Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Kinh Điển Phật Giáo


......... .


KINH ĐẠI BỬU TÍCH

Việt dịch:  Thích Trí Tịnh

--- o0o --- 

 

LI

PHÁP HỘI

TỰ TẠI VƯƠNG BỒ TÁT

THỨ NĂM MƯƠI MỐT

( Hán bộ từ quyển 126 đến quyển 129)

 

Hán dịch: Bác Lương. Tam Tạng Ðàm Vô Sấm.

Việt dịch: Việt Nam Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh

Tôi nghe như vầy, một thuở nọ đức Phật ở thành Vương Xá trong núi Kỳ Xà Quật tại tháp lớn mà từ cổ xưa chư Phật thường an trụ, chư đại Bồ Tát cùng khen ngợi, đất ấy sạch sẽ vi diệu tối thắng, có pháp tọa của chư Phật, hàng Trời, Rồng, Càn Thát Bà v.v... luôn ca tụng. Nơi ấy lại có thể làm tăng trưởng vô lượng thiện căn, thường có ánh sáng vi diệu của chư Phật thành tựu vô lượng vô biên công đức , là chỗ đầy đủ sở hành của chư Phật.

Ðức Như Lai  thành đạo Bồ đề rồi chuyển pháp luân vi diệu hàng phục vô lượng vô biên chúng sanh được tự tại nơi tất cả pháp. Ðức Thế Tôn ở trong tất cả pháp được trí huệ vô ngại, khéo biết rõ tất cả chúng sanh căn tánh lợi hay độn, đức Phật đã dứt hẳn tất cả phiền não tập khí, trang nghiêm biết rõ tất cả pháp.

 Có đại Tỳ Kheo Tăng sáu vạn tám ngàn người đều là Phật tử đã dứt phiền não tập khí, khéo hiểu thâm nghĩa, đều là phước điền, hay dứt sanh tử được quả tịnh giới bất sanh bất diệt.

Còn có vô lượng Bồ Tát Tăng đủ trí vô ngại trí thậm thâm trí vô tri, đại từ đại bi tuôn mưa pháp, hay ban bố tất cả pháp vi cam lộ, đối với tất cả chúng sanh lòng các Ngài như mặt đất tăng trưởng thành tựu các pháp trợ Bồ đề. Trí huệ các Ngài sáng rỡ hay phá tan tối tăm , đều có thể soi rõ đường thiện ác, có thể làm cho hoa sen tâm lành của chúng sanh đều nở, hay làm cho căn lành của chúng sanh thành thục, tăng trưởng mầm lành, làm khô lầy phiền não.Các Ngài có đủ cảnh trí huệ bay trong hư không vô ngại như mặt nhựt. Các Ngài khéo có thể làm cho chúng sanh thêm lành bớt ác như mặt nguyệt. Các Ngài là gốc lành cao vững như núi Tu Di. Lòng các Ngài tịch tĩnh tu hành hạnh thanh tịnh chẳng bị thế luận làm động chuyển, thường an trụ pháp xuất thế vô thượng , thường thấy chư Phật và tất cả Phật độ. Các Ngài chứa tạng pháp lành như biển cả. Các Ngài thành tựu đầy đủ các môn đà la ni, thánh hạnh tịch tĩnh và đại từ bi. Các Ngài trang nghiêm thanh tịnh hai mắt định và huệ. Từ lâu các Ngài đã xa lìa sự sợ hải pháp thậm thâm. Từ vô lượng kiếp các Ngài tu hạnh Bồ đề, pháp nào chưa được rốt ráo thì trọn chẳng thôi nghỉ ? Các Ngài đã thành tựu những công đức mà bực Bồ Tát phải có. 

Danh hiệu của các Ngài là : Huệ Quang Vô Ngại Nhãn đại Bồ Tát, Kiến Nhứt Thiết Ðiền

Trang Nghiêm Anh Lạc đại Bồ Tát, Bất Ðoạn Như Lai Tánh Xuất Thế Ý Ðại Bồ Tát, Vị Chư Chúng Sanh Thị Hiện Tế Hạnh Thần Túc đại Bồ Tát, Vô Lượng Lạc Thuyết Vô Ngại Thần Túc Tràng Danh Xưng đại Bồ Tát, Tịnh Chúng Quang Tự Tại Vương đại Bồ Tát, Thiện Năng Luận Giải Tự Nghĩa Quảng Thuyết Luận Nghị Thần Túc đại Bồ Tát, Vô Lượng Công Ðức Trí Huệ Trang Nghiêm Trụ đại Bồ Tát, Chư đại Bồ Tát như vậy thường chung ở với đức Như Lai. Ðức Như Lai thường vì chư Bồ Tát nầy mà phân biệt tuyên nói các pháp môn mà Bồ Tát thật hành. 

Lúc bấy giờ đức Như Lai thành Chánh đẳng Chánh giác được mười sáu năm, biết rõ trong đại chúng nhiều người tu phạm hạnh đều đến tập họp có thể thọ trì tạng pháp Bồ Tát.

Bấy giờ đức Như Lai nghĩ rằng : Nay ta nên vì vô lượng chúng đại Bồ Tát nầy mà tuyên nói các pháp sở hành  của chư Bồ Tát. Ta nên trước thị hiện đạI thần thông lực của chư Phật Như Lai để cho chư đại Bồ Tát biết cảnh giới sâu rộng của chư Phật.

Ðức Thế Tôn liền nhập tam muội. Tam muội ấy có tên là Phật Cảnh Thần Thông Thiệt Kiến Chúng Sanh.

Do công đức oai thần lực của Phật, ở chặng giữa hai cõi Dục và cõi Sắc suất hiện phường đình lớn rộng bằng cả Ðại Thiên thế giới, từ hai sức định và phước làm thành , nơi đây có thể làm chỗ ở của Phật Như Lai. Ðức Phật lại phóng quang minh thanh tịnh lớn chiếu khắp thế giới chư Phật mười phương, Quang minh nầy có thể làm cho chúng sanh được tâm tri túc còn hơn cả ở cung trời, lại có thể khuyến tấn chư Bồ Tát phóng dật ở mười phương.

Phường đình được hiện ra đây, bốn phía giáp vòng có đại thọ bạch lưu ly, tường vách bằng chơn kim , nhà bằng công đức bửu, rèm rũ bằng ngọc mã não, lan can bằng các thứ châu báu, có lưới kết bằng bạch chơn châu giăng trùm lên trên, các thứ phan lọng báu để trang nghiêm, các thứ hương thơm rưới rải trên đất, xông đốt gỗ thơm quý. Bao nhiêu những món thượng diệu trang nghiêm của chúng sanh trong mười phương thế giới đều hiện cả trong ấy.

Trong phường đình được hiện ra ấy đặt để vô lượng trăm ngàn vạn ức pháp tọa sư tử, trải nệm êm dịu vô lượng màu sắc đẹp sáng, ai thấy cũng đều sanh lòng vui thích. Các tứ thiên hạ đều riêng có bốn thềm thang bằng thất bửu, ngang rộng mười do tuần, lúc có người bước đi trên ấy liền phát ra âm thanh vi diệu. Như tứ thiên hạ, cả Ðại Thiên thế giới cũng đều có thềm bực thất bửu như vậy cả.

Bấy giờ đức thế Tôn từ tam muội dậy, cả Ðại thiên thế giới chấn động sáu cách, cũng phóng ra ánh sáng lớn tối thắng. Ðức thế Tôn cùng các chúng Thanh Văn, Bồ Tát sau trước vây quanh muốn đến phường đình ấy. Tất cả hàng chư Thiên tôn trọng ngợi khen rải các thứ hoa tròi như hoa mạn đà la, hoa ma ha mạn đà la, hoa mạn thù sa, hoa ma ha mạn thù sa, cũng xông đốt các thứ hương thơm, rải các thứ bột hương để cúng dường Phật và Thánh chúng. Quang minh của đức Phật phóng ra chấn động cả mười phương, soi sáng khắp mọi nơi vô lượng vô biên thế giới, thị hiện thần thông phước đức của chư Phật.

Lúc bấy giờ, tại núi Kỳ Xà Quật, bỗng nhiên đại chúng chẳng còn hiển hiện, tất cả đều lên thềm bực thất bửu đi trên hư không. Có vô lượng ức Bát Bộ Quỷ Thần, Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La già cùng các chúng Quỷ Thần Vương cũng theo hầu cận đức Phật, đều mang hoa trời hương trời để cúng dường.

Tứ Thiên Vương quỳ dài chấp tay hướng lên đức Phật nói kệ tán thán :

Như Lai quang minh hơn tất cả

Hay phá tối tăm ba ác đạo

Chúng tôi quy y thích y chỉ

Ðấng vô thượng tát bà tất đạt

Nói kệ xong, Tứ Thiên Vương cùng chúng trời thần của mình liền đứng hầu sau Phật.

Thiên Ðế Thích Ðề Hoàn Nhơn cùng chư Thiên trời Ðao Lợi đem hoa hương cúng dường đức Phật mà nói kệ tán thán:

Như Lai đầy đủ mọi thần thông

Ðức đại từ bi không ai hơn

Công đức Phật trang nghiêm mười phương

Chúng tôi kính lạy đấng vô thượng

Nói kệ xong, Thiên Ðế cùng chư Thiên trời Ðao Lợi liền đến hầu sau đức Phật.

Dạ Ma Thiên Vương cùng chư Thiên trời Dạ Ma đem hương hoa cùng kỹ nhạc trời cúng dường và nói kệ tán thán đức Phật:

Trí huệ vô biên vô chướng ngại

Biết việc ba đời của chúng sanh

Một tâm biết rõ vô lượng tâm

Nay tôi kính lạy đấng vô thượng

Nói kệ xong, Dạ Ma Thiên Vương và chư Thiên Dạ Ma đứng hầu sau Phật.

Ðâu Suất Thiên Vương và chư Thiên trời Ðâu Suất đem hoa hương kỹ nhạc trời cúng dường và nói kệ tán thán đức Phật:

Phật biết các pháp như ảo huyễn

Không thọ không làm không chữ lời

Thương người nên nói chẳng thể nói

Ghi nói vô ngã biết pháp tánh.

Nói kệ xong Ðâu Suất Thiên Vương và chư Thiên trời Ðâu Suất liền đứng hầu sau đức Phật.

Hóa Lạc thiên Vương cùng chư Thiên trời Hóa Lạc đem hương hoa kỹ nhạc trời cúng dường và nói kệ tán thán đức Phật:

Như Lai được đầy đủ thập lực

Biết các pháp giới như hư không

Không tướng vì thương mà hiện tướng

Tâm Phật bình đẳng dạy chúng sanh

Như Lai thường làm việc chư Phật

Vì chúng sanh làm việc thế gian

Khai thị pháp giới vô phân biệt

Nay tôi kính lễ Thiên Nhơn Sư.

Hóa Lạc Thiên Vương và chư Thiên trời Hóa Lạc nói kệ xong liền đến hầu sau đức Phật.

Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương cùng chư Thiên trời Tha Hóa Tự Tại đem hương hoa kỹ nhạc trời cúng dường đức Phật và nói kệ tán thán:

Giới hạnh thanh tịnh trụ tịch tĩnh

Thành tựu tam muội tối vô thượng

Trí Phật vô biên vô chướng ngại

Tôi lạy bực cứu cánh giải thoát

Ðại từ đại bi lời vi diệu

Hay biết đúng thiệt đạo phi đạo

Dũng kiện tinh tiến lực vô thượng

Chúng tôi kính lạy đấng vô động

Phật đã thành tựu ba giải thoát

Không ai khen hết công đức Phật

Quạ hay dầu chẳng đồng KIM SÍ

Cũng tùy sức mình mà bay liệng

Nay tôi như quạ tùy sức khen

Xin Phật xót thương nhận lời mọn

Không gieo không gặt không kết quả

Chẳng khen đức Phật không giải thoát

Từ bi làm cộng trí huệ lá

Chánh định cánh tua giải thoát nở

Ong chúa Bồ Tát hút cam lồ

Nay tôi lạy Phật hoa sen pháp

Ðại bi trí huệ quang minh đủ

Hay phá vô minh của chúng sanh

Giới hạnh thanh tịnh người thích xem

Nay tôi kính lạy Phật pháp nguyệt

Tâm Phật bình đẳng như hư không

Ngợi khen chê mắng lòng không hai

Hay sạch cấu nhơ vô lượng chúng

Nay tôi kính lạy sông Phật pháp.

Nói kệ xong, Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương cùng chư Thiên trời Tha Hóa Tự Tại liền đứng hầu sau đức Phật.

Chúng chư Thiên cúng dường nói kệ tán thán xong, đức Thế Tôn liền thị hiện vô lượng thần thông đạo lực lần lẩn đến phường đình thất bửu. Như người tứ thiên hạ thấy đức Phật đi lên , khắp cả Ðại Thiên thế giới cũng đồng thấy như vậy. Vào phường đình rồi đức Phật lên ngự tòa sư tử thất bửu, hàng Thanh Văn và chư Bồ Tát cũng lên ngồi tòa báu.

Lúc bấy giờ đức thế Tôn nhập tam muội. Tam muội ấy có tên là Vô ngại giải thoát. Khắp thân đức Phật tất cả lỗ lông đều phóng vô lượng ánh sáng lớn chiếu suốt mười phương vô lượng thế giới. Loài chúng sanh trong các địa ngục nhờ ánh sáng soi đến đều được dứt khổ. Các chúng sanh khác thì trừ lòng tham gian giận thù mê si, mỗi mỗi sanh lòng thương coi nhau như cha với con.

Do công đức của Phật nên trong ánh sáng ấy nói lên lời kệ để khuyến hóa các Bồ Tát phóng dật :

Như Lai tinh tiến vô lượng biên

Quá vô lượng kiếp thường tinh tiến

Ai hay khen Phật quang minh đức

Chỉ có chư Phật ở mười phương

Vì khuyên mười phương chư Bồ Tát

Ưa thích phóng dật chẳng tu thiền

Thích Ca Như Lai phóng quang nầy

Với chư Bồ Tát về đây họp

Thành tựu đầy đủ Phật thập lực

Phá được ma vương các thế giới

Thế giới chẳng nhơ dường hoa sen

Quang minh Phật phóng vô biên lượng

Như Lai chuyển pháp vô thượng nầy

Chư Thiên cùng người không làm được

Vì các chúng sanh chuyển pháp luân

Như xưa pháp luân chư Phật chuyển

Hôm nay Như Lai họp đại hội

Khó thấy dường như hoa ưu đàm

Nếu ai lòng tin được thành tựu

Ðều vì nghe pháp đến chỗ Phật.

Lời kệ tụng trong quang minh của Phật phóng ra vang rộng khắp mười phương khuyên bảo các Bồ Tát làm chấn động tất cả thế giới đại địa, làm cho chúng sanh tất cả đều được an vui, hay sạch tất cả phiền não của chúng sanh, hay phá si tối của tất cả chúng sanh, hay khuất tất cả cung điện của thiên ma. Ánh sáng ấy chiếu khắp mười phương rồi trở về nhập vào đỉnh đầu của đức Phật.

Bấy giờ phương Ðông có thế giới tên Vô Lượng Công Ðức Bửu Tụ Thần Thông, Phật hiệu Tịnh Ðại Bửu Hoa Quang Vương, nơi ấy có Bồ Tát hiệu Pháp Tự Tại Công Ðức Hoa. Ðược quang minh chiếu đến, Bồ Tát nầy liền cùng hằng hà sa số đại Bồ Tát đến Ta Bà thế giới trong phường đình báu lớn, đầu mặt lạy chưn Phật Thích Ca Mâu Ni, đi nhiễu Phật một vạn vòng rồi đem hoa hương vi diệu cúng dường ở trước Phật nói kệ tán thán :

Tất cả công đức đều rốt ráo

Thường được mười phương Phật ngợi khen

Danh hiẹu vô ngại khắp mười phương

Ðại từ đại bi Thích Ca Phật

Như Lai pháp giới vô sai biệt

Vì kẻ căn độn nói sai biệt

Tuyên nói một pháp thành vô lượng

Như nhà ảo thuật bày sự ảo

Chư Bồ Tát nói kệ khen Phật xong cúi lạy chưn Phật rồi dùng sức thần thông của mình ở phía Ðông của đức Phật hóa ra các tòa báu theo thứ tự mà ngồi.

Phương Nam có thế giới tên là Phật Quang, Phật hiệu là Vô Lượng Công Ðức Bửu. Cõi ấy có Bồ Tát hiệu Bửu Trượng. Bồ Tát nầy được quang minh chiếu đến liền cùng mười hằng hà sa số chúng đại Bồ Tát đồng đến Ta Bà thế giới trong phường đình báu lớn đầu mặt lạy chưn đức Thích Ca Mâu Ni Phật, đi nhiễu bên hữu một vạn vòng rồi dâng cúng hương hoa vi diệu, ở trước đức Phật nói kệ khen ngợi :

Ðại từ mây pháp tuôn mưa pháp

Thường nói vô thường không vô ngã

Dùng nước bát chánh dứt lửa kiết

Tăng trưởng căn lành cho chúng sanh

Phật quang hay phá tối vô minh

Khuyên dạy chư Bồ Tát phóng dật

Hay đốt giống ái trong tam giới

Hay dạy chơn thiệt đạo phi đạo.

Nói kệ và đảnh lễ Phật xong, chư Bồ Tát nầy dùng thần lực của mình hóa ra tòa báu ở phía Nam của đức Phật  rồi theo thứ tự mà ngồi.

Phương Tây có thế giới tên là Quang Minh, Phật hiệu Phổ Quang. Cõi ấy có Bồ Tát hiệu là Xưng Lực Vương được quang minh chiếu đến liền cùng mười hằng hà sa số chúng đại Bồ Tát đồng đến Ta Bà thế giới trong phường đình báu lớn đầu mặt lạy chưn đức Thích Ca Mâu Ni Phật, đi nhiễu bên hữu một vạn vòng, đem hương hoa vi diệu cúng dường, ở trước đức Phật nói kệ khen rằng :

Phát nguyện lành trong vô lượng kiếp

Do đây được thân vô lậu tịnh

Công hạnh của Phật như hư không

Âm thanh vô ngại khắp mười phương

Như Lai tiếng phạn như sấm vang

Tiếng nầy vô nghiệp cũng vô nhơn

Không nghe không nhận không chúng sanh

Ðại bi cớ chi vang tiếng nói

Chư đại Bồ Tát nầy nói kệ và đảnh lễ chưn đức Phật xong, dùng thần lực của mình ở phía Tây đức Phật hóa ra tòa báu rồi theo thứ tự mà ngồi.

Phương Bắc có thế giới tên Bửu Trang Nghiêm, Phật hiệu là Vô Lượng Công Ðức Trang Nghiêm. Cõi ấy có Bồ Tát hiệu là Ðại Hải Trí. Ðược quang minh chiếu đến, đại Bồ Tát Hải Trí liền cùng mười hằng hà sa số đại Bồ Tát đồng đến Ta Bà thế giới trong phường đình báu lớn đầu mặt lạy chưn đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đi nhiễu bên hữu một vạn vòng, dâng cúng hoa hương rồi nói kệ khen ngợi :

Như Lai vô thượng ánh sáng vàng

Hay phá tối tất cả thế gian

Nếu có chúng sanh gặp sáng nầy

Phiền não liền trừ được an lạc

Dầu ai thân cao quá Ðại Thiên

Thần thông đạo lực vô biên tế

Cũng chẳng thấy được đảnh tướng Phật

Nhiều kiếp Thế Tôn tu hạnh gì.

Nói kệ khen xong, chư Bồ Tát lạy chưn đức Phật rồi dùng thần lực của mình hóa ra tòa báu ở phía Bắc đức Phật rồi theo thứ tự mà ngồi. 

Phương Ðông Nam có thế giới tên Vô Ưu Phật hiệu là Năng Hoại Nhứt Thiết Ám. Cõi ấy có đại Bồ Tát hiệu là Vô Thắng Quang. Ðược quang minh chiếu đến , dại Bồ Tát Vô Thắng Quang liền cùng mười hằng hà sa số chúng đại Bồ Tát đồng đến Ta Bà thế giới trong phường đinh báu lớn đầu mặt lạy chưn đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đi nhiễu bên hữu một vạn vòng dâng cúng hoa hương rồi nói kệ ngợi khen :

Vô lượng cõi vào một lỗ lông

Cũng chẳng nhiễu hại các chúng sanh

Cảnh giới của Phật khó biết được

Thần thông đạo lực chẳng nghĩ bàn

Hay làm một thân thành vô lượng

Mà chơn thân Phật không tăng giảm

Dầu vì chúng sanh hiện thần biến

Mà nội tâm Phật thường bình đẳng.

Nói kệ xong, chư đại Bồ Tát lạy chưn đức Phật rồi dùng thần lực của mình hóa ra tòa báu ở phía Ðông Nam đức Phật rồi theo thứ tự mà ngồi.

Phương Tây Nam có thế giới tên là Thiện Kiến, Phật hiệu là Tâm Bình Ðẳng. Cõi ấy có đại Bồ Tát hiệu là Ðại Bi Tâm. Ðược quang minh chiếu đến, đại Bồ Tát Ðại Bi Tâm liền cùng mười hằng hà sa số chúng đại Bồ Tát đồng đến Ta Bà thế giới trong phường đình báu lớn đầu mặt lạy chưn đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đi nhiễu bên hữu một vạn vòng, đem hương hoa vi diệu cúng dường rồi nói kệ khen rngợi :

Trong vô lượng đời gìn cấm giới

Như mao ngưu quý trọng đuôi mình

Thấy ai phạm giới lòng xót thương

Cũng chẳng kiêu mạn tự khen ngợi

Tâm của Phật như núi Tu Di

Mười phương ma tà không động được

Trí Phật rất sâu không thể lường

Khó nghĩ bàn được như biển cả

Phật tự giải thoát tất cả cõi

Cũng khiến chúng sanh được giải thoát

Ðược quả giải thoát thiệt không khác

Tùy lúc hành đạo có dị biệt.

Nói kệ xong, chư đại Bồ Tát lạy chưn đức Phật rồi dùng thần lực của mình hóa ra tòa báu ở phía Tây Nam đức Phật rồi theo thứ tự mà ngồi.

Phương Tây Bắc có thế giới tên là Hoại Ám, Phật hiệu là Thần Thông Vương. Cõi ấy có đại Bồ Tát hiệu là Bửu Võng. Ðược quang minh chiếu đến, đại Bồ Tát Bữu Võng liền cùng mười hằng hà sa số chúng đại Bồ Tát đồng đến Ta Bà thế giới trong phường đình báu lớn đầu mặt lạy chưn đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đi nhiễu bên hữu một vạn vòng, đem hương hoa vi diệu cúng dường rồi ở trước đức Phật mà nói kệ ngợi khen:

Như Lai Thế Tôn dường ảo huyễn

Mà vì chúng sanh nói sự huyễn

Vì không vật thiệt nên nói huyễn

Không có chúng sanh nói chúng sanh

Như người chiêm bao thấy các cảnh

Thức dậy thiệt ra không cảnh sắc

Vì độ chúng sanh hiện thế gian

Như Lai chơn thiệt không thế gian.

Nói kệ xong, chư đại Bồ Tát đảnh lễ chưn đức Phật rồi dùng thần lực của mình hóa ra tòa báu ở phía Tây Bắc đức Phật rồi theo thứ tự mà ngồi.

Phương Ðông Bắc có thế giới tên là Tịnh Trụ, Phật hiệu là Tâm Ðồng Hư Không. Cõi ấy có đại Bồ Tát hiệu là Vô Biên Tịnh Ý. Ðược quang minh chiếu đến, đại Bồ Tát Vô Biên Tịnh Ý liền cùng mười hằng hà sa số chúng đại Bồ Tát đồng đến Ta Bà thế giới trong phường đình báu lớn đầu mặt lạy chưn đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đi nhiễu bên hữu một vạn vòng dùng hương hoa vi diệu cúng dường rồi ở trước đức Phật nói kệ ngợi khen:

Phật biết các pháp thậm thâm

Thường thích tịnh tĩnh tu vô tưởng

Biết rõ tâm tưởng của chúng sanh

Cũng nói các pháp như hư không

Trụ trong một tâm biết tam thế

Cũng biết rõ rằng các chủng nghiệp

Chẳng sanh tâm tưởng chúng sanh tưởng

Vô lượng đời tu vô tướng tưởng

Nói kệ xong, chư đại Bồ Tát đảnh lễ chưn đức Phật rồi dùng thần lực của mình hóa ra tòa báu ở phía Ðông Bắc đức Phật rồi theo thứ tự mà ngồi.

Hạ phương có thế giới tên là Lạc Quang, Phật hiệu là Bửu Ưu Bát Hoa. Cõi ấy có đại Bồ Tát hiệu là Trang Nghiêm Lạc Thuyết . Ðược quang minh chiếu đến, dại Bồ Tát Trang Nghiêm Lạc Thuyết liền cùng mười hằng hà sa số chúng đại Bồ Tát đồng đến Ta Bà thế giới trong phường đình báu lớn đầu mặt lạy chưn Thích Ca Mâu Ni Phật, đi nhiễu bên hữu một vạn vòng, đem hương hoa vi diệu cúng dường rồi ở trước đức Phật nói kệ khen ngợi: 

Vô lượng bực trí chơn Phật tử

Số như vi trần trong mười phương

Ở vô lượng kiếp học hỏi Phật

Chẳng hết nghĩa một chữ của Phật

Trí huệ Như Lai rộng vô biên

Công đức tổng trì cũng như vậy

Danh xưng lực thế vô biên tế

Dường như đại hải ở mười phương

Nói kệ xong, chư đại Bồ Tát đảnh lễ chưn đức Phật rồi dùng thần lực của mình hóa ra tòa báu ở phương dưới đức Phật rồi theo thứ tự mà ngồi.

Thượng phương có thế giới tên là Anh Lạc Trang Nghiêm, Phật hiệu là Ðại Danh Xưng. Cõi ấy có đại Bồ Tát hiệu là Nhứt Thiết Pháp Thần Thông Vương. Ðược quang minh chiếu đến, đại Bồ Tát Nhứt Thiết Pháp Thần Thông Vương liền cùng mười hằng hà sa số chúng đại Bồ Tát đồng đến Ta Bà thế giới trong phường đình báu lớn đầu lạy chưn đức Thích Ca Mâu Ni Phật, đi nhiễu bên hữu một vạn vòng, đem hương hoa vi diệu cúng dường rồi ở trước đức Phật nói kệ ngợi khen:

Thân Phật thân nghiệp vô biên tế

Ý nghiệp khẩu nghiệp cũng vô biên

Chỉ Phật biết được Phật ba nghiệp

Người khác chẳng biết như hư không

Như lai đầy đủ vô sư trí

Vì vậy chúng sanh gọi Ðại Sư

Chư Phật pháp giới chẳng nghĩ bàn

Thành đạo chuyển pháp nhập Niết Bàn.

Nói kệ xong, chư đại Bồ Tát đảnh lễ chưn đức Phật rồi dùng thần lực của mình hóa ra tòa báu ở phương trên đức Phật rồi theo thứ tự mà ngồi.

Trong khoảng một niệm thời gian, vô lượng chư đại Bồ Tát ở mười phương thế giới đồng thời vân tập trong phường đình báu lớn.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn từ tam muội an tường dậy, tiếng dặng hắng của đức Phật vang suốt mười phương, tất cả chúng sanh đều được nghe, nghe rồi đều sanh lòng kính tin Phật Pháp và Tăng Tam bửu.

Thế    giới mười phương có bao nhiêu Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, hoặc là người hoặc hàng phi nhơn nghe tiếng của đức Phật rồi thì thân tâm của họ liền tịch tĩnh. Do sức oai thần công đức của Phật nên họ đều ngó thấy những thềm bực bảy báu, trong khoảng một niệm họ đều được lên thềm báu vào trong phường đình báu lớn theo vị thứ của mình mà ngồi.

Nghe thanh âm của đức Phật, tất cả chư Thiên: Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, Phạm Vương Thiên, Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang Thiên, Quang Âm Thiên, Thiểu Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên, Phước Ái Thiên, Phước Sanh Thiên, Vô Tưởng Thiên, Quảng Quả Thiên, , Vô Phiền Thiên, , Vô Nhiệt Thiên, Thiện Kiến Thiên, Thiện Hiện Thiên, Sắc Cứu Cánh Thiên, trong thời gian một niệm đồng đến phường đình báu lớn lễ Phật cúng dường hóa ra tòa báu rồi theo thứ tự mà ngồi.

Thấy đại chúng đã tập họp xong, đức Thế Tôn phóng bạch hào tướng quang giữa hai chặng mày. Quang minh nầy có tên là Thị Bồ Tát Lực, xoay quanh đại chúng Bồ Tát bảy vòng rồi nhập vào đảnh đầu chư Bồ Tát.

Trong đại hội có một đại Bồ Tát hiệu là Chư Pháp Tự Tại Công Ðức Hoa Tử nhập tam muội tên là Anh Lạc Trang Nghiêm. Do sức tam muội nầy hóa ra tòa sư tử cao bằng tám vạn ức cây đa la, tòa nầy bảy báu trang nghiêm trải các thứ danh hoa, hay làm cho người thấy phải ưa thích và thâm tâm đều thanh tinh.

Dùng sức tam muội hóa hiện tòa sư tử như vậy rồi, đại Bồ Tát Chư Pháp Tự Tại Công Ðức Hoa Tử xuất định an tường đứng dậy đầu mặt lạy chưn đức Phật, cung kính chắp tay ở trước đức Phật nói kệ ngợi khen:

Ánh sáng nhựt nguyệt phá hiện tối

Phật quang hay phá tối ba đời

Như Lai đầy đủ sức thần thông

Sáng hơn tất cả ánh sáng trời

Phật rõ pháp giới không tri giác

Như trăng trong nước không khứ lai

Không sanh không thọ không tác giả

Chơn thiệt biết rõ dạy lại người

Biết trong sắc tâm không sắc tâm

Phương tiện dạy người nói sắc tâm

Thần thông Như Lai dường ảo huyễn

Biết các pháp giới cũng ảo huyễn

Tất cả chúng sanh tâm thường tịnh

Có lúc khách trần phiền não nhiễm

Chư Phật Như Lai được giải thoát

Thị hiện thần thông như huyễn ảo

Hư không không nơi không chỗ ở

Tâm Phật rỗng không cũng như vậy

Vì chúng nên Phật lên tòa ngồi

Nói pháp cam lộ như chư Phật

Tất cả đại chúng không khứ lai

Không có người nói nghe nhận lấy

Các pháp thảy đều như hư không

Nguyện Phật tuyên nói pháp chơn thật

Thế Tôn nhận ngồi tòa tôi hiện

Nguyện vì chúng sanh rống sư tử

Thương người nên phát phạm âm thanh

Ðèn sáng trí huệ phá si tối

Ðại chúng mười phương đến nghe pháp

Ðều đã tập họp phường đình nầy

Nguyện Phật ban cho đại pháp thí

Phá khối nghèo cùng vô lượng đời.

Vì lòng đại bi, đức Thhế Tôn lên ngồi trên tòa sư tử báu của đại Bồ Tát Chư Pháp Tự Tại Công Ðức Hoa Tử dâng hiến. Ðức Thế Tôn muốn nói pháp môn vô ngại sở hành của Bồ Tát. Hành pháp môn nầy sẽ được đầy đủ Phật pháp thập lực, tứ vô sở úy, nhập pháp môn tất cả pháp tự tại đà la ni, nhập pháp môn tứ vô ngại trí, nhập pháp môn đại thần thông bất thối chuyển pháp luân, bất thối trụ xứ nhiếp tất cả thừa, nhiếp tất cả pháp giới chơn thiệt pháp giới, vô phân biệt pháp giới, biết rõ tâm căn của tất cả chúng sanh, nhập pháp giới chơn thiệt kiên cố, hay phá tất cả tứ ma, điều phục tất cả ác kiến phiền não, được bất cộng thiện quyền pbương tiện, được tâm bình đẳng vô nhị, được chỗ mà tất cả chư Phật đồng vào, chỗ không chướng ngại vì nói tất cả pháp chơn thiệt, tất cả pháp phi giác phi phi giác, vì nói mười hai nhơn duyên bình đẳng, vì dầy đủ trí huệ đại trang nghiêm, vì trang nghiêm thân Phật và âm thanh Phật, vì ý niệm vô tận hiện hành trí huệ, vì diễn nói tứ Thánh đế chơn thiệt hay làm cho hàng Thanh Văn thân tâm thanh tịnh, hay làm cho hàng Bích Chi Phật phát khởi đại trí, hay làm cho hàng Ðại thừa Bồ Tát được tự tại nơi tất cả pháp, vì nói rộng công đức của chư Phât, vì giải nói chỉ dạy tất cả pháp, vì nói công đức lớn rộng của chư đại Bồ Tát, vì phá rách lưới nghi của chúng sanh, vì dẹp trừ tất cả tà luận, vì tăng trưởng chánh pháp của Như Lai, vì hiển bày thần lực của Phật cho chúng sanh thấy. Vì tất cả nhơn duyên như vậy mà đức Thế Tôn lên ngồi bửu tòa sư tử.

Bấy giờ có đại Bồ Tát hiệu là Bửu Trượng thừa thần lực của đức Phật mà nhập tam muội Phật anh lạc trang nghiêm, do sức tam muội nầy làm cho đại chúng đều được các thứ anh lạc trang nghiêm.

Thừa thần lực của đức Phật, đại Bồ Tát Xưng Lực Vương nhập liên hoa tam muội, do sức tam muội nầy làm cho đại chúng đều được hoa đẹp cúng dường đức Phật và chư đại Bồ Tát.

Thừa thần lực của đức Phật, đại Bồ Tát Ðại Hãi Huệ Trí nhập diệu hương tam muội, do sức tam muội nầy làm cho đại chúng đều được có hương thơm cúng dường Phật và chư đại Bồ Tát.

Thừa thần lực của đức Phật, đại Bồ Tát Bửu Vỏng cũng nhâp quang minh tam muội, do sức tam muội nầy làm cho đại chúng đều được than mình có ánh sáng đẹp.

Thừa thần lực của đức Phật, đại Bồ Tát Bi Tâm nhập vô thuấn tam muội, do sức tam muội nầy làm cho đại chúng chiêm ngưỡng đức Thế Tôn chẳng hề chớp mắt.


 

Thừa thần lực của đức Phật, đại Bồ Tát Vô Biên Tịnh Ý nhập hỉ lạc tam muội, do sức tam muội nầy làm cho đại chúng vui thích nghe pháp.

Thừa thần lực của đức Phật, đại Bồ Tát Trang Nghiêm Lạc Thuyết nhập tịch tĩnh ý tam muội, do sức tam muội nầy làm cho đại chúng xa lìa ngũ cái.

Thừa thần lực của đức Phật, đại Bồ Tát Nhứt Thiết Pháp Thần Túc Vương nhập bất vong tam muội, do sức tam muội nầy làm cho đại chúng chuyên nhớ Bồ đề chẳng quên mất.

Thừa thần lực của đức Phật, Dũng Kiện đại Bồ Tát nhập vô thắng tam muội, do sức tam muội nầy đều làm cho đại chúng xô dẹp các ma.

Thừa thần lực đức Phật, đại Bồ Tát Phá Ma nhập hoại ma tam muội, do sức tam muội nầy mà một ức vị ma vương trong Ðại Thiên thế giới được vời đến tập họp tại phường đình báu lớn, tất cả một ức vị ma vương đầu mặt lạy chưn đức Phật, cung kính chắp tay đồng bạch rằng: « Nguyện đức Như Lai vì các chúng sanh mà khai thị pháp môn cam lộ. Chúng tôi nhơn sức oai thần của đại Bồ Tát Phá Ma nên sẽ được xa lìa tất cả nghiệp ma không còn có lòng trở ngại đại chúng ».

Ðức Phật nói: « Lành thay lành thay ! Các thiện nam tử, nay các ngươi đã lìa được nghiệp ma, do nhơn duyên nầy ở đời vị lai các người cũng lại được lìa tất cả nghiệp ma. Nầy các thiện nam tử ! Ví như trong nhà tối trăm năm, được các đèn sáng thì tất cả tối tăm đều mất. Cũng vậy, từ nhiều kiếp các ngươi bị vô minh làm đen tối, nay thì được phá tan mê lầm mà an trụ trong bửu quang nhựt nguyệt tín giới trí huệ thiền định. Các ngươi hôm nay thỉnh Phật thuyết pháp, do nhơn duyên nầy các ngươi sẽ phá được tối vô minh mà làm đèn sáng trí huệ cho các chúng sanh”.

Bấy giờ trong đại chúng có một đại Bồ Tát hiệu là Pháp Tự Tại Vương bạch rằng : “ Bạch đức Thế Tôn ! Cảnh giới của đức Như Lai chẳng thể nghĩ bàn. Tại sao ? Vì đức Như Lai có tâm muốn thuyết pháp mà có thể làm cho tất cả đại chúng vân tập vì Bồ đề mà làm đại trang nghiêm đại pháp thần thông, vô lượng thế gian được đại danh xưng thân tâm tịch tĩnh được đại giải thoát và được pháp giới bất khả tư nghị, được mười phương chư Phật ngợi khen, đầy đủ tất cả mười Ba la mật, thành tựu thông đạt thiện quyền phương tiện, hay phá rách lưới nghi của tất cả các ma, hay dứt tất cả tà luận của các chúng sanh, hay khéo phân biệt tất cả pháp giới, đến được đầy đủ trí huệ vô ngại, đầy đủ trí huệ niệm ý hành, đầy đủ sức dũng kiện, đầy đủ bốn trí vô ngại, khéo biết các căn lợi hay độn của các chúng sanh, biết rõ chúng sanh giới mà tùy ý thuyết pháp, thường hay tuyên nói pháp giới thanh tịnh, khéo hiểu tất cả ngữ ngôn của các phương thế gian, hay được tất cả phạm âm thanh tịnh, thành tựu đầy đủ tâm đại từ bi, các tà thuyết dị kiến không làm lay động được, như núi Kim Cương không gì phá hoại được, trọn đủ ba tướng, dựng nên tràng pháp, đã qua khỏi sông sâu mười hai nhơn duyên, đã dứt hai biên kiến, hay điều phục đại chúng, trong vô lượng kiếp được khối pháp bất khả tư nghị, hay trị lành các bịnh như đại y vương, làm cho đại chúng nghe pháp thậm thâm không kinh sợ, đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươì vẻ đẹp trang nghiêm thân đã thành tựu viên mãn ba mươi bảy phẩm trợ pháp Bồ đề và đầy đủ tám giải thoát, thân khẩu và ý đã thuần thiện không còn tạp xen có thể khiến tất cả chúng sanh đều mến thích đến nghe pháp, các pháp thế gian không ô nhiễm được, thường thọ an lạc, thường trụ pháp giới, ban cho pháp bửu, với pháp không nhàm, với pháp có không hề nhiễm dính như cánh hoa sen không thấm nước, sáng hơn tất cả nhựt nguyệt đèn châu, trí sâu hơn biển, nối tánh Tam bửu, điều phục chúng sanh giới, hay khai phát Phật tạng, hộ trì Phật pháp, đầy đủ vô lượng công đức trí huệ. Trong vô lượng kiếp tu tập trang nghiêm vô lượng công đức, thường muốn chứng được nhứt hạnh nhứt tâm nhứt sắc nhứt xứ. Chư Bồ Tát có đủ công đức như vậy nay đều đến tập họp nơi pháp hội nầy. Nguyện đức Như Lai nói pháp môn vô ngại công hạnh của Bồ Tát để làm lợi ích cho chúng Bồ Tát quá khứ vị lai và hiện tại, để cho hàng sơ phát tâm chẳng thối chuyển, hàng phát tâm lâu thì được tăng trưởng, hàng hành đạo Bồ để thì được ý thanh tịnh, hàng bất thối Bồ Tát thì học pháp Phật, hàng bổ xứ Bồ Tát thì được anh lạc trang nghiêm, hàng tối hậu thân Bồ Tát thì được Vô thượng Bồ đề, chúng sanh định tánh thì thêm lớn nhơn duyên, kẻ chưa định tánh thì làm nhơn duyên kẻ chưa vào Phật pháp thì làm cho họ vào Phật pháp, kẻ vào Phật pháp thì thêm kính Phật pháp, vì người thích ba thừa mà nói nhứt thừa, ban cho thế gian phước lạc trời người.

Bạch đức Thế Tôn ! Như Lai xuất thế có bao nhiêu sự bất khả tư nghị như vậy?

Bạch đức Thế Tôn ! Nay trong đại chúng nầy, mỗi vị Bồ Tát đều có thể thị hiện các đại thần thông. Vì vậy nên chư Phật và chư Bồ Tát đều chẳng thể nghĩ bàn.

Bạch đức Thế Tôn ! Tại sao các chúng sanh vô minh ái nặng dầu được thấy đại thần thông của chư Bồ Tát như vậy mà vẫn sanh lòng ty hạ ham pháp Thanh Văn hay pháp Duyên Giác.

 Bạch đức Thế Tôn ! Lúc mới phát tâm Bồ đề, Bồ Tát đã hơn hàng Thanh Văn và Duyên Giác.

Bạch đức Thế Tôn ! Ví như có người vứt bỏ ngọc lưu ly mà lượm lấy thủy tinh. Cũng vậy, chúng sanh bỏ Ðại thừa mà thích thừa Thanh Văn và Duyên Giác. Nếu có chúng sanh đã phát hay muốn phát tâm Vô thượng Bồ đề thì sẽ được tất cả công đức thần thông như đã nói ở trên”.

Nghe Pháp Tự Tại Vương đại Bồ Tát bạch đức Phật xong, trong pháp hội có ba mươi ức na do tha trăm ngàn muôn ức chúng sanh Trời và Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn đã biết chư Bồ Tát đã vân tập, đức Phật nghĩ rằng hôm nay các thiện nam tử nầy đều muốn được nghe thiệt nghĩa của các pháp, họ đều có thể thọ trì tạng pháp thậm thâm của Phật, họ đều muốn nghe pháp môn vô ngại công hạnh của Bồ Tát.

Nghĩ như vậy, đức Phật liền phóng bạch hào tướng quang giữa hai chặng mày. Quang minh nầy có tên là vô sở úy nhiễu bên hữu quanh chư đại chúng đủ bảy vòng rồi nhập vào đảnh đầu của đại Bồ Tát Ðà La Ni Tự Tại Vương.

Thừa thần lực của đức Phật, đại Bồ Tát Ðà La Ni Tự Tại Vương hóa ra lọng báu lớn khắp đại Thiên thế giới trang nghiêm với bảy thứ báu. Lọng báu nầy che ngay trên pháp tòa của đức Phật.

Hóa lọng báu lớn xong, Ðà La Ni Tự Tại Vương đại Bồ Tát đầu mặt lạy chưn đức Phật rồi quỳ dài chắp tay cung kính nói kệ tán thán :

Như Lai tự tại tất cả pháp

Phật quang hay phá tối thế gian

Thế Tôn Phật nhãn không chướng ngại

Hay thấy nghĩa chơn thiệt các pháp

Ðầy đủ vô lượng các công đức

Không thầy tự ngộ các pháp giới

Như Lai phóng quang vì chúng sanh

Nhập vào đầu tôi có cớ gì

Trước đây trí biết chưa được tỏ

Mắt đà la ni tôi cũng vậy

Phật quang nay nhập vào thân tôi

Làm tôi biết rõ các pháp giới

Lại thêm thân tâm được thanh tịnh

Thọ vui vô thượng vô biên lượng

Nay tôi đã biết cảnh giới Phật

Cũng được lạc thuyết vô ngại biện

Khó được hầu gần mười phương Phật

Người gặp cũng không thờ làm thầy

Nay vì nương thần lực của Phật

Muốn hỏi chút pháp lợi chúng sanh

Nhơn duyên gì phát Bồ đề tâm

Còn có duyên gì Phật xuất thế

Duyên gì phóng quang chiếu mười phương

Còn duyên gi hiện thần thông lớn

Duyên chi Phật vì chúng thọ ký

Nguyện Phật chỉ dạy cho chúng rõ

Nay đại chúng này bực thắng thượng

Có thể thọ trì Phật pháp giới

Chúng đây không ma không nghiệp ma

Xin Phật khai thị pháp tạng Phật

Trí tôi thiển cận có mé bờ

Ðâu có khả năng thưa thỉnh Phật

Nay hỏi Như Lai vô biên trí

Làm sao biết được các phương tiện

Nguyện Phật dạy bảo hảng đệ tử

Tôi học đã được pháp tự tại

Ðã có khả năng thuyết đại pháp

Sẽ báo ơn chư Phật mười phương.

Bạch đức Thế Tôn ! Chư Phật Như Lai bất khả tư nghị, công hạnh Bồ Tát không có ngằn mé, vì vậy nên nay tôi kính hỏi đấng Như Lai Vô thượng Pháp Vương đại từ đại bi, để đem lại sự lợi ích cho chúng sanh về pháp thậm thâm.

Thế nào gọi là Bồ Tát hạnh ? Dùng gì làm anh lạc trang nghiêm mà công hạnh của Bồ Tát được thanh tịnh ? Làm sao có thể phá được tối ngu si ? Làm sao có thể dứt hết lòng nghi lầm ? Bồ Tát vì chúng sanh tu tâm từ bi thế nào ? Bồ Tát ùng hộ chúng sanh thế nào ? Thế nào là Bồ Tát hay tu Bồ Tát nghiệp, thiện nghiệp và bất thối nghiệp ? Nguyện đức Như Lai xót thương tuyên dạy cho. Ðại chúng trong pháp hội nầy đều có lợi căn trí huệ có thể hiểu lời Phật. Có thể biết pháp giới, có thể thấu đạt pháp môn vô ngại sở hành của Bồ Tát, có thể phá hoại tất cả ma và nghiệp ma, có thể trừ hết lòng nghi, có thể hiểu cảnh giới thậm thâm của Phật, có thể biết chúng sanh giới và chúng sanh tâm tánh, có thể thấy vô lượng chư Phật thế giới, có thể hộ trì Như Lai vô thượng chánh pháp, có thể được đại tự tại nơi tất cả pháp ».

Ðức Thế Tôn khen Ðà La Ni Tự Tại Vương đại Bồ Tát rằng: Lành thay lành thay ! Thiện nam tử có thể hỏi đức Như Lai về những nghĩa thậm thâm, có thể hay thật hành vô lượng Phật hạnh, ông có thể biết hỏi đức Phật như vậy. Nay ông nên lắng nghe, đức Như Lai sẽ vì ông mà tuyên nói nếu Bồ Tát thành tựu đầy đủ những công hạnh như vậy thì được đại tự tại nơi tất cả pháp.

Nầy thiện nam tử ! Bồ Tát có bốn anh lạc trang nghiêm, đó là giới anh lạc trang nghiêm, tam muội anh lạc trang nghiêm, trí huệ anh lạc trang nghiêm và đà la ni anh lạc trang nghiêm.

Giới anh lạc trang nghiêm có một thứ, đó là đối với chúng sanh không có lòng làm tổn hại, nếu Bồ Tát không có tâm ác hại thì tất cả chúng sanh đều vui mừng thích thấy. Còn có hai thứ, đó là đóng bít ác đạo và mở rộng cửa lành. Còn có ba thứ, đó là thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh và ý thanh tịnh. Còn có bốn thứ, đó là sở cầu đều được, sở nguyện đầy đủ, sở nguyện thành tựu, chỗ muốn thì đều có thể làm được. Còn có năm thứ, đó là tín, giới, định, niệm và huệ. Còn có sáu thứ, đó là chẳng phá giới, chẳng lậu giới, chẳng tạp giới, chẳng hối giới, tự tại giới, và vô lậu giới. Còn có bảy thứ, đó bảy thanh tịnh : bố thí thanh tịnh, nhẫn nhục thanh tịnh, tinh tiến thanh tịnh, thiền định thanh tịnh, trí huệ thanh tịnh, phương tiện thanh tịnh và thiện phương tiện thanh tịnh. Còn có tám thứ, đó là tám cụ túc : vô tác cụ túc, địa cụ túc, bất vong tâm cụ túc. bất huởn cụ túc, chư căn cụ túc. Phật thế cụ túc, ly nạn cụ túc và thiện hữu cụ túc . Còn có chín thứ, đó là bất động, bất úy, định trí, tịch tĩnh, chí tâm, thanh lương, kiết huởn, điều tâm và an trụ điều phục địa. Còn có mười thứ, đó là thân thanh tịnh vì có đủ ba mươi hai tướng tốt, khẩu thanh tịnh vì lời nói không hai, ý thanh tịnh vì đã giải thoát, điền thanh tịnh vì làm cho chúng sanh đầy đủ phước đức, tâm thanh tịnh vì điều phục chúng sanh, cõi nước thanh tịnh vì giáo hóa chúng sanh, danh hiệu thanh tịnh vì được công đức Như Lai, huệ thanh tịnh vì có đại thần thông, phương tiện thanh tịnh vì  phá các ma chúng, và giới thanh tịnh vì có đủ pháp bất cộng. Nầy thiện nam tử, các sự như vậy gọi là giới anh lạc trang nghiêm.

Nầy thiện nam tử ! Tam muội anh lạc trang nghiêm có một thứ, đó là vì chúng sanh mà tu tập từ tâm. Còn có hai thứ, đó là chất trực và nhu nhuyến. Còn có ba thứ, đó là chẳng hư dối, chẳng thô bạo và chẳng tà siểm. Còn có bốn thứ, đó là chẳng tham ái, chẳng sân hận, chẳng bố úy và chẳng si mê. Còn có năm thứ, đó là xa lìa năm cái chướng tam muội. Còn có sáu thứ, đó là tu tập lục niệm tam muội. Còn có bảy thứ, đó là tu tập thất giác chi tam muội. Còn có tám thứ, đó là tu tập bát chánh đạo tam muội. Còn có chín thứ, đó là Bồ Tát tu tập tâm Bồ dề và tâm đại từ bi ở nơi tất cả chúng sanh mà tu tập niệm tâm xa lìa tất cả pháp ác dục có giác có quán tịch tĩnh hỉ lạc được Sơ thiền , xa lìa giác quán nội tâm được hỷ lạc chí tâm tư duy vô giác vô quán định sanh hỷ lạc được đệ Nhị thiền, lìa hỷ tu xả đầy đủ niệm tâm không có phóng dật thân thọ an lạc được đệ Tam thiền, xa lìa khổ lạc diệt trừ tâm ưu hỷ, chẳng phải khổ chẳng phải lạc tu tập xả niệm tịch tĩnh, niệm dược đệ Tứ thiền, xa lìa sắc tướng tu tập vô lượng không tưóng, xa lía không tướng tu vô lượng Thức tướng, xa lìa thức tướng tu Vô sở hữu tướng, xa lìa vô sở hữu tướng tu Phi tưởng phi phi tưởng tướng và mặc dầu chưa thành tựu trí thiện quyền phương tiện, mà dùng sức tam muội giáo hóa chúng sanh. Còn có mười thứ, đó là quán pháp không có sai lầm, thành tựu đầy đủ xa ma tha, tinh tiến không ngừng nghỉ, khéo biết rõ thời tiết, chí tâm thọ trì pháp lành, tâm tịch tĩnh, quán thân vô tướng, thường quán pháp giới và tâm được tự tại và chứng được Thánh tánh. Ðây gọi là tam muội anh lạc trang nghiêm.

Nầy thiện nam tử ! Trí huệ anh lạc trang nghiêm có một thứ, đó là tâm không còn nghi. Còn có hai thứ, đó là xa lìa tâm nghi và xa lìa tâm sân. Còn có ba thứ, đó là xa lìa vô minh, phá vỏ vô minh và làm ánh sáng lớn. Còn có bốn thứ, đó là biết khổ, dứt tập, chứng diệt và tu hành đạo phẩm. Còn có năm thứ, đó là giới tụ thanh tịnh, định tụ thanh tịnh, huệ tụ thanh tịnh, giải thoát tụ thanh tịnh và giải thoát tri kiến tụ thanh tịnh. Còn có sáu thứ, đó là thanh tịnh bố thí Ba la mật có ba : một là nội thanh tịnh quán pháp như huyễn, hai là chúng sanh thanh tịnh quán pháp như mộng và ba là Bồ đề thanh tịnh chẳng cầu quả báo. Thanh tịnh giới Ba la mật có ba : một là quán thân như bóng, hai là quán khẩu nhu vang và ba là quán tâm như huyễn. Thanh tịnh nhẫn Ba la mật có ba : một là nghe chê chẳng sân, hai là nghe khen chẳng mừng và ba là lúc bị chặt chém giết hại thường có thể quán pháp giới. Thanh tịnh tinh tiến Ba la mật có ba : một là chẳng tưởng, hai là vững chắc và ba là chẳng thấy pháp có tướng. Thanh tịnh thiền Ba la mật có ba : một là chẳng trụ trước các pháp, hai là tâm chẳng thối chuyển, ba là duyên cảnh thanh tịnh. Thanh tịnh phương tiện Ba la mật có ba: một là nhiếp lấy chúng sanh để cho được giải thoát, hai là thanh tịnh đà la ni để thọ trì chánh pháp và ba là sở nguyên thanh tịnh để tịnh Phật quốc độ. Còn có bảy thứ trí huệ anh lạc trang nghiêm, đó là tu Tứ niệm xứ chẳng lấy chẳng chấp, tu Tứ chánh cần chẳng xuất chẳng diệt, tu Tứ thần túc thân tâm thanh tịnh, tu Ngũ căn biết căn không có căn, tu Ngũ lực hay phá phiền não, tu Bồ đề phần biết pháp giới chơn thiệt và tu tập Thánh đạo không có khứ lai. Còn có tám thứ, đó là tu tam muội chánh định để được rốt ráo thanh tịnh, tu tri để phá si ám, tu trí biết ngũ ấm để biết pháp tu, tu trí biết thập bát giới để hiểu pháp giới đồng hư không, tu trí biết thập nhị nhập để biết pháp tánh bình đẳng, tu trí biết Mười hai nhơn duyên để quán vô ngã và không có ngã sở, tu trí biết tứ Thánh đế để phá bốn điên đảo kiến và tu trí phân biệt biết pháp giới để biết chơn thiệt vậy. Còn có chín thứ, đó là quán vô thường, quán vô thường khổ, quán khổ vô ngã, quán ăn bất tịnh, quán thế gian không gì đáng vui thích, quán trong vòng sanh tử có nhiều lỗi họa, quán giải thoát,  quán lìa tham và quán tận diệt vậy. Còn có mười thứ, đó là quán các pháp như ảo huyễn,  quán các pháp như mộng, quán các pháp như dương diệm, quán các pháp như âm vang, quán các pháp như thân cây chuối, quán các pháp như mặt trăng trong nước, quán các pháp như bóng, quán pháp giới không có tăng giảm, quán các pháp không có đi hay ở và quán các pháp vô vi không có sanh diệt vậy. Ðây là huệ anh lạc trang nghiêm.

Nầy thiện nam tử ! Ðà la ni anh lạc trang nghiêm có một thứ, đó là chẳng mất niệm tâm. Còn có hai thứ , đó là trước thì ghi nhận và sau thì rốt ráo có thể giữ vững. Còn có ba thứ, đó là biết nghĩa, biết chữ  và biết nói. Còn có bốn thứ, đó là nói lời chơn chánh, nói lời rõ ràng, nói lời vô ngại và nói lời không lầm lỗi. Còn có năm thứ đó là ngũ y chỉ : y chỉ nơi nghĩa chẳng y chỉ nơi chữ, y chỉ nơi trí chẳng y chỉ nơi thức, y chỉ kinh liễu nghĩa mà chẳng y chỉ nơi kinh bất liễu nghĩa, y chỉ nơi chánh pháp mà chẳng y chỉ nơi người và y chỉ xuất thế chẳng y chi thế tục. Còn có sáu thứ, đó là đúng như lời nói chơn chánh mà làm, lời nói ra đều thành thiệt, phát ngôn được người thích nghe, lời nói đầy ý xót thương, lời nói sanh pháp lành và lời nói hạp thời tiết. Còn có bảy thứ, đó là lời nói lợi ích, lời nói trang nghiêm, lời nói vô ngại, lời nói không trệ, lời nói không có hai, lời nói đã có biết trước và lời nói rõ ràng rành rẽ. Còn có tám thứ, đó là biết lời nói của các địa phương, biết lời nói của các quỷ thần, biết lời nói của chư Thiên, biết lời nói của các loài Rồng, biết lời nói của Thần Càn Thát Bà, biết lời nói của hàng A Tu La, biết lời nói của hàng Kim sí điểu và biết lời nói của các loài súc sanh. Còn có chín thứ, đó là lời nói không e sợ, lời nói không rụt rè, lời nói không vấp váp, biết lời nói giải thoát, biết lời nói đúng pháp, biết lời nói rộng rãi, biết lời nói theo thứ tự, biết lời nói thuyết vô thường và lời nói không cùng tận. Còn có mười thứ, đó là lời nói phá lưới nghi, lời nói khai thị về pháp giới, lời nói khai thị về pháp môn, lời nói mở mang trí huệ, lời nói phá mê tối, lời nói hiểu mỗi mỗì chữ, lời nói khen ngợi Phật, lời nói quở trách phiền não, lời nói phân biệt căn tánh lợi hay độn và lời nói vi diệu khai thị công đức của đức Phật. Ðây là đà la ni anh lạc trang nghiêm vậy ».

Ðức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa nầy nên nói tụng rằng:

Bốn anh lạc trang nghiêm

Hay trang nghiêm Ðại thừa

Là giới định trí huệ

Và đà la ni vô thượng

Làm cho ba nghiệp tịnh

Mọi người đều mến thích

Dứt hẳn ba ác đạo

Gọi là giới anh lạc

Ðược đầy đủ sở nguyện

Ðược thân người thân trời

Hay tu tập tinh tiến

Gọi là giới anh lạc

Hay tu định vô thượng

Ðược hai thứ giải thoát

Thấy Niết bàn vô thượng

Gọi là giới anh lạc

Giới chẳng phá chẳng lậu

Vô thượng giới chẳng tạp

Hay được đại tự tại

Giới anh lạc trang nghiêm

Giới tịnh hay tịnh thí

Giới tịnh hay tịnh nhẫn

Giới tịnh ngũ độ tịnh

Giới anh lạc trang nghiêm

Tịnh giới tịnh ba cõi

Giới tịnh bất phóng dật

Vô úy tâm chẳng hối

Gọi là giới anh lạc

Giới định được Thánh tánh

Cũng làm thân tâm tịnh

Nhập được vô biên định

Gọi là giới anh lạc

Chẳng kính sợ chẳng động

Chắc được cõi thanh tịnh

Hay dứt dây phiền não

Gọi là giới anh lạc

Hay điều người khó điều

Hay được danh tiếng lớn

Trang nghiêm tâm tự tại

Gọi là giới anh lạc

Hay làm đúng như lời

Hay sạch miệng bốn nghiệp

Xa lìa các phiền não

Giới anh lạc trang nghiêm

Hay thanh tịnh Phật độ

Hay điều phục chúng sanh

Hay tu đại từ bi

Gọi anh lạc trang nghiêm

Chẳng làm các nghiệp ác

Tu các hạnh Bồ Tát

Ðược thập lực vô úy

Gọi anh lạc trang nghiêm

Hay nghiêm đại Niết bàn

Hay được đại nhơn quả

Từ tâm khắp chúng sanh

Gọi anh lạc trang nghiêm

Hay lìa lòng tham dối

Tu tập bốn nhiếp pháp

Dứt ái sân bố si

Gọi anh lạc trang nghiêm

Hay phá năm cái chướng

Tu tập đại niệm tâm

Trợ đạo chẳng phóng dật

Gọi anh lạc trang nghiêm

Ðầy đủ hai phước trí

Ðúng pháp tu duy nghĩa

Lạc hỷ trụ tịch tĩnh

Gọi anh lạc trang nghiêm

Với pháp không có nghi

Cũng không tâm si loạn

Chơn thìệt hiểu tứ đế

Gọi anh lạc trang nghiêm

Trì giới tâm không chấp

Cũng chẳng lòng kiêu mạn

Chẳng thấy giới người giữ

Gọi anh lạc trang nghiêm

Vô thượng huệ tịnh định

Chẳng biết hai tịnh huệ

Hay rõ biết ba cõi

Gọi anh lạc trang nghiêm

Ý tịnh chẳng kiêu mạn

Thấy bất tịnh chẳng khinh

Biết pháp bất khả thuyết

Gọi anh lạc trang nghiêm

Huệ hay trang nghiêm trí

Trí cũng trang nghiêm huệ

Tự tha Bồ đề tịnh

Gọi anh lạc trang nghiêm

Biết pháp như mộng huyễn

Chẳng nói pháp không có

Khéo tùy thuận thế gian

Gọi anh lạc trang nghiêm

Huệ hay trang nghiêm giới

Giới hay trang nghiêm huệ

Thân khẩu Bồ đề tịnh

Gọi anh lạc trang nghiêm

Thấy pháp như thủy nguyệt

Cũng như nắng lúc nóng

Thuyết pháp xem như vang

Như thành Càn Thát Bà

Phi pháp chẳng làm pháp

Gọi là huệ anh lạc

Huệ hay trang nghiêm nhẫn

Nhẫn cũng trang nghiêm huệ

Thân khẩu Bồ đề tịnh

Gọi anh lạc trang nghiêm

Pháp giới chẳng tăng giảm

Biết rồi điều chúng sanh

Chí tâm quán pháp thân

Gọi anh lạc trang nghiêm

Huệ hay trang nghiêm c