâm, nhuế, ngu si.
Lại nữa, khi đức Như
Lai tuyên giảng chánh pháp, chắc chắn có Bồ tát Thần thông, Thích, Phạm,
Thiên tử trì thế túc tịnh ở các phương khác đồng đến dự hội.
Các ngươi phải siêng
nhớ nghĩ, tập hợp các hiền thần, nghiêm túc rực rỡ, chớ có làm biếng, để
các hội chúng, thấy xong vui mừng nhảy nhót. Ðó mới là chánh chơn cúng
dường đức Như Lai.
Khi A Nậu Ðạt đã ra
lệnh xong, liền vì đức Như Lai, trong ao Vô Nhiệt, dưới núi Tuyết sơn, hóa
làm một tòa tịnh lưu ly, thật hoàn hảo, cao rộng đến tám trăm do tuần, rất
đặc thù, kỳ lạ, chung quanh cao đẹp, đặt tám vạn bốn ngàn tạp bảo, cây
báo, xen kẻ, dùng các vật trân bảo để trang sức, có ánh sáng đẹp, trăm sắc
tinh vi rực rỡ, tỏ ra hương thơm, ở giữa các cây hóa làm tám vạn bốn ngàn
nhà bảy báu, các ngọc báu chiếu sáng thật đẹp, không có gì sánh bằng, đặt
mười vạn giao lộ, trướng thêu, xâu các ngọc xích trân châu đẹp lạ lùng
thòng xuống. Ở trên các điện thượng có tòa sư tử gồm cả thảy tám vạn bốn
ngàn, đều rộng lớn, trải lên trên sàng tọa những tấm dạ đủ màu, tuyệt đẹp
vô giá. Ðặt các giao lộ, xen kẻ các báu. Ở trên điện đường có hai ngàn thể
nữ loài rồng, hình sắc tuyệt diệu, dáng vẻ đẹp vô cùng, sắc mặt đẹp như
hoa, miệng tỏa mùi hương thơm, tay cầm tạp hoa, hương bột hương xoa, tấu
các kỹ nhạc, ca vịnh công đức của Phật, làm cho chúng hội vui vẻ. Ở trên
hư không, hóa làm lọng báu, bao trùm cả ngàn do tuần. Châu ngọc chạm trổ
trong lọng báu ấy có vô số màu sắc, treo phướn làm bằng lụa đẹp, giữa
phướn lụa ấy treo các linh báu, phong cảnh điều hòa, âm nhạc du dương.
Khi Long Vương đã
dọn món ăn trăm vị, chuẩn bị đã đầy đủ, thần biến đã xong, cùng với quến
thuộc, cung kính vòng tay, hướng về đức Phật, quỳ gối, từ xa thưa đức Thế
Tôn, với ý cung thỉnh, dùng bài tụng để ngợi khen:
Kho huệ, trí lớn,
tích lũy đức.
Huệ đạt, không đắm,
khéo dãn chúng
Huệ lớn lan khắp
không chướng ngại.
Huệ thượng tối lực
giáng thần quang
Huệ rõ tâm hành chỉ
đại nhân
Nếu quán chúng sanh
loại mười phương
Thần tôn tối thượng
nhận con thỉnh
Nhớ nghĩ xót thương,
đúng thời đến
Tri túc không tham,
sống giản dị
Phước tốt, thảm xét
Thánh đạo sư
Hành thiện, tin
thật, biết ý chúng
Thời tiết đã đến xin
hạ cố
Ðức ngài vang khắp
hạnh bằng vua
Làm bạn không thỉnh
cùng niệm khắp
Chí nhân, thanh tịnh
như hư không
Con chuẩn bị xong,
chờ thần tôn.
Oai ngụ mười phương,
cứu giúp đời.
Phật sự mười tám đều
đồng có
Ðộ chúng đứng đầu,
hạnh từ bi
Nguyện ngài cùng
chúng, thời đã đến
Sắc diệu đoan chánh,
thân tướng đẹp
Ngọc đẹp các thứ,
hoa trăm màu
Tâm ngài hoan hỷ huệ
thí pháp
Ðại nhân đạo sư xin
biết thời
Tiếng phạm thanh
tịnh như sấm xét
Loan phụng reo mừng
sư tử bước
Ðầy đủ diệu âm ai
cũng thích
Mọi người hy vọng
được nhìn thấy
Ba ngàn cõi pháp
không đâu bằng
Không ai biết được
tâm Như Lai
Thánh tôn thấy rõ
hạnh chúng sanh
Việc tu, thường đúng
thời mới dạy
Biết lúc phổ độ,
ngài quyền hóa
Rõ biết chúng sanh
có Thánh thệ
Xét rõ hành động
bằng mắt sáng
Thần oai đầy đủ
nguyện chiếu soi
Chúng sanh thảy đều
rất khát ngưỡng
Thập lực, sức mạnh,
oai, không mạn
Ðức đại nhân hùng
dũng như thế
Tánh Thánh xót
thương hơn thế nữa
Hổ thẹn, đầy đủ đức
tối thượng
Nến cứu vướt chúng
sanh vô biên
Thầy bạn vô song
cùng cứu đời
Lòng thương giáo hóa
vô số rồng
Ở đời, oai đức rộng
cứu tế
Biết rõ các hành nên
như ý
Khai mở chỉ đường,
chỉ Thiên Tôn
Thần túc nhẹ nhàng
xin đến dự.
Bấy giờ đức Thế Tôn
biết A Nậu Ðạt thỉnh nguyện, vì thời gian đã đến, ngài liền bảo các Tỳ
kheo, đắp y, ôm bát đi phó hội.
Long Vương Vô Nhiệt
quỳ gối từ xa thưa rằng:
–Chư tôn đã chấp
nhận con cúng dường nửa tháng, vậy Bây giờ xin chư vị quang lâm.
Bấy giờ tám vạn bốn
ngài Bồ tát, đều là những bậc đại thần thông, đức đầy, quả mãn, hai ngàn
đệ tử cũng là bậc thần túc tối thượng, tùy tùng, nhiều quanh đức Thế Tôn
rồi ra đi.
Ðức Như Lai chí chơn
từ đảnh Thứu Sơn, bỗng nhiên bay lên hư không, dùng thần lực mà đi, như
sắc tượng ngài, thân phóng ra vô số trăm ngài ánh sáng, chiếu khắp ba ngàn
đại thiên cảnh giới, chỗ nào cũng rực sáng.
Chư
thiên của dục giới và sắc giới đều thấy đức Thế Tôn, phát ra vô số áh
sáng, bay lên hư không tự bảo nhau rằng:
–Ðức thần tôn đi đến
chỗ vua Vô Nhiệt, sắp đem pháp giáo hóa, diễn nói pháp sâu xa rốt ráo. Vì
vậy nên mới có đại chúng vây quanh.
Ngay trong nữa tháng
ấy, nhiều chúng chư Thiên, số đến trăm ngàn, được thấy đức Thế Tôn và được
nghe thuyết pháp. Họ lại được xem thấy sự cảm biến trang nghiêm do vua vua
Vô Nhiệt tạo ra, nên khiến đức Thế Tôn du hóa.
Khi ấy các Thiên tử
ai cũng phát sanh ý nghĩ cúng dường đức Như Lai, hoặc muốn rải hoa, hoặc
mưa danh hương, hoặc tấu nhạc trời để ca ngợi đức Phật, hoặc lại cầm tràng
phan dù lọng, lụa năm nàu đi theo đức Như Lai. Tthan đức Thế Tôn chiếu
sáng rực rỡ, hơn cả mặt trời, mặt trăng, tinh tú tịnh sắc và ánh sáng của
chư thiên, oai thần của đức Thánh Phật chiếu sáng vô lượng, căn, định tịch
tịnh, du hóa A Nậu Ðạt tường Thích, Phạm, Tứ Thiên, các thứ oai biến,
phụng kính, hầu hạ theo sau đức Như Lai.
Bấy giờ Thánh tôn
đến dưới Tuyết Sơn, đứng phía bên hữu, liền bảo hiền giả Ðại Mục Kiền
Liên:
–Ngươi hãy đến cung
điện chỗ ở của vua Vô Nhiệt, bảo rằng: đức Như Lai đã đến, đúng lúc mời
ngài vào. Khi ấy hiền giả Ðại Mục Kiền Liên vâng theo thánh chỉ, bỗng bay
vào ao lớn Vô Nhiệt hiện nơi hư không, các mặt đất bảy tượng, hóa thân
giống như vua Kim Sí Ðiểu, đứng trên cung điện Long Vương A Nậu Ðạt, liền
bảo Long Vương rằng: đức Như Lai đã đến.
Các Long chúng và
các thể nữ... không ai mà không ngạc nhiên hoảng sợ, lông trong người dựng
đứng, chạy trốn bốn hướng, cùng bảo nhau rằng:
–Ao này từ xưa không
có chim Kim Sí Ðiểu, vậy chim này từ đâu đến?
Khi ấy A Nậu Ðạt bảo
các người trong cung, thái tử, quyến thuộc, an ủi rằng:
–Các ngươi hãy A Nậu
Ðạt tâm, đừng hoảng đừng sợ, đó là hiền giải Ðại Mục Kiền Liên vâng lời
đức Như Lai nên hiện thần biến ấy. Hiền giải Mục Kiền Liên đến đó bảo
xong, trở về chỗ đức Thế Tôn.
Khi ấy, A Nậu Ðạt
cùng với các người con, thần dân, phu nhân, thể nữ, toàn thể người lớn nhỏ
trong cung cùng vây quanh, họ đều dâng hoa đẹp và hương bột thơm và các
thứ hương thoa, phướn, lọng, tràng phan, các thứ xướng kỵ, hòa điệu nhịp
nhàng, đi đến nghinh rước đức Chánh giác.
Bấy giờ đức Thế Tôn
với các Bồ tát và các đệ tử, thiên, Long, tôn thần vây quanh, cùng đi đến
cung điện Vô Nhiệt, nơi đặt sẵn các tòa cao rộng. Ðức Như Lai đến ngồi,
liền ngồi vào tòa sư tử cao rộng ấy. Tiếp theo là các Bồ tát , sau đó là
các chúng đệ tử đều ngồi an tọa.
Khi ấy Long Vương
xem thấy đức Thế Tôn và các Bồ tát, chúng hội đệ tử an tọa xong, trong
lòngg hân hoan vui sướng vô cùng, liền cùng mọi người trong cung, tự tay
bưng dọn những món ngon bổ hơn thế gian, mời dâng trăm thứ hào soạn có
hương vị trời,dùng để cúng Phật. Ðệ tử và các chúng hội, để mọi người đều
no đủ.
Khi đức Thế Tôn Bồ
tát và các đệ tử đã thọ trai xong, liền rửa bát, mọi việc hoàn tất, lúc ấy
A Nậu Ðạt liền thưa đức Như Lai xin ngài thuyết pháp.
Bấy giờ đức Thế Tôn,
sau giờ ngọ, liền thiền định dậy, ngồi ngay thẳng thuyết pháp. Các chúng
hội đến dự ngót cả ngàn do tuần, từ khắp nơi đến, đứng đầy hư không, không
có kẻ hở, trời, rồng, quỷ thần, và người chẳng phải người, vây quanh đức
Thế Tôn Chí Chơn Chánh giác. Mọi người trong hội thảy đều vui muèng.
5.PHẨM HẠNH VÔ DỤC.
Bấy giờ Long Vương
với nhan sắc hân hoan đến phía trước quỳ gối lại bạch đức Phật:
–Cúi mong đức Thế
Tôn thuyết pháp cho chúng hội này được nghe, khiến cho tất cả thoát khỏi
sanh tử, vĩnh viễn trù bỏ các khổ do sự chấp vào tướng năm ấm, hành vi
trần lao, mê mờ cấu uế, khiến cho chúng con mãi mãi không còn ý tam độc
trói buộc và các chúng loài rồng vứt bỏ sự tà vạy u tối ẩn nấp trong tâm ý
họ, đạt đến chí thiện, khiến cho ai nấy đều vui mừng, tu hạnh Bồ tát sâu
xa, sau này đức Như Lai hoặc còn tại thế hay đã diệt độ mất, hãy khiến cho
chúng con ở tại đất nước mình, hộ trú chánh pháp.
Bấy giờ đức Thế Tôn
khen ngợi Long Vương:
–Lành thay! Lành
thay! Này A Nậu Ðạt! Hãy lắng nghe nghĩa này cho kỹ, siêng năng nhớ nghĩ,
để tuyên bố chỉ bày mọi người, ta sẽ nói cho, khiến chúng hội này nhiều
người thoát khỏi tội khổ, nhổ gốc tập tưởng, nghi ngờ trong tâm, khiến cho
họ hiểu được Phổ Trí để thoát khỏi ba cõi.
Khi ấy Long Vương
thưa rằng:
–Lành thay! Thưa Thế
Tôn! Mong ngài thuyết giảng, chúng con xin cúi đầu thọ lãnh.
Bấy giờ đức Thế Tôn
bảo Long Vương:
–Có một pháp hạnh Bồ
tát nên làm thì trời, người hết sức cung kính. Pháp đó là gì? Ðó là chí tu
phát sâu xa để thực hành vô dục.
–Sao gọi là tu pháp
sâu xa để thực hành vô dục?
Như vậy, Long Vương,
Bồ tát y thuận vào nhân duyên, không lìa ranh giới của hai kiến, người
biết có và không, thấy được các pháp, vì chấp vào nhân duyên, không thấy
có pháp, không do duyên sanh, kẻ ấy nghĩ rằng: Pháp tựa nhân duyên, vì
không nương vào duyên, nên không nương vào ma. Người nương vào duyên, kẻ
ấy không nói “Tôi” cũng không nói “Ta”.
Vã lại, pháp dựa vào
trong duyên nên không có “ngã” và “ngã sở”, cái dựa vào duyên thì không có
chủ, cũng không chấp thủ. Ai theo thuận duyên, hiểu rõ sanh khởi, mau đạt
được ý niệm bốn y.
–Sao gọi là bốn?
–Ðó là y vào nghĩa
cùng tột, không còn y vào văn, y vào huệ hành, y vào thức niệm, khi kinh
thuận nghĩa, không y vào phàm duyên, y niệm vào pháp mà không y vào người.
–Sao gọi là nghĩa?
Những gì là huệ? Sao là thuận nghĩa? Sao là niệm pháp?
Nghĩa tức là nghĩa
của không, không nhận vọng tướng là nghĩa của vô tướng, không chấp vào
niệm thức, là nghĩa vônguyện, không chấp vào ba cõi là nghĩa vô số. Không
chấp vào pháp số.
Vã lại nghĩa ấy, đối
với pháp, phi pháp vốn không có hai, âm thanh là vô đắc, niệm tưởng là vô
niệm, với pháp xứ thì vô trụ. Vì vô nhân nên thọ mạng, âm thanh ngôn ngữ
là vô sở hữu.
Vã lại, là nghĩa,
pháp nghĩa ấy là nghĩa vô dục.
–Sao gọi là Bồ tát
hành pháp nghĩa?
Ðó là nghĩa không có
sắc của con mắt, tiếng của lỗ tai, hương của mũi, vị của lưỡi, xúc của
thân, pháp của tâm. Không sanh sắc nghĩa, không giảm sắc nghĩa, không vì
nghĩa của thống, tưởng, hành, thức, cũng không có nghĩa hành thức sanh
diệt, cũng không có nghĩa muốn sắc vô sắc, cũng không có nghĩa muốn về sắc
và vô sắc sanh diệt, cũng không có nghĩa của ngã, cũng không có nghĩa ngã
kiến, nhập kiến, không có nghĩa nhập, cũng không có nghĩa chấp vào nhân
kiến nhập, cũng không chấp vào nghĩa có thân Phật, cũng không có nghĩa
chấp vào chữ Pháp. Không tính số thực hữu chấp vào nghĩa, cũng lại không
có nghĩa chấp thí, giới, nhãn, tấn, định, trí, hiểu nghĩa nhập tất cả các
pháp. Ðó gọi là Bồ tát làm pháp nghĩa, nhờ theo nghĩa này mà không thối
chuyển. Ðó gọi là nghĩa.
–Sao gọi là Huệ?
Ðó là: Khổ không
sanh huệ, tập không niệm huệ, tận hết các huệ, Ðạo không chí huệ, nơi
huyễn pháp của ấm, các tánh pháp tánh mà không hủy hoại huệ. Ðói với các
tình, không thủ là huệ, hiểu nhập các pháp, rõ biết chúng sanh, căn đầy
huệ đủ, chí niệm không quên, với các chánh ý, bất ý vô niệm, với các đoạn
ý là thiện và bất thiện, với các thần túc, thân tâm phát huệ.
Lại nữa, với các căn
rõ biết huệ nặng, nhẹ, đối với các ý, biết các pháp huệ, nhưng đối với các
lực, đã điều phục huệ, nhưng đối với các lực đã điều phục huệ. Ðạo là vô
số đối với huệ diệt tịch, quán huệ biện pháp khởi thảy không sanh huệ, đến
không chí huệ, ở giữa không trụ huệ, với thân là giống như huệ.
Nói dùng huệ hưởng
là, tâm huệ pháp huyễn. Ðó là Bồ tát rõ biết huệ trí.
Lại nữa, sao gọi là
thuận đạo nghĩa kinh?
–Nhờ nhân duyên này
pháp sanh, mà hành giả diệt được ngu si, diệt được lão tử, vô ngã. Nhưng
đối với vô ngã, nhân và thọ mạng, hiểu rõ về các vật. Nếu Như Lai có ngã
đều chẳng phải là chơn pháp. Song đối với ba giải thoát môn, bình đẳng với
ba đời, cầu ba vô trước. Ðó là các pháp thấy nó hoàn toàn vô sanh. Quán
rõ, người hiểu biết được diệt ly hết tình cảm thế tục.
Bồ tát đạt đến trí
huệ cứu cánh nên đối với các ý niệm mà không nghi hoặc, nhận được hạnh này
gọi là thuận nghĩa.
–Sao gọi là như
pháp?
Nếu các đức Như Lai
xuất hiện hay không xuất hiện thì pháp thân vẫn thường trú. Ðó gọi là Như
Lai. Như như vốn không, mà không tăng giảm, bất nhị, vô nhị, chơn tế pháp
tánh, gọi là như pháp. Không hủy hành báo, không hành pháp báo, gọi là như
pháp.
Người đại thừa nhờ
lục độ được vô cực (Ba la mật). Duyên Nhất Giác Thừa nhờ nhân duyên mà
giải thoát. Thanh văn thừa nhờ âm thanh mà giải thoát. Ðó gọi là như pháp.
Bố thí được đại phước, giữ giới được sanh thiên, nghe nhiều được trí
nhiều, định niệm được giải thoát. Ðó gọi là như pháp.
Vì không tu hạnh đó
nên có sanh tử, tu hành thuần thục thì được vô vi. Ðó là như pháp.
Kẻ ngu dùng sức mạnh
của dục, kẻ trí dùng sức mạnh của huệ. Ðó gọi là như pháp.
Tất cả pháp ấy đều
nương pháp tánh. Như vậy, này Long Vương! Chúng nương nhân duyên mà sanh
khởi. Như vậy cần phải có được ý nghĩ về bốn chỗ nương tựa.
Vì y vào nhân duyên,
nên mới không y đoạn chấp hữu vô. Ðó gọi là người nào thấy nhân duyên khởi
là người ấy thấy các pháp, ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai.
–Sao gọi là nhân
duyên?
Này Long Vương! Bình
đẳng khởi, vô khởi đối với pháp và phi pháp. Bình đẳng mà không đắm trước,
vã lại Như Lai cũng không chấp vào pháp duyên khởi, cũng không có khởi,
pháp bất khả đắc. Người biết được pháp ấy gọi là Như Lai.
Với nhân duyên khởi,
dùng huệ nhãn thấy được, huệ nhãn thấy được gọi là thấy các pháp. Người
thấy các pháp, đó là Như Lai. Ðó gọi là ai thấy được nhân duyên khởi thì
thấy pháp, ai thấy pháp thì thấy Như Lai.
Lại nữa, Như Lai nhờ
pháp thấy pháp.
Như vậy, này Long
Vương! Nếu dùng pháp này hành ứng này để giải thoát người đó gòila Bồ tát
không có dục hạnh.
Này Long Vương! Vã
lại, Bồ tát vô dục không làm theo thói quen của dục, vui thích việc hiền
thánh, bỏ điều không phải hiền thánh, siêng năng, ưa thích chứng vào dòng
hiền thánh, rộng khiến các huệ, vì pháp tác chứng, tu sự nghe nhiều, chí
nhớ không quên, không xả giới thân, trí thân không nghiên ngữa, định thân
bất động, đối với huệ thân được pháp kiên trụ, giải thoát huệ kiến, thân
kiên cố khó chuyển. Nhờ đó giải thoát huệ kiến vậy.
Lại nữa, này Long
Vương! Bồ tát vô dục, được vô số chánh pháp độ nghĩa của Phật, cũng có đầy
đủ vô số yếu nghĩa của chư Phật, lại được quả biện tài của chư Phật, được
thông vô lượng thần túc của chư Phật. Nhân đó đưa đến vô số quyền giải
(hiểu biết quyền xảo) của chư Phật vào khắp vô lượng hạnh của chúng sanh,
vượt qua vô số quốc độ chư Phật, nhờ đó thấy rõ vô số trăm ngàn đức Như
Lai, nghe được vô số các pháp, được vô số nghĩa, đạt vô số trí, hiểu vô số
hạnh, độ vô số chúng.
Như vậy, này Long
Vương! Bồ tát vô dục thường nên thanh tịnh để tiêu hết các ô uế, công đức
vô lượng, tự do không có đắm trước đối với ba cõi. Vì sao vậy? Vì vô dục
ấy từ tâm sanh ra. Có ba việc từ tâm sanh ra. Những gì là ba? Ðó là từ tâm
dục sanh ra, từ tâm ái sanh ra, từ tâm sanh khởi.
Lại có ba thứ sanh:
quán nơi sanh khởi. Lại quán sự sanh khởi. Lại quán sở hành, quán tâm vô
xứ.
Lại có ba sanh: diệt
tịch chuyên nhất, hiểu rõ nơi quán như pháp tùy hành.
Lại có ba sanh: Ðức
đủ nhân điều, dùng làm tịch tịnh, từ hạnh chuyên cần sanh.
Lại có ba việc: Từ
nơi hạnh ngay thẳng, không có dua nịnh, nhân từ điều nhẫn.
Lại có ba việc:
không đắùm chìm nghi ngờ, thuận theo thiện, không thô tháo, chỉ đủ sống
đơn giản.
Lại có ba sự: Từ
không sanh, lại từ vô tướng, cũng từ vô nguyện.
Lại có ba việc: từ
tâm sảnh ra các pháp Vô thường, từ tâm sanh ra, các pháp đều khổ cũng do
tâm sanh.
Lại có ba việc từ
tâm sanh ra: các pháp vô thường, các pháp vô ngã, diệt tận vô vi, đều từ
tâm sanh ra.
Như vậy này Long
Vương! Bồ tát đẳng diệt, cũng do tâm sanh. Ðó là các vị ấy không bỏ Phổ
Trí tâm, thức hành bình đẳng với tất cả. Vì lòng đại từ, nên không bỏ
chúng sanh, vì lòng đại bi nên không nhàm chán sanh tử. Vì lòng đại hỷ nên
bình đẳng xa lìa sự mừng, giận. Vì lòng đại hộ nên có huệ thí mà không
mong báo đáp, vì các giới học, hạnh, đức nghĩa đầy đủ, nên bên trong tránh
được lỗi của mình, không nói chuyện dở kẻ khác. Hay nhẫn chịu các hạnh bất
thiện của chúng sanh. Muốn khiến cho người khác kiên cố như kim cương,
hiện tập các điều thiện là gốc của các đức hạnh, không tiếc thân mạng,
được đạt đến tất cả định chánh thọ, tâm không mệt mõi, không vì chánh thọ
mà có sở sanh, hiển trí, dùng quyền xảo tùy thuận chúng sanh, dùng huệ
chơn thật, độ các chí thoát. Người muốn đạt được Thanh văn thừa. Duyên
giác thừa thì niệm rõ Phật pháp, cầu các Phật pháp. Vì hay nhẫn khổ, nên
rộng thuyết pháp, với các lợi dưỡng, cung kính mà khinh thường vất bỏ, chí
đủ, không nhàm chán các tướng đức hạnh, đầy đủ trí huệ, học rộng nghe
nhiều. Vì học tập theo thiện hữu, nên gặp thiện tri thức, vì khiêm kính
nên được hạnh khiêm cung, vì hàng phục tâm tự tại nên chế ngự được tâm tự
tại. Vì chí hạnh đầy đủ, nên ý hạnh đầy đủ. Vì không có dua nịnh nên xa
lìa dua nịnh. Vì nói và làm phù hợp nhau, nên không khinh thường. Vì tu
hành thành tín nên nói lời chơn thật. Vì lìa các sự lừa dối nên diệt trừ
lời nói dối, vì để sanh tâm thành tín, nên tâm phải thành tín.
Như vậy, này Long
Vương! Nếu có Bồ tát nào sanh tâm này, gọi đó là vô dục.
Lại nữa, này Long
Vương! Bồ tát vô dục thì mà không thể tự tiện hạn chế, vì sao? Vì Bồ tát
ấy tương đương với sự vô hạn, cũng không làm pháp hữu hạn.
Sao gọi là pháp hữu
hạn?
–Dục, dâm, nhuế, si
là pháp hữu hạn. Bồ tát đối với chúng không có đắm trước. Vì vậy mà gọi Bồ
tát là vô hạn. Thanh văn thừa, Duyên giác thừa đều là hữu hạn. Bồ tát trụ
nới Phổ trí tâm, nên ma hoàn toàn không thể hạn chế tiện lợi.
Như vậy này Long
Vương! Có hai việc ma, Bồ tát cần phải biết rõ, cũng phải xa lìa.
–Sao gọi là hai
việc?
Ðó là đối với thầy
bạn không có tâm kính trọng, mà tự đại, cống cao, khinh người. Ðó là hai
việc.
Lại có hai việc của
ma: đó là bỏ tạng lục độ ba la mật của Bồ tát, tâm trở lại ưa thích làm
việc của Thanh văn và Duyên giác.
Lại có hai việc. Sao
gọi là hai? Ðó là không có trí tuệ mà muốn làm việc quyền xảo, cùng các
chúng sanh đạo lạc, vọng kiến, ưa thíh sống gần.
Lại có hai việc:
nghe ít, trí kém mà tự cho là đạt đến trí huệ. Tuy có thông hiểu rộng rãi
mà lại tự đại.
Lại có hai việc: đức
độ ít ỏi, mà mong được tôn quý. Hoặc tu đức hạnh lại thích tiểu thữa.
Lại có hai việc:
không hộ chánh pháp, không độ chúng sanh.
Lại có hai việc: chí
không thích học tập theo các Bồ tát và cu hội với chúng có trí sáng thông
đạt. Chuyên làm việc bài báng các Bồ tát thanh cao, chủ tâm nhiều lần khởi
tâm ngăn che, trở ngại pháp sư, lại làm sự chướng ngại sự giáo huấn của
thầy, lại nhiều dua nịnh.
Lại có hai việc của
ma: bỏ các gốc đức, tâmcó điều vô đức.
Lại có hai việc: tuy
ở chỗ A Nậu Ðạt nhàn nhưng vẫn hoài tưởng ba độc, tâm thường náo loạn, nếu
du hành trong thôn ấy, có tâm tham lợi.
Lại có hai việc: vì
loại phi nhân, nói pháp thâm yếu, với người cần thuyết pháp thì lại không
thuyết.
Lại có hai việc:
không biết việc của ma, xa lìa Phổ trí ý thường thác loạn.
Như vậy, này Long
Vương! Sắc tướng các việc của ma là như vậy. Bồ tát vô dục vĩnh viễn không
có các việc ấy.
Lại nữa, này Long
Vương! Nếu có Bồ tát tu hành thanh tịnh thì phải vô dục, phát đạt đến mười
sáu đại lực của Bồ tát. Nhờ các lực này, nên hàng phục, chế ngự chí mình,
để hóa độ chúng sanh.
Sao gọi là mười sáu
đại lực của Bồ tát?
–Ðó là chí lực, ý
lực, hành lực, tàm lực, cường lực, trì lực, huệ lực, đức lực, biện lực,
sắc lực, thân lực, tài lực, tâm, lực, thần lực, hoằng pháp lực, hàng phục
chư ma lực, Bồ tát vô dục được mười sáu đại lực này.
Sao gọi Bồ tát là
chí lực?
–Như vậy, nầy Long
Vương! Bồ tát chí lực có thể quán sát tất cả tổng trì do chư Phật nói ra.
Ðó gọi là Chí lực.
Ý của Bồ tát này
tương ưng với hành của chư Phật, đối với các chúng sanh mà không bị hoại
trừ chướng ngại, đó là ý lực.
Có thể đạt đượ âm
thanh nói ra, hiểu rõ các nghĩa. Ðó gọi là hành lực.
Lìa các việc ác,
khởi các pháp đức. Ðó gọi là tàm lực.
Gặp tất cả những tai
nạn, vẫn không làm điều phi pháp. Ðó gọi là cường lực.
Dù có ức ngàn ma
binh chúng vẫn không dám làm chống lại. Ðó là trí lực.
Thông đạt trì
pháp,tuyên thị đẳng học, mà không làm cho quên. Ðó là trì lực.
Không chấp trước,
không quên đối với trăm ngàn kiếp những điều nói ra không ngại, không
đoạn, tùy ý hiểu các pháp. Ðó là biện lực.
Nếu các Thích, Phạm
và Tứ thiên vương đi đến Bồ tát vẫn im lặng, không đổi sắc. Ðó là đoạn
chánh lực.
Nếu có mong ước vật
báu trên đầu, mới nghĩ liền có. Ðó là tài lực.
Hơn các ngoại đạo,
tộc tôn giữa mọi người. Ðó là thân lực.
Với tâm chúng sanh,
hay được nhất tâm. Biết tâm chúng sanh, thuận hành hóa độ. Ðó là tâm lực.
Nếu chúng sanh cần
dùng thần túc để hóa độ, thì hiện thần biến để cho chúng thấy. Ðó là thần
túc lực.
Nếu có thuyết pháp
để mọi người nghe, thì không nói nữa chừng. Họ nghe và làm theo nên trừ
hết các khổ. Ðó là hoằng pháp lực.
Nếu khi thiền định,
chánh thọ, thì vâng theo pháp chỉ, được pháp hạnh Hiền Thánh. Ðó là hàng
ma lực.
Ðó gọi là mười sáu
đại lực của Bồ tát.
Nếu có hành giả, tâm
chí mong ước mười sáu lực này mà muốn thành tựu, phải tu vô dục.
Thí như, này Long
Vương! Tất cả dòng nước đều chảy về biển cả. Các hạnh của đạo pháp, ba
mươi bảy phẩm đều trở về vô dục.
Lại nữa, này Long
Vương! Các cây cỏ thuốc đều sống trên đất. Các pháp thiện hạnh đều nhờ vô
dục.
Thí như, này Long
Vương! Chúng sanh yêu thích Chuyển Luân Thánh Vương; Nếu có Bồ tát vô dục
thì chư Thiên, loài rồng, quỷ, người thế gian đều ưa thích.
Bấy giờ đức Thế Tôn
vì A Nậu Ðạt và các thái tử, nới bài kệ tụng:
|
Dục là huệ Bồ tát
|
Chí mong cầu Phật đạo
|
|
Phải nên lìa pháp uế
|
Thường siêng hành vô dục
|
|
Huệ biết pháp nhân duyên
|
Không
dựa vào cái thấy
|
|
Thấy pháp do nhân duyên
|
không
duyên không có pháp
|
|
Duyên sanh cái không sanh
|
Nên
chẳng phải tự nhiên
|
|
Thiện duyên ấy cũng không
|
Biết
không nên vô dục
|
|
Chấp duyên mà vô tướng
|
Thoát
nguyện, tịch lại tịch
|
|
Ðạm bạc như ngu dại
|
Nơi
ấy ma không hại
|
|
Thấy pháp không chấp duyên
|
Với mình
không vô ngã
|
|
Nếu không có ngã nhân
|
Biết
đó là vô dục
|
|
Không chủ không gìn giữ
|
Không
thấy cũng không bỏ
|
|
Giải thoát không thủ, xả
|
Lìa
dục thường hiểu pháp
|
|
Quán nghĩa, không trang sức,
|
Huệ hành
thoát khỏi thức.
|
|
Hiểu rõ thuận nghĩa kinh
|
Y
pháp không y nhân
|
|
Nghĩa không là pháp Phật
|
Giải
thoát không chướng
|
|
Không dựa vào thấy nghĩ
|
Nghĩa
ấy là vô dục
|
|
Nơi ấy không có hai
|
Âm
thanh không thể được
|
|
Dùng pháp khó lay động
|
Không
nhập nghĩa, vô dục.
|
|
Nghĩa pháp, nghĩa vô dục.
|
Mắt
tai không sắc, thinh
|
|
Mũi miệng lìa hương vị
|
Thân tâm không cánh (xúc) pháp,
|
|
Không sắc sanh oai nghi
|
Cũng
không lìa thống tưởng.
|
|
Cũng nghĩa thức trụ
|
Ðược vậy hợp nghĩa pháp.
|
|
Không trụ nghĩa ba cõi
|
Cũng
không nghĩa vô ngã,
|
|
Thế Tôn không sắc thân
|
Không
chữ, nghĩa pháp thuyết,
|
|
Chấp số nghĩa phi pháp
|
Chữ
yếu không nên làm,
|
|
Không giới nhãn, tấn, định
|
Huệ
vô ngã Thế Tôn.
|
|
Chư pháp, hiểu vô nghĩa
|
Trí
bảo là pháp yếu
|
|
Với nghĩa, khác phi nghĩa
|
Vô
dục là Phật pháp
|
|
Vô sanh biết trí huệ
|
Không khởi diệt hữu, vô
|
|
Không sanh cũng không diệt
|
Như vậy
cần phải tập
|
|
Biết tiếng ta như huyễn
|
Biết nó như pháp tánh
|
|
Hiểu bên tronbg như không
|
Rõ vậy
là vô dục
|
|
Biết pháp đi về đâu
|
Biết rõ tâm chúng sanh
|
|
Dứt niệm để chánh ý
|
Vô
dục được huệ này
|
|
Ý đoạn không có hai
|
Thần
túc tâm bay cao
|
|
Nhờ lực nên không nạn,
|
Biết
ngăn chận các căn
|
|
Giác định hiểu nhờ trí
|
Biết rõ ở trực đạo
|
|
Huệ quán nơi diệt hành
|
Biết
pháp đi về đâu
|
|
Pháp vốn không có sanh
|
Tương
lai thì chưa đến
|
|
Pháp hiện tại không dừng
|
Không
dục, biết như vậy
|
|
Thân vốn không kiên cố
|
Nói
không như tiếng vang
|
|
Tâm huyễn, giống như gió
|
Vô dục
hiểu như vậy
|
|
Biết nói thuận nghĩa kink
|
Hiểu rõ nới nhân duyên
|
|
Diệt gốc si sanh tử
|
Vô dục là nghĩa huệ
|
|
Không ngã, nhân, mạng thọ
|
Hiểu rõ
pháp, phi pháp
|
|
Nhờ thoát khỏi ba môn
|
Ðã nói
không, đừng chấp
|
|
Vô sanh thấy diệt đạo
|
Tập
huệ như hạnh tục
|
|
Không do tâm ý sanh
|
Vô
dục biết hạnh này
|
|
Pháp tánh thường như tục
|
Phật
sanh và diệt độ
|
|
Không hai giác, bất giác.
|
Vô
dục biết pháp này
|
|
Nó lâu như bổn tế
|
Nó
tích tụ các pháp
|
|
Không tích và nhân tế
|
Vô
dục đưọc trí này
|
|
Pháp tánh thường an trụ
|
Biết
khởi, như diệt độ
|
|
Không biết, cho là hai
|
Pháp Vô dục như vậy
|
|
Không kẹt thiện, bất thiện.
|
Biết
pháp không tội báo
|
|
Phật pháp không từ ngoài
|
Từ
hạnh vượt vô cực (rốt ráo)
|
|
Nhờ lìa nhân duyên giác
|
Tiếng
giải thoát Thanh văn
|
|
Huệ trí được giàu lớn
|
Giữ giới được sanh thiên
|
|
Nghe nhiều được trí huệ
|
Giữ
ý, độ chúng sanh
|
|
Chí thành đều giữ ý
|
Pháp Vô dục như vậy
|
|
Lực thường chuyển các dục
|
Trí huệ,
chí nơi pháp
|
|
Ðẳng niệm các pháp này
|
Pháp
thường vô đắc
|
|
Biết rõ nhân duyên khởi
|
Nên
đạt bốn đức hạnh
|
|
Biết nghĩa cùng với pháp
|
Thuận nghĩa biết Vô dục
|
|
Quán duyên nên thấy pháp
|
Nhờ pháp
thấy Thế Tôn
|
|
Bình đẳng pháp khởi, diệt
|
Vô
dục hiểu tôn pháp
|
|
Dấu nhân duyên không có
|
Pháp âm
thanh không chữ
|
|
Pháp ấy thấy không có
|
Thánh
gọi là Như Lai
|
|
Dùng huệ thấy nhân duyên
|
Không
thấy, chẳng thấy pháp
|
|
Huệ sáng rõ nhân duyên
|
Gọi là
thấy Thế Tôn
|
|
Nếu cầu hạnh Vô dục
|
Yêu
thích các Hiền Thánh
|
|
Pháp tánh hoại, không bỏ
|
Vẫn
giữ giống Hiền Thánh
|
|
Thường hộ chánh pháp Phật
|
Vô dục,
nghe không quên
|
|
Không lìa bỏ gốc giới
|
Với
định được bất động
|
|
Biết thân, huệ không động
|
Thường
trụ thân giải thoát
|
|
Huệ giải thoát sở kiến
|
Vô
dục thường an trụ
|
|
Người hiểu các Phật pháp
|
Vô
lượng các thánh đạo
|
|
Ðược đủ thần túc Phật
|
Hiểu
đạt tất cả hạnh
|
|
Biết hạnh tình ý chúng
|
Bỗng nhiên đạo các cõi
|
|
Ðược thấy các Như Lai
|
Nghe
các ngài thuyết pháp
|
|
Nghe rồi hiểu rõ nghĩa
|
Tuyên nói vô lượng người
|
|
Biết ức số hạnh chúng
|
Chí
được hướng vô số
|
|
Vô dục thường tự tại
|
Hàng tâm được công đức
|
|
Phục ý kiến Vô dục
|
Trọn chẳng đổi đời này
|
|
Tâm đã thoát các ấm
|
Biết
rõ chỗ khởi diệt
|
|
Quán diệt là không có
|
Sở
tập cũng là không
|
|
Tánh nghe do tâm hành
|
Không
dối, thường đoan chánh
|
|
Không nịnh, được nhân thiện
|
Ðức Vô
dục như thế
|
|
Giảithoát,Không,Tướng,Nguyện
|
Hiểu khổ,
biết sanh tử
|
|
Pháp vô ngã thường tịch
|
Vô
dục từ tâm hạnh
|
|
Phổ trí tâm đẳng trì
|
Dùng bi độ chúng sanh
|
|
Hỷ không chán sanh tử
|
Hành
hộ thật vô biên
|
|
Ðã thí không mong báo
|
Tự
tỉnh, lập các hạnh
|
|
Nhẫn nại thiện, bất thiện
|
Mong cứu thoát chúng sanh
|
|
Siêng năng cần tu đức
|
Không chấp có thân mạng
|
|
Tiếp theo biết các định
|
Cũng không tùy theo định
|
|
Huệ định, đại tinh tấn
|
Nơi số không rối rắm
|
|
Tứ đế độ Thanh văn
|
Trí
không chí diệt độ
|
|
Vô dục đời gặp Phật
|
Họ
có các pháp này
|
|
Ma không biết được họ
|
An trụ
pháp biết vậy
|
|
Vô dục thật vô cùng
|
Hiểu là gốc tham cấu
|
|
Lìa dục không có tưởng
|
Ma
không có nơi nào
|
|
Nếu có tưởng vô ngã
|
Họ tự
khởi việc ma
|
|
Như vậy vượt các hành
|
Các ma
không thể biết
|
|
Vô dục, chí không quên
|
Việc
làm thường thanh tịnh
|
|
Vô dục, không ý chí
|
Hạnh hổ thẹn không hoại
|
|
Nhờ nghe hạnh Vô dục
|
Duyệt
huệ kính Như Lai
|
|
Họ trụ như pháp trụ
|
Kia
giống như Thế Tôn
|
|
Chư Phật, bậc thập lực
|
Bồ
tát muốn phụng thờ
|
|
Nghe hạnh Vô dục này
|
Ý
siêng thường thọ trì
|
|
Người nghe Vô dục này
|
Tin,
Thích rộng phụng hành
|
|
Họ thường được Vô dục
|
Ðược quả
Phật không lâu
|
|
Thánh nhờ Vô dục này
|
Mà
được tối thanh tịnh
|
|
Vô dục được thànhg Phật
|
Hóa độ
vô biên chúng
|
|
Phật khứ, lại, hiện tại
|
Ðã được các tướng đẹp
|
|
Cũng từ vô dục này
|
Và
thực hành pháp ấy.
|
Khi ấy đức Thế Tôn thuyết pháp phẩm Vô Dục này rồi,
bốn vạn hai ngàn Thiên, Long, quỉ thần, và gười và phi nhân ở trong hội
đều phát đạo ý Vô thượng chánh chơn. Một vạn hai ngàn người được Nhẫn Bất
Khởi, lại có tám ngàn người được nhẫn nhu thuận, ba vạn hai ngàn Thiên,
Nhân, Thần Long được lìa trần cấu, đều sanh pháp nhẫn. Lại có tám ngàn
người được hạnh ly dục. Tám ngàn Tỳ kheo được sạch hết lậu. Ngay lúc ấy,
ba ngàn đại thiên thế giới, có sáu thứ chấn động, cùng khắp mười phương
bỗng nhiên rực sáng. Trong ao Vô Nhiệt, dưới núi Tuyết Sơn, chung quanh
đều hiện những điều chưa từng nghe thấy. Diệu hoa rực sáng đến tận đầu
gối. Ở trong ao nước đều sanh ra sự dị thường, hoa sen tươi đẹp, lớn như
bánh xe, ngồi trong hoa ấy thấy có hương thơm, vô số sắc hoa trăm ngàn các
loại. Tất cả đều do oai thần của Phật hiện ra. Cũng vì pháp này khởi tâm
cúng dường, để làm vui lòng Long Vương Vô Nhiệt vậy.
PHẬT NÓI KINH HOẰNG
ÐẠO QUẢNG HIỂN TAM MUỘI
Quyển hai – hết
--- o0o ---
Quyển
1 | Quyển 2
|
Quyển 3
|
Quyển 4
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 4-2003