Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Kinh Điển Phật Giáo


......... .


KINH ĐẠI BỬU TÍCH

Việt dịch:  Thích Trí Tịnh

--- o0o --- 

 

Tập 8

 

Phần 54

PHÁP HỘI HẢI HUỆ BỒ TÁT THỨ NĂM MƯƠI BỐN

(Hán bộ từ quyển 133 đến quyển 136)

          

 Lúc bấy giờ đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật vẫn ở giữa hai cõi Dục giới và Sắc giới trong đại bửu phường đình cùng các hàng đại chúng vây quanh thuyết pháp.

Bấy giờ nước tràn đầy cả Đại Thiên thế giới như đại hải, cũng như lúc kiếp tận mà thủy tai khơi lên : Dầu nước tràn đầy cả Đại Thiên thế giới như vậy, song các thế giới Thiên cung, quốc độ, thành ấp, tụ lạc, nhà cửa, rừng vườn đến Trời Sắc Giới không hề bị hư hại, tất cả đều như cũ, nhưng đại chúng đều thấy nước tràn đầy khắp mọi nơi.  Trong nước mọc ra vô lượng hoa phân đà lợi thanh lưu ly làm cọng, chơn kim làm cánh, công đức bửu làm gương, đế thích bửu làm vua, vòng quanh còn có vô lượng hoa ngang rộng mười dặm tại trong đại bửu phường đình cao một cây đa la.

Pháp hội đại chúng mỗi người đều riêng thấy tự mình ở trên hoa báu ấy.  Hoa ấy lại phát ra ánh sáng lớn chiếu khắp mười phương vô lượng thế giới.  Tất cả đại chúng đều vui mừng nghĩ rằng hôm nay chắc chắn chúng ta sẽ được nghe pháp thù thắng vi diệu.

Di Lặc Bồ Tát liền từ chỗ ngồi dậy lễ chưn Đức Phật hữu nhiễu ba vòng, quỳ dài trên hoa sen báu cung kính chắp tay bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Có duyên cớ gì mà nước tràn đầy cả Đại Thiên thế giới như đại hải lại cũng như lúc kiếp tận thủy tai nổi lên, trong nước lại mọc vô lượng hoa sen trắng phát ánh sáng lớn chiếu khắp cả mười phương vô lượng thế giới ?".

Đức Phật phán dạy : "Nầy Di Lặc !  Ở Hạ phương quá Đại Thiên thế giới vi trần số quốc độ có một thế giới ấy hiệu là Bửu Trang Nghiêm, Đức Phật tại thế giới ấy hiệu là Hải Trí Thần Thông Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn, nơi ấy có đại Bồ Tát hiệu là Hải Huệ cùng vô số Bồ Tát muốn đến đại bửu phường đình nầy để nghe kinh pháp nên hiện ra thoại ứng như vậy".

Tôn giả Xá Lợi Phất bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Thế giới Bửu Trang Nghiêm ở Hạ phương cách đây quá xa, đại Bồ Tát Hải Huệ ở tại đó mà có nghe được lời đức Thế Tôn nói pháp tại đây chăng ?".

Đức Phật nói : "Nầy Xá Lợi Phất !  Như nay người ở trước ta nghe tiếng ta nói thế nào thì Hải Huệ ở thế giới kia cũng nghe tiếng ta nói như vậy.  Như nay ngươi cùng đại chúng trong pháp hội nầy thấy ta thế nào thì Hải Huệ ở thế giới kia thấy ta cũng như vậy".

Tôn giả Xá Lợi Phất bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn !  Đại Bồ Tát có thần thông chẳng thể nghĩ bàn, ở cách xa vô lượng thế giới mà có nhãn thông nhĩ thông vô ngại vô chướng như vậy.

Bạch đức Thế Tôn !  Có ai được nghe sự bất tư nghị nầy mà sẽ chẳng phát tâm Vô thượng Bồ đề , chỉ trừ kẻ hạ liệt bất tiếu thôi".

Bấy giờ Hải Huệ đại Bồ Tát đầy đủ sức vô lượng thần thông trong khoảng một niệm ở thế giới kia ẩn mất bỗng nhiên hiện ra trong đại bửu phường đình nầy rồi nhập tam muội làm cho tất cả đại chúng đều vói thấy thế giới Bửu Trang Nghiêm bao nhiêu nhơn dân trời người cùng tất cả cảnh vật đều rõ ràng, cũng thấy Đức Phật Hải Trí Thần Thông cùng các đại chúng vây quanh thuyết pháp.

Dùng thần thông lực cho đại chúng thấy những sự ấy rồi, Hải Huệ đại Bồ Tát từ tam muội an tường dậy rời chỗ ngồi đến đảnh lễ chưn đức Phật hữu nhiễu ba vòng, dâng các thứ hoa hương kỹ nhạc ở thế giới mình cúng dường đức Phật mà bạch rằng : "Hạ phương Bửu Trang Nghiêm thế giới Hải Trí Thần Thông Như Lai gởi lời hỏi thăm đức Thế Tôn cùng tất cả đại chúng vô lượng an ổn".

Bạch xong, đại Bồ Tát Hải Huệ ngồi qua một phía trên bửu liên hoa.

Phạm Thiên Vương hiệu là Tu Bi nghĩ rằng nay cớ sao có nước tràn đầy Đại Thiên thế giới mà chẳng phải là thủy tai.   Ta nên đến hỏi đức Phật.   Phạm Thiên Vương Tu Bi liền cùng sáu vạn tám ngàn Phạm Thiên Đại Bửu Phường Đình đảnh lễ hữu nhiễu đức Phật ba vòng rồi quỳ dài chắp tay bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Có nhơn duyên gì mà cả Đại Thiên thế giới có đầy những hoa sen bảy báu trang nghiêm, chư Bồ Tát chúng vô lượng đều thứ đệ  ngồi trên hoa báu, lại còn có nước tràn đầy khắp mọi nơi".

Đức Phật bảo Phạm Thiên Vương : "Nầy thiện nam tử !  Đây là thần thông lực của đại Bồ Tát Hải Huệ ".

Phạm Thiên Vương Tu Bi bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn !  Nay đức Phật nói kinh điển Đại Tập nầy còn chưa xong ư ?".

Đức Phật phán bảo Phạm Thiên Vương : "Nầy thiện nam tử !  Lạc thuyết vô ngại của Như Lai không có cùng tận.

Nầy Phạm Vương !  Đức Phật cùng vô lượng chư đại Bồ Tát đại chúng quán sát pháp giới giảng luận pháp giới pháp lạc vi diệu cũng chẳng cùng tận".

Phạm Thiên Vương bạch rằng : "Đức Thế Tôn nói đại Bồ Tát Hải Huệ ấy là ai vậy ".

Đức Phật nói : "Nầy Phạm Thiên Vương !  Nay ông chẳng thấy vị đại Bồ Tát đang ngồi trên hoa sen báu lớn mười do tuần được chư Bồ Tát vây quanh cung kính tán thán đó ư ?  Thân đại Bồ Tát ấy đoan nghiêm chiếu sáng, chỉ trừ Như Lai không còn ai sánh bằng".

Phạm Thiên Vương Tu Bi được thấy Hải Huệ đại Bồ Tát sanh lòng cung kính liền đảnh lễ và nói rằng : "Nếu có ai được thấy bực Chánh Sĩ nầy thì được lợi ích lớn, nay tôi được gặp cũng có lợi ích lớn như vậy.

Bạch đức Thế Tôn !  Nay chánh pháp nầy sẽ còn được bao lâu ?".

Đức Phật nói : "Nầy thiện nam tử ! Chánh pháp nầy như tuổi thọ của Như Lai.  Sau khi Phật nhập Niết bàn, chư đại Bồ Tát nầy cũng hộ trì pháp ấy, tại sao, vì kinh điển nầy là ấn của chư Phật quá khứ vị lai hiện tại".

Bấy giờ Hải Huệ đại Bồ Tát vọt thân lên hư không cao bảy cây đa la thị hiện thân mình cùng thần lực trí huệ vì muốn cho đại chúng sanh tín tâm cùng trang nghiêm kinh nầy mà tuyên nói kệ rằng :

Hạ phương thế giới Bửu Trang Nghiêm

Hải Trí Thần Thông Phật Thế Tôn

Thường vì chúng sanh diễn diệu pháp

Tôi nghe thọ trì dạy lại người

Nay tôi đến trong đại chúng nầy

Cung kính cúng dường Thích Ca Phật

Quyến thuộc cùng đến chư Bồ Tát

Vì phá lòng nghi trong pháp nầy

Nay tôi kính lễ đấng Vô thượng

Trần thiết cúng dường đúng như pháp

Vì muốn trang nghiêm đại Bồ đề

Giáo hoá chúng sanh đạo vô thượng

Nếu quán sắc pháp không có tướng

Cũng đoạn ly được ba thứ thọ

Nếu không tướng mạo và chủng tánh

Người nầy hay lễ Vô thượng Tôn

Nếu chẳng tham trước ngã ngã sở

Cũng lại tu tập nơi trung đạo

Quán tất cả pháp như hư không

Người nầy hay lễ Vô Thượng Tôn

Nếu chẳng tham trước các cảnh giới

Cũng hay tịch tĩnh nơi lục nhập

Với các pháp giới chẳng trụ trước

Người nầy hay lễ Vô Thượng Tôn

Nếu thấy Như Lai chân pháp giới

Dựng được vô thượng đại pháp tràng

Thấy tất cả pháp tướng như huyễn

Người nầy hay lễ Vô Thượng Tôn

Nếu thấy không người thí người thọ

Không làm không thọ cũng như vậy

Nếu không chánh kiến và tà kiến

Người nầy hay lễ Vô Thượng Tôn

Chẳng quyết định ở trong Bồ đề

Cũng chẳng quyết định ở sanh tử

Xa lìa tất cả các phiền não

Người nầy hay lễ Vô Thượng Tôn

Nếu người chí tâm tu thiện pháp

Tịnh thân khẩu ý cả ba nghiệp

Cũng điều phục được tất cả căn

Người nầy hay lễ Vô Thượng Tôn

Nếu nhẫn các pháp không có ngã

Chẳng thành Bồ đề bỏ chúng sanh

Vì đại Bồ đề trì tịnh giới

Người nầy hay lễ Vô Thượng Tôn

Nếu quán các pháp như dương diệm

Chúng sanh bình đẳng như hư không

Tịnh tâm chẳng khởi những tâm tưởng

Người nầy hay lễ Vô Thượng Tôn

Vì các chúng sanh thọ khổ lớn

Vì đại Bồ đề tu nhẫn nhục

Quán các pháp như trăng trong nước

Người nầy hay lễ Vô Thượng Tôn

Quán không chúng sanh nhơn thọ mạng

Cũng vì chúng sanh tu Bồ đề

Quán pháp niệm niệm tướng diệt tận

Người nầy hay lễ Vô Thượng Tôn

Thọ khổ địa ngục tâm chẳng thối

Càng thêm tinh tiến tu đại đạo

Nghe các pháp không lòng chẳng sợ

Người nầy hay lễ Vô Thượng Tôn

Tất cả cảnh giới không quái ngại

Cũng như động thủ giữa hư không

Cũng quán tam thế tướng bình đẳng

Người nầy hay lễ Vô Thượng Tôn

Nếu ma chẳng biết được tâm người

Người nầy đã được đại thần thông

Nếu thuyết pháp tự nghĩa vô tận

Người nầy hay lễ Vô Thượng Tôn

Nếu hay nghe khắp chư Phật âm

Nghe rồi thọ trì rộng tuyên thuyết

Chẳng thấy Tam bửu tướng sai biệt

Người nầy hay lễ Vô Thượng Tôn

Nếu hay nghe khắp chư Phật âm

Nghe rồi thọ trì rộng tuyên thuyết

Chẳng thấy Tam bửu tướng sai biệt

Người nầy hay lễ Vô Thượng Tôn

Như Lai đủ sáu Ba la mật

Không khứ không lai như hư không

Biết rõ tất cả chúng sanh giới

Vì vậy tôi lễ Vô Thượng Tôn

Như Lai thành tựu công đức lớn

Trọn chẳng sanh lòng tợ ngã mạn

Tôi nay kính lễ Phật sắc tượng

Thân Phật thế gian chẳng làm được

Phật quang hơn tất cả các quang

Phật âm thù diệu cũng tối thượng

Phật đảnh không ai nhìn thấy được

Vì vậy tôi lễ Vô Thượng Tôn

Như Lai biết rõ chúng sanh giải

Tuỳ giải vì họ diễn nói pháp

Phật biết pháp trị các phiền não

Vì vậy tôi lễ Vô Thượng Tôn .

Nói kệ tán thán đức Phật rồi, Hải Huệ đại Bồ Tát từ hư không xuống bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn !  Nay tôi ở đây có ít pháp muốn hỏi mong Thế Tôn hứa cho".

Đức Phật nói : "Lành thay ! Lành thay ! Nầy Hải Huệ, tùy ý ông  hỏi, Phật sẽ vì ông mà phân biệt giải nói".

Hải Huệ đại Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn !  Trước đây tôi có nghe tịnh ấn tam muội, Bồ Tát an trụ tam muội nầy thì được Vô thượng Bồ đề.  Mong đức Thế Tôn nói về tam muội ấy cho khắp các Bồ Tát đều được nghe, nghe xong đều sẽ trang nghiêm tu hành vì Vô thượng Bồ đề vậy".

Đức Phật nói : "Nầy thiện nam tử chí tâm lắng nghe nay Phật sẽ nói cho.  Nầy thiện nam tử !  Như bửu châu thanh tịnh được thọ khéo trau giồi nên giá trị vô lượng mọi người để quý trọng.

Nầy thiện nam tử ! Bồ Tát sơ phát Bồ đề tâm rồi tu pháp lành đa văn tư duy quán sát pháp giới thanh tịnh sơ tâm, sơ tâm đã thanh tịnh thì được chư Phật chư Bồ Tát kính niệm thì được tịnh ấn tam muội.

Nầy thiện nam tử !  Tịnh bửu châu đã nói ở trên đó rời lìa chín thứ bửu, đó là chất vàng, chất bạc, chất lưu ly, chất pha lê, chất mã não, chất xà cừ, chất liên hoa, chất san hô và chất công đức bửu.

Rời lìa chín chất bửu ấy gọi là tịnh bửu châu giá trị vô lượng, là bửu vật thọ dụng của Chuyển Luân Thánh Vương.  Ánh sáng của tịnh bửu châu các ánh sáng khác không sánh kịp.

Nầy thiện nam tử !  Cũng vậy, Bồ Tát phát tâm đại Bồ đề rời lìa chín thứ chủng tánh được tịnh ấn tam muội, đó là tánh phàm phu, tánh tín hành, tánh pháp hành, tánh nhẫn, tánh Tu Đà Hoàn, tánh Tư Đà Hàm, tánh A Na Hàm, tánh A La Hán và tánh Bích Chi Phật.  Bồ Tát rời lìa chín chủng tánh ấy nhập vào chủng tánh Phật được tịnh ấn tam muội ban bố quang minh cho tất cả chúng sanh hơn các hàng Thanh Văn và Bích Chi Phật.

Nầy thiện nam tử !  Tịnh bửu châu ấy chịu được sự mài xỏ dũa ép vì vậy mà bửu châu ấy có tên gọi không vết trầy.

Nầy thiện nam tử !  Cũng vậy, tịnh ấn tam muội tu tập tam tụ tịnh giới, đủ mười thiện pháp, tu hành từ bi thương xót chúng sanh, thấy sự nghiệp người tự qua giùm giúp cho được thành tựu, nhớ thương tất cả tu tập xả ý tịnh.  Thường nhớ chúng sanh tu tứ nhiếp pháp nhiếp thủ tất cả chúng sanh, chuyên tu lục chánh niệm điều phục sáu căn, thiểu dục tri túc, chẳng dứt thánh chủng, ngăn các tranh tụng, phá các kiêu mạn, cung kính cúng dường các bực Sư trưởng Hoà thượng kỳ cựu tôn túc, chẳng khinh khi người khác, cầu chánh pháp hộ chánh pháp xa lìa ác pháp, nơi Phật Pháp Tăng lòng tin vững chắc, tâm thường duyên niệm tất cả pháp lành, chẳng tự khen chê người mà thường ca ngợi đức tốt của người, biết ơn báo ơn, thanh tịnh oai nghi, đủ hạnh nhẫn nhục, cầu xa ma tha tu tập đà la ni.  Tâm luôn bình đẳng như địa thủy hỏa phong hư không.  Thường thích xuất gia tu tập tịch tĩnh, trì giới tinh tiến thân cận thiện hữu.  Thanh tịnh sáu căn, nhãn nhĩ tỉ thiệt thân tâm vô ngại.   Quán sát bất tịnh để phá tham ái, tu tập từ tâm để phá giận oán, tu quán thập nhị nhơn duyên để phá vô minh, xa lìa tất cả pháp chướng ngại thí pháp không lẫn tiếc, thành tựu lục Ba la mật chẳng cầu Nhị thừa.  Trong ngoài thanh tịnh quán sát tội lỗi sanh tử.  Nơi đạo Bồ đề tâm chẳng hề hối thối.  Thường giáo hóa chúng sanh cho họ an trụ trong Đại thừa.

Nầy thiện nam tử !  Bồ Tát đầy đủ những pháp như vậy thanh tịnh ý bất tịnh mà phát tâm Vô thượng Bồ đề, đây gọi là tịnh bửu châu tịnh ấn tam muội vậy".

Muốn tuyên lại nghĩa ấy đức Thế Tôn nói kệ rằng :

Nếu có tu tập đại từ tâm

Đầy đủ thành tựu thập thiện pháp

Người nầy chắc thấy Phật Di Lặc

Nên Bồ đề tâm khó nghĩ bàn

Tu tập đại bi vì chúng sanh

Cũng thường giáo hóa pháp Đại thừa

Vì trừ phiền não tu xả tâm

Nên Bồ đề tâm khó nghĩ bàn

Đầy đủ tu tập niệm trí huệ

Và hay điều phục tự tâm mình

Hay tu tri túc và thiểu dục

Nên Bồ đề tâm là tối thắng

Xa lìa tất cả các ác pháp

Tâm ấy dịu dàng với chúng sanh

Tăng trưởng tất cả các thiện pháp

Nên Bồ đề tâm là tối thắng

 

Cung kính cúng dường Hoà Thượng Sư

Kế nối thêm lớn chủng tánh Thánh

Xa lìa tất cả các kiêu mạn

Nên Bồ đề tâm là tối thắng

Tâm ấy chất trực chẳng khi dối

Thường thích tịch tĩnh hoá chúng sanh

Trừ bỏ kiêu mạn chẳng khinh người

Nên Bồ đề tâm là tối thắng

Hay nghe hay nói trì chánh pháp

Dạy các chúng sanh lìa phiền não

Chí tâm chuyên niệm Vô thượng thừa

 Nên Bồ đề tâm là tối thắng

Cúng dường Tam bửu tin tứ đế

Xa lìa các ác tu pháp lành

Chẳng giận chẳng hờn các chúng sanh

Nên Bồ đề tâm là tối thắng

Khách phiền não khởi sanh hổ thẹn

Liền hướng mười phương Phật sám hối

Tu tập thiện pháp điều các căn

Nên Bồ đề tâm là tối thắng

Tịnh thân khẩu ý biết nghiệp quả

Biết ơn nhớ ơn hay báo đáp

Tin thập nhị nhân duyên tịnh oai nghi

Nên Bồ đề tâm là tối thắng

Có xa ma tha tu trí huệ

Trì đủ tịnh giới thích Bồ đề

Thọ đại khổ não tâm chẳng động

Nên Bồ đề tâm là tối thắng

Tâm ấy bình đẳng như tứ đại

Xem các chúng sanh đồng hư không

Thường thích xuất gia tu Bồ đề

Nên Bồ đề tâm là tối thắng

Ưa tịch tĩnh thanh tịnh thân tâm

Tu hành pháp hạnh quan tứ đế

Thiệt ngữ pháp ngữ chơn nghĩa ngữ

Nên Bồ đề tâm là tối thắng

Theo pháp được nói mà an trụ

Siêng tu tinh tiến phá ma giới

Nơi pháp được tu không giải đãi

Nên Bồ đề tâm là tối thắng

Gần kề thiện hữu Phật Bồ Tát

Hay độ chúng sanh khỏi sanh tử

Hay tịnh tất cả sáu trần cảnh

Nên Bồ đề tâm là tối thắng

Hay lìa chướng ngại trừ ngũ cái

Sáu căn thanh tịnh không kiêu mạn

Đối trị tham dục sân và si

Nên Bồ đề tâm là tối thắng

Thường thiện tư duy đủ lục niệm

Tu trợ Bồ đề được thần thông

Chẳng sợ sanh tử thích Niết bàn

Nên Bồ đề tâm là tối thắng

Phàm thuyết chánh pháp chẳng vì lợi

Ở trong các pháp không tâm hối

Tu hành thiện pháp chẳng cầu báo

Nên Bồ đề tâm là tối thắng

Chẳng dùng thừa khác nhiếp chúng sanh

Thuyết pháp người ưa tin thọ trì

Tâm ấy vô lượng cũng vô biên

Nên tâm Bồ đề là tối thắng

Trong ngoài thanh tịnh không tội lỗi

Chẳng sợ sanh tử tu Bồ đề

Lúc tu Bồ đề tâm chẳng hối

Nên Bồ đề tâm là tối thắng

Biết chúng sanh giới tịnh quốc độ

Trang nghiêm Bồ đề chẳng vì mình

Với chúng sanh mê dạy chánh đạo

Nên Bồ đề tâm là tối thắng

Biết rõ pháp giới chơn thiệt tánh

Trí vô phân biệt chẳng nói được

Hay phá chúng sanh lòng kinh sợ

Nên Bồ đề tâm là tối thắng

Nếu đầy đủ được pháp như vậy

Thì hay phát tịnh Bồ đề tâm

Chẳng bị thế gian làm ô nhiễm

Phiền não nghiệp ma cũng như vậy

Nếu người hay phát tâm Bồ đề

Thì đã hơn hẳn các thừa khác

Hay tịnh tất cả chúng sanh tâm

Cũng hay diễn thuyết đạo vô thượng.

Này Hải Huệ thiện nam tử !  Thế nào gọi là tâm Bồ đề ép mà chẳng hư hoại ?

Nầy thiện nam tử !  Ép ấy là nói đại bi, duyên nơi tất cả chúng sanh nối dòng Tam bửu chẳng cho đoạn tuyệt.  Vì Phật pháp mà trang nghiêm thiện căn ba mươi hai tướng đại nhơn tám mươi hình đẹp và nghiêm tịnh thế giới.  Vì thủ hộ chánh pháp mà chẳng tiếc thân mạng.

Nầy thiện nam tử ! Nếu có bị các chúng sanh ác đánh đập mắng nhiếc nhiễu hại đều nên nhịn chịu, cũng chẳng ghét bỏ tất cả chúng sanh, trong lòng chẳng hối chẳng sầu chẳng giận cũng chẳng báo hại, chỉ nên yên lặng nhẫn nhịn càng thêm tinh tiến điều phục chúng sanh.  Phải suy nghĩ như vầy : là người ở trong Đại thừa phải trái khác thế tục, tại sao, vì tất cả chúng sanh trong thế gian thì thuận theo dòng sanh tử, tất cả chúng sanh trong thế gian thì mỗi mỗi tranh tụng, còn pháp Đại thừa thì phá sự tranh đấu kiện tụng, thế gian thì sân hận hại thù, còn pháp Đại thừa thì diệt lòng thù giận, thế gian thì hư dối, còn pháp Đại thừa thì chất trực chơn thiệt.  Giả sử mười phương thế giới có các chúng sanh cầm dao gậy rượt đuổi Bồ Tát mà bảo rằng ai phát tâm Bồ đề thì ta sẽ chặt bằm thân thể nát nhừ như hột mè, dầu gặp sự ác hại như vậy mà Bồ Tát vẫn chẳng thối chuyển tâm Bồ đề, cũng chẳng rời bỏ tất cả hạnh lành từ bi, hỉ xả, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí huệ.  Tại sao vậy, vì Bồ Tát suy nghĩ rằng ta từ quá khứ trong vô lượng vô biên kiếp thọ nhiều đời rất khổ trong các địa ngục, súc sanh, ngạ quỉ, Nhơn Thiên, các thân trong lục đạo ấy làm những việc ác chẳng lợi ích mình mà cũng chẳng lợi ích cho người, làm ác thọ khổ rất lớn ở lục đạo trong vô lượng vô biên đời như vậy mà còn chịu được, huống là nhẫn chịu sự khổ để tăng trưởng pháp lành lợi ích mình lợi ích cho người, nên ta quyết định chẳng rời bỏ tâm Bồ đề dầu phải bị ác hại trong vô lượng vô biên đời.  Bồ Tát lại nghĩ rằng lúc người thật hành pháp lành thì phần nhiều có ác pháp đến làm trở ngại nếu ta không nhẫn chịu thì làm sao thật hành các pháp lành được.  Người ban ta sự ác hại ta cho người lợi lành.  Người ban ta dao gậy chém đập ta cho người vô thượng nhẫn nhục.  Nếu đại Bồ Tát suy nghĩ được như vậy thì phải biết chẳng lâu sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.  Bồ Tát suy nghĩ như vậy thì có thể nhẫn chịu được ba sự ép nơi thân khẩu và ý.

Thế nào là ép thân ?  Bồ Tát lúc thân thể bị chém đập thì y theo pháp mà thuận với người ác ấy để thành tựu đầy đủ sáu Ba la mật.  Thế nào là Bồ Tát bị đập chém mà được đầy đủ sáu Ba la mật ?  Nếu lúc Bồ Tát bị chém đập chẳng tiếc thân mạng đó là đầy đủ Đàn na Ba la mật, với người ác ấy tu tập từ tâm chẳng giận thù đó là đầy đủ Thi Ba la mật, chẳng đem sự tổn hại độc ác để đáp trả lại người ác ấy đó là sằn đề Ba la mật, vì các chúng sanh mà siêng tu tinh tiến trọn chẳng rời bỏ tâm Bồ đề đó là đầy đủ Tỳ lê gia Ba la mật, lúc bị hại như vậy mà tâm không loạn động chẳng mất chánh niệm tâm ý thanh tịnh đó là Thiền na Ba la mật, quán thân vô thường khổ vô ngã như cỏ cây ngói đá đó là đầy đủ Bát nhã Ba la mật, vì đầy đủ sáu Ba la mật rồi ép mà chẳng hư hoại Bồ đề tâm, đây gọi là ép thân.

Thế nào là ép miệng ?  Nhịn chịu tất cả lời ác mắng nhục hoặc chẳng thiệt, chỉ tự trách mình phiền não kiết sử chẳng hề oán ghét người, vì các chúng sanh mà tu tập từ bi.  Lúc đại Bồ Tát tu tập nhịn chịu lời mắng nhục như vậy thì đầy đủ sáu Ba la mật.  Lúc ấy đại Bồ Tát nghĩ rằng người này vì xan tham mà gần kề ác hữu nên có ác tâm ấy, ta vì phá tâm xan tham tu tập bố thí gần kề thiện hữu nên nay ta có thể bỏ tâm giận hờn thù ghét đó là đầy đủ Đàn na Ba la mật.  Lúc ấy đại Bồ Tát nghĩ rằng người nầy không tin nghiệp quả phá giới mắng chửi ta, còn ta tin nghiệp quả thọ trì tịnh giới tu vững tâm Bồ đề hộ trì chánh pháp tùy thuận chúng sanh đó là đầy đủ Thi Ba la mật.  Lúc ấy đại Bồ Tát nghĩ rằng người này giải đãi chẳng tu tập pháp lành nên có ác tâm mắng nhiếc ta, còn ta siêng tu tinh tiến các pháp lành bỏ rời tâm sân, nơi pháp lành ta chẳng hề nhàm đủ, nay ta nên lập phương tiện cho người này trước ngồi dưới cội Bồ đề rồi sau ta mới thành quả Bồ đề đó là đầy đủ Tinh tiến Ba la mật.  Lúc ấy đại Bồ Tát nghĩ rằng người nầy thất niệm cuồng loạn phóng dật bị phiền não ô nhiễm nên sanh ác tâm mắng nhiếc ta, nay ta phá hoại tất cả phiền não vì các ác chúng sanh nầy mà vững phát tâm Bồ đề, nếu các chúng sanh đếu thanh tịnh cả thì còn có nhơn duyên gì mà ta phát tâm Bồ đề, vì vậy nên chuyên tâm duyên niệm Bồ đề tâm chẳng loạn động đó là đầy đủ Thiền Ba la mật.  Lúc ấy đại Bồ Tát lại nghĩ rằng người nầy chấp ngã ngã sở chúng sanh thọ mạng sĩ phu, còn ta thì y dựa pháp giới trong pháp giới ai mắng ai chịu cũng chẳng thấy có một pháp nào là mắng là kẻ mắng đó là đầy đủ Bát nhã Ba la mật.  Lúc bị người mắng nhiếc nhục mạ mà có thể chí tâm thọ trì tu hành năm Ba la mật như vậy thì đồng thời đầy đủ Nhẫn Ba la mật.  Đây gọi là ép khẩu.

Thế nào là ép ý ?  Bồ Tát phát Bồ đề tâm chẳng sợ chúng ma mà thối tâm, chẳng sợ tất cả chúng tà kiến dị kiến mà thối tâm, chẳng sợ những sự đau khổ nơi địa ngục súc sanh ngạ quỷ mà thối tâm, nếu thấy có hình tượng Phật đến bảo rằng ngươi chẳng có khả năng phát tâm Bồ đề đạo Bồ đề rất khó tu khó được chẳng bằng ngươi sớm tu pháp Thanh Văn thừa mau chứng Niết bàn hưởng an lạc lớn, nghe lời trên đây Bồ Tát liền nghĩ rằng đạo Bồ đề hoặc khó hay dễ ta vẫn vững tâm chẳng thối ta quyết tự có khả năng sẽ đến ngồi tòa kim cương dưới cội Bồ đề, trước kia ta vì tất cả chúng sanh mà phát tâm nguyện sẽ đem pháp Đại thừa vô thượng ban cho họ nay sao ta lại khi dối họ mà thối tâm, ta phải tuỳ thuận tâm chư Phật chịu đựng những sự ép tâm ép ý như vậy giữ vững tâm đại Bồ đề càng thêm tinh tiến tu tập đạo vô thượng để khỏi khi phụ chư Phật nhơn thiên đại chúng và với chính mình, đây gọi là ép tâm ý".

Muốn tuyên lại nghĩa nầy đức Thế Tôn nói kệ rằng :

Hướng đến Bồ đề tâm chẳng hoại

Đại từ đại bi cũng chẳng hư

Cũng chẳng đoạn tuyệt dòng Tam bửu

Vô lượng trang nghiêm vì Bồ đề

Vì được thập lực tứ vô úy

Ba mươi hai tướng tám mươi tốt

Trong vô lượng đời bố thí của

Cũng chịu các thứ khổ não lớn

Vì được Tam bửu các công đức

Nên trì chánh pháp vì chúng nói

Vì độ chúng sanh khỏi sanh tử

Do đó chịu được các sự khổ

Mười phương thế giới ác chúng sanh

Cầm nắm dao gậy chém đập tôi

Trọn chẳng động tâm vững Bồ đề

Vì thương tất cả chúng sanh vậy

Trong vô lượng đời chịu khổ não

Mà chẳng lợi mình chẳng lợi người

Nay tôi nhẫn khổ được lợi ích

Cũng được vô lượng Phật công đức

Vì công đức Phật mà nát thân

Như hạt mè nhỏ lòng chẳng hối

Cũng chẳng thối tâm đại Bồ đề

Chịu nhiều đau khổ vì Phật pháp

Đi đứng ngồi nằm nhớ Bồ đề

Nội tâm tịch tĩnh lìa phiền não

Không hế sanh lòng giận ghét người

Chỉ nên xét trách mình không trọn

Trong ba ác đạo chịu nhiều khổ

Vì các chúng sanh cầu Phật đạo

Chẳng cầu Nhơn thiên với Nhị thừa

Đành cam chịu khổ vì chúng sanh

Ở trong loài người chịu khổ não

Chẳng bằng phân ngàn của địa ngục

Dầu chịu khổ lớn ba ác đạo

Cũng chẳng thối thất tâm Bồ đề

Quán thân vô thường và vô ngã

Tánh thân tứ đại như rắn độc

Chí tâm buông bỏ thân độc nầy

Hay được trí huệ đạo vô thượng

Lưu chuyển lục đạo chịu nhiều khổ

Do chẳng quán xét thân chơn thiệt

Bồ Tát hay quán thân chơn thiệt

Do đây lìa hẳn các khổ não

Lúc làm điều ác ít trở ngại

Còn tu pháp lành nhiều chướng nạn

Chư Phật Thế Tôn chứng biết tôi

Nên tôi vui lòng chịu đựng khổ

Tôi nay nhẫn được khổ hại ấy

Thân khẩu và ý khổ vô lượng

Do duyên cớ nầy tâm Bồ đề

Bị ép đè cũng chẳng lay động

Xả thân có đủ Ba la mật

Với thân chẳng tham là Đàn na

Với người ác hại có tâm từ

Đây là có đủ trì giới độ

Chém thân nhẫn chịu không hề giận

Có đủ Nhẫn nhục Ba la mật 

Lúc thân bị khổ tâm không động

Đây là đầy đủ Tỳ lê gia

Vững tâm Bồ đề vui tịch tĩnh

Thiền Ba la mật do đầy đủ

Quán thân vô ngã vô ngã sở

Bát nhã do đây được đầy đủ

Nếu ta làm được trang nghiêm nấy

Chẳng lâu chắc được Vô thượng đạo

Nếu ta chẳng dứt ác khẩu nghiệp

Làm sao phá hoại các phiền não

Nếu ta điều phục thân khẩu ý

Thì hay nhẫn được các khổ não

Hay phá tất cả các chúng ma

Với các tà ác ta chẳng động

Nếu muốn đủ sáu Ba la mật

Phật vô sở úy và thập lực

Có được vô thượng vô giá bửu

Nên học điều phục thân khẩu ý.

Nầy thiện nam tử Hải Huệ ! Thế nào gọi là xỏ tâm Bồ đề ?

Bồ Tát đã phát tâm Bồ đề rồi thì trọn chẳng sanh lòng tương tợ ngã mạn, chẳng trụ trước Bồ đề tâm, chẳng tham Bồ đề tâm, chẳng ái Bồ đề tâm, chẳng quán Bồ đề tâm.  Được như vậy thì làm cho  tâm tịch tĩnh quán thâm pháp giới quán pháp chư Phật.  Thâm pháp giới ấy là thập nhị nhơn duyên xa lìa nhị biên, tất cả các pháp tánh nó tự không có ngã, quán nơi ngã tánh tất cả pháp tánh rỗng không không có chủ an trụ nơi không tam muội, vô tướng tam muội, vô nguyện tam muội.  Biết các hành pháp không bị tạo tác, quán sắc ấm như bọt nước, thọ ấm như bong bóng nước, tưởng ấm như dương diệm, hành ấm như thân cây chuối, thức ấm như ảo huyễn.  Quán thập bát giới không có tạo tác không có động diêu.  Quán lục nhập như điếc như đui tâm không có tạm dừng ở.  Kiết sử kiêu mạn không có chỗ phát sanh.  Tất cả các pháp không có hai không có phân biệt là nhứt vị, nhứt thừa, nhứt đạo, nhứt nguyện.  Quán tất cả âm thanh không có tướng âm thanh, tất cả âm thanh đều có thứ đệ chẳng hiệp nhau.  Tất cả các pháp chẳng thể tuyên nói được.  Biết rõ tướng khổ quả, tập nhơn không có ngã sở, nơi diệt đế chẳng tăng giảm, biết đạo đế rốt ráo không có chướng ngại.  Quán thân niệm xứ, biết khứ lai thọ, niệm tâm sanh diệt, biết rõ pháp giới.  Quán pháp giới chẳng phải giới nên tu tứ chánh cần, vì muốn tự tại nên tu tứ như ý, lìa các phiền não gọi là tín căn, ưa thích tịch tĩnh gọi là tinh tiến căn, vì chẳng phải có niệm nên gọi là niệm căn, vì chẳng phải tư duy nên gọi là định căn, xa lìa tất cả gọi là huệ căn.  Vì chẳng tuỳ theo người nên gọi là tín lực, vì không có chướng ngại nên gọi là tinh tiến lực, vì chẳng thối chuyển nên gọi là niệm lực, tâm được tự tại gọi là định lực, chẳng quán thiện ác gọi là huệ lực.  Vì chẳng phóng dật nên gọi là niệm giác phần, vì nhập vào các pháp nên gọi là trạch pháp giác phần, vì như pháp tu hành nên gọi là tinh tiến giác phần, thân tâm tịch tĩnh gọi là trừ giác phần, vì như pháp tu hành nên gọi là tinh tiến giác phần, vì xa lìa ác nên gọi là hỷ giác phần, thân tâm tịch tĩnh gọi là trừ giác phần, biết thiệt tam muội gọi là định giác phần, chẳng thấy có hai gọi là xả giác phần.  Xa lìa các kiến chầp gọi là chánh kiến, lìa các giác quán gọi là chánh tư duy, biết rõ các tánh âm thanh gọi là chánh ngữ, thân khẩu và ý chẳng tham trước gọi là chánh nghiệp, lìa tâm tật đố gọi là chánh mạng, chẳng tăng chẳng giảm gọi là chánh tinh tiến, nơi thiện nơi bật thiện chẳng nhớ nghĩ gọi là chánh niệm, quán các tâm giới gọi là chánh định.  Tánh thiệt tướng ấy tánh nó tịch tĩnh.  Về nghĩa rốt ráo ấy gọi là vô thường, là khổ, là vô ngã, là giả danh, là thanh tịnh, là đại tịnh.  Hay điều tâm thì gọi là bố thí, thân tâm mát mẻ thì gọi là trì giới, các pháp vô thường thì gọi là nhẫn nhục, siêng tu trí ấy thì gọi là tinh tiến, nội ngoại thanh tịnh thì gọi là chánh định, vì quán chơn thiệt nên gọi là trí huệ.  Biết tất cả chúng sanh tâm tánh vốn thanh tịnh đây gọi là từ, quán tất cả pháp bình đẳng như hư không đây gọi là bi, dứt tất cả hỉ đây gọi là hỉ tâm, xa lìa tất cả hành đây gọi là xả tâm.  Tất cả các pháp thuở quá khứ nhiều thứ, thuở vị lai thanh tịnh, thuở hiện tại không có ngã.

Nầy thiện nam tử !  Nếu có thể quán sát biết rõ được các pháp như vậy đây gọi là xỏ Bồ đề tâm bửu.  Bồ Tát quán sát các pháp như vậy rồi thứ đệ được nhứt thiết pháp tự tại đà la ni.

Nầy thiện nam tử !  Như mặt nhựt nguyệt chẳng có tâm nghĩ qua lại chiếu soi, do nơi thế lực phước đức của các chúng sanh mà nó tự qua lại phá các tối tăm.

Cũng vậy, đại Bồ Tát nếu có thể quán sát biết rõ các pháp như vậy thì chẳng có suy nghĩ rằng tôi sẽ làm lợi ích vô lượng chúng sanh mà làm cho chúng sanh được lợi ích lớn.

Nầy thiện nam tử !  Nếu đại Bồ Tát có thể quán sát được như vậy thì gọi là Thiền Ba la mật và Bát Nhã Ba la mật.  Tại sao, vì nhập định mới có thể quán sát được như vậy mà tâm tán loạn thì chẳng thể được.  Định ấy là Thiền Ba la mật và quán ấy là Bát Nhã Ba la mật.  Như vậy mới có thể quán sát chơn thiệt thấy rõ ràng tất cả pháp tướng.  Thế nào gọi là thấy rõ tất cả pháp tướng ?

Tất cả pháp tướng ấy gọi là tướng không có tướng.  Nói không có tướng ấy là vô tác, chính vô tác nầy gọi là tướng.  Nếu có thể dứt hẳn vô tướng như vậy thì gọi là tướng không có tướng.

Lại vô tướng ấy gọi là tướng vô sanh, tướng không có tướng ấy gọi là tướng vô diệt.  Vô sanh vô diệt gọi là tướng không có tướng không có tướng.  Nếu thấy vô sanh, vô diệt, vô trụ, vô nhứt, vô nhị, vô sanh, vô tranh, vô hữu bất động bất chuyển, biết rõ pháp tánh, đây gọi là chơn tánh là pháp tánh là thiệt tánh.

Nầy thiện nam tử !  Nếu đại Bồ Tát chơn thiệt biết các pháp như vậy thì gọi là trụ chẳng phải trụ".

Lúc đức Thế Tôn nói pháp ấy có mười hai na do tha chúng sanh phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, một vạn sáu ngàn vị Thiên tử được vô sanh nhẫn.  Muốn tuyên lại nghĩa ấy đức Thế Tôn nói kệ rằng :

Hay phá tất cả các pháp tướng

Thanh tịnh tâm Vô thượng Bồ đề

Thì được chẳng chấp tất cả pháp

Thấy rõ các pháp giới thậm thâm

Cũng chẳng kinh sợ nơi Niết bàn

Do vì chẳng sợ nơi nhơn duyên

Thì hay tăng trưởng các Phật pháp

Tin rõ nơi nhơn và quả báo

Mười hai nhơn duyên cũng tin rõ

Xa lìa nhị biên kiến đoạn thường

Tuỳ ý vì người nói chánh pháp

Nơi thường vô thường tâm chẳng trước

Lại hay diễn nói nơi trung đạo

Biết tất cả pháp lành là tánh không

Không có chúng sanh không thọ mạng

Tất cả các pháp không vô tướng

Lại cũng không có thứ đệ sanh

Tánh nó bổn lai thường tịch tĩnh

Không có năng tác như hư không

Chẳng thấy tất cả các pháp tướng

Biết hiểu rõ ràng không có tánh

Xem sắc và thọ như bọt bóng

Tưởng và hành như diệm chuối cây

Tâm như ảo huyễn tứ đại không

Lục nhập thấy như kẻ mù điếc

Còn xem tâm ý không nội ngoại

Tâm không trụ xứ giới không hai

Chẳng trước các pháp sắc sắc tướng

Dầu biết thấy rõ không kiêu mạn

Xem tất cả pháp đều bình đẳng

Một vị một thừa một đạo nguồn

Hay biết chơn thiệt nghĩa như vậy

Rành rõ hay quán các pháp giới

Không có âm thanh hay quán thanh

Không có tâm ý hay quán tâm

Không có văn tự hay quán văn tự

Đây là chơn thiệt biết pháp giới

Tất cả pháp nghĩa chẳng nói được

Âm thanh văn tự chẳng nói được

Chơn thiệt biết khổ tập diệt đạo

Đầy đủ nhiếp tâm tứ niệm xứ

Nơi các pháp giới không phân biệt

Tâm ấy hay được đại tự tại

Xa lìa tất cả các phiền não

Tu tứ chánh cần chuyên tinh tiến

Vì được vô lượng đại tự tại

Tâm siêng tu tập tứ như ý

Nơi tất cả pháp chẳng tham trước

Vì pháp như vậy tu tín căn

Thường thích an trụ đại tịch tĩnh

Vì vậy tu tập tinh tiến căn

Tâm không niêm lự biết chơn thiệt

Vì vậy tu tập chánh niệm căn

Hay điều phục được các tâm tưởng

Vì vậy tu tập chánh định căn

Vì hay quán sát các pháp giới

Vì vậy tu tập trí huệ căn

Vì muốn biết rõ các pháp giới

Vì vậy tu tập thất giác phần

Chẳng quán các pháp số một hai

Vì vậy tu tập bát chánh đạo

Hay đem của cải thí tùy ý

Cũng hay tùy ý thọ trì giới

Còn hay thanh tịnh nội và ngoại

Đây thì gọi là đại thần thông

Tất cả các pháp bổn tánh tịnh

Vì vậy tu tập đại từ bi

Dứt tất cả hỉ các phiền não

Vì vậy tu tập tâm hoan hỷ

Tất cả các pháp bổn tánh tịnh

Khứ lai hiện tại cũng thanh tịnh

Nếu quán các pháp không sanh diệt

Đây là trí huệ chơn thiệt biết.

Nầy Hải Huệ !  Bồ Tát được tịnh đại tịnh ấy rồi, thì tâm ấy chơn thiệt không có khi dối, với các chúng sanh bình đẳng không có hai được chơn thiệt trí cứu cánh đại trí tịnh ấn tam muội an trụ trong tịnh ấn tam muội căn bổn.

Sao gọi là tam muội căn bổn ?

Vì tất cả chúng sanh mà tu đại từ bi, dầu được cúng dường mà tâm không có cao, dầu bị giận hờn hủy nhục mà tâm không có hạ.  Vì tâm không có hạ thì hay sanh được bất kiêu pháp tánh và bất kiêu danh tự cũng chẳng sanh tương tự ngã mạn, thân khẩu ý ba nghiệp đều tùy trí huệ sanh, do đây mà tất cả sự việc được làm đều tùy trí huệ hành.

Thế nào là Bồ Tát thân nghiệp tùy trí mà được ?  Thân hình Bồ Tát thù thắng vi diệu, chúng sanh thấy được thì liền điều phục, bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi cũng hay điều phục chúng sanh, rời lìa những lầm lỗi những cong vạy những cặn bã nơi thân, thân ấy thanh tịnh tướng hảo trang nghiêm đầy đủ các căn không có thiếu sót, chẳng cậy thân ấy mà sanh kiêu mạn, thấy người thân kém thua thì tâm cũng chẳng khinh, đối với thân của mình tâm không tham trước, quán sát thân pháp giới cùng nghiệp dụng của thân.  Biết rõ thân này rồi niệm tưởng pháp thân mà chẳng cầu thực thân, dùng định lực làm món ăn mà vì điều phục chúng sanh nên thị hiện nhận lấy sự cúng thí, thường tu Thánh hạnh ủng hộ chánh pháp, tất cả sở hành đều rời lìa tham dục sân khuể ngu si.   Đại Bồ Tát đầy đủ thân nghiệp tùy trí như vậy thì được đại thần thông lực và vô sở úy lực.  Do nơi lực ấy mà hiện thân mình khắp các Phật độ, như thân được hiện ở thế giới này, ở các thế giới mười phương cũng hiện thân như vậy, phóng đại quang minh chiếu suốt khắp mười phương thế giới, ánh sáng ấy dịu mát chúng sanh nào được gặp thì lìa rời các phiền não, đã rời lìa phiền não rồi thì nội tâm khoan khoái an vui.  Đây gọi là Bồ Tát thân nghiệp tùy trí.

Thế nào là Bồ Tát khẩu nghiệp tùy trí ?

Đó là xa lìa sáu mươi bốn thứ khẩu nghiệp ác, những là lời thô, lời trược, lời phi thời, lời vọng, lời lậu, lời cao, lời đại, lời khinh, lời phá, lời bất liễu, lời tán, lời cúi, lời ngửa, lời lầm, lời ác, lời sợ, lời xin, lời tranh, lời nịnh, lời phỉnh, lời não, lời khiếp, lời tà, lời tội, lời câm, lời xơi, lời đốt, lời địa ngục, lời hư, lời mạn, lời khi, lời ghét, lời kể tội lỗi, lời có lỗi, lời biệt ly, lời thêm ác, lời đâm chọc, lời vô nghĩa, lời không giữ gìn, lời mừng, lời cuồng, lời sát, lời hại, lời trói, lời nhốt, lời buộc, lời đánh, lời ca, lời phi pháp, lời tự khen, lời kể lỗi người, lời hủy báng Tam bảo v.v.  Đại Bồ Tát xa lìa những khẩu nghiệp ác như vậy thì lúc có nói là những lời thiệt, lời chơn, lời giải thoát, lời đúng, lời đế lý, lời lợi ích người, lời thuận lòng người thiệt hay chẳng t