Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Kinh Điển Phật Giáo


......... .


KINH ĐẠI BỬU TÍCH

Việt dịch:  Thích Trí Tịnh

--- o0o --- 

 

Tập 6

 

XXXVI

PHÁP HỘI
THiÊN TRỤ Ý THIÊN TỬ
THỨ BA MƯƠI SÁU
 

Hán dịch : Tùy : Pháp Sư Ðạt  Ma Cấp Ða

Việt dịch: Việt Nam Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh

 

PHẨM

KHAI TRIỆT NGHĨA

THỨ HAI

 

Trong chúng đại tập bấy giờ có các vị trời thượng thủ đó là Thiện Trụ Ý Thiên Tử, Thiên Tử, Thiện Tịch Thiên Tử, Tàm Quý Thiên Tử, cùng chín mươi sáu ức chư Thiên Tử như vậy câu hội, tất cả đều hành đạo Bồ Tát, đều cùng đến chỗ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.  Ðến ngoài cửa thất bửu nhiễu bảy vòng rồi rải hoa trời mạn đà la che khắp hư không cao mười do tuần thành lưới hoa hình như bửu tháp.  Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cầm hoa đài nầy cúng dường đức Thế Tôn, cúng dường xong, Ngài dùng thần lực khiến Ðại Thiên thế giới trong tất cả quốc độ hư không lưới hoa giăng khắp, quang minh của hoa ấy chiếu khắp cõi Ðại Thiên đều rất chói sáng lại còn mưa thêm hoa trời mạn đà la.

Bấy giờ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nhàn nhã an tường ra khỏi tư thất lại dùng thần lực khiến chỗ đất của Ngài ở tự nhiên có tòa thất bửu vi diệu, tòa ấy cao vọi  đầy đủ trang nghiêm, Ngài liễm dung chỉnh y phục lên ngồi trên bửu tòa ấy.
 Thiện Trụ Ý Thiên Tử thấy Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát lên ngồi bửu tòa xong liền đến đảnh lễ chưn Bồ Tát rồi lui ở một phía.  Tất cả chư Thiên Tử đều đảnh lễ chưn Bồ Tát.

  Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát suy nghĩ rằng : Hôm nay ai là người có thể ở trước đứcThế Tôn cùng tôi hỏi đáp về pháp thậm thâm, ai là pháp khí có thể nhận câu bất tư nghị ấy, câu rất khó chứng, câu vô xứ sở, câu vô sở trước, câu vô hí luận, câu bất khả đắc, câu bất khả thuyết,, câu thậm thâm, câu chơn thiệt, câu vô ngại,, câu bất khả hoại, câu không, câu vô tướng, câu vô nguyện, câu như như, câu thiệt tế, câu pháp giới, câu vô hình mạo, câu bất thủ, câu bất xả, câu Phật, câu Pháp, câu Tăng, câu trí huệ mãn túc, câu tam giới bình đẳng, câu nhứt thiết pháp vô sở đắc, câu nhứt thiết pháp vô sanh, câu sư tử, câu dũng mãnh, câu vô cú.  Nói những câu như vậy ai có thể nghe ư !

 Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát lại nghĩ rằng : Nay chỉ có Thiện Trụ Ý Thiên Tử từ quá khứ đã cúng dường nhiều Phật nhập thâm pháp nhẫn có đủ biện tài sẽ có thể cùng tôi ở trước Phật cùng đàm luận thiệt nghĩa.  Suy nghĩ rồi, Ngài bảo Thiện Trụ Ý Thiên Tử : Nầy Thiên Tử ! Nay ông đã được thâm pháp nhẫn và có đủ vô ngại biện tài, nay sẽ cùng tôi đến chỗ đức Thế Tôn để cùng đối luận nghĩa thâm diệu ấy có được chăng ?.

Thiện Trụ Ý Thiên Tử đáp rằng : « Bạch Ðại Sĩ ! Tôi nói như vầy : Người ấy nếu đối với tôi không có ngữ ngôn không vì diễn thuyết chẳng có hỏi han cũng không trả lời không Phật Pháp Tăng dứt tuyệt tam thừa không sanh tử không Niết bàn không hiệp không tan chẳng khải chẳng phát chẳng xuất thanh âm trừ các văn tự, người nói như vậy tôi sẽ cùng đàm luận ».

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói : «  Nầy Thiên Tử ! Tôi nói như vầy : Người ấy có thể ở nơi

tôi không lắng không nghe không đọc không tụng không thọ không trì chẳng tu chẳng niệm chẳng thủ chẳng xả chẳng giác chẳng trí chẳng nghe tôi nói chẳng vì người mà giảng, tại sao ? Vì chư Phật Bồ đề vốn không văn tự không tâm lìa tâm, không có giác ngộ dầu giả danh để nói mà danh ấy cũng không ».

 Thiện Trụ Ý Thiên Tử lại nói : « Bạch Ðại Sĩ ! Nay nên vì chư Thiên Tử mà nói.  Chư Thiên Tử nầy đối với chỗ nói của Ðại Sĩ rất thích muốn nghe ».

 Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói : « Nầy Thiên Tử ! Tôi trọn chẳng vì người thích nghe mà nói cũng chẳng vì người nghe nhận mà nói, Tại sao ? Vì hễ có nghe nhận thì có thủ trước.  Thủ trước những gì ? Ðó là trước ngã trước nhơn trước chúng sanh trước thọ mạng trước sĩ phu.  Vì thủ trước mà có nghe nhận.  Nghe nhận như vậy nên biết người ấy an trụ trong ba thứ phược, một là phược kiến ngã, hai là phược kiến chúng sanh và ba là phược kiến pháp.  Nầy Thiên Tử ! Nếu người không có ba thứ phược ấy mà nghe pháp thì nên biết người ấy an trụ trong ba thứ tịnh : một là chẳng thấy thân mình chẳng phân biệt chẳng tu niệm chẳng chứng biết, hai là chẳng thấy người thuyết pháp chẳng phân biệt chẳng tu niệm chẳng chứng biết, ba là chẳng thấy pháp được nói chẳng phân biệt chẳng tu niệm chẳng chứng biết.

 Nầy Thiên Tử nếu ai có thể nghe pháp như vậy đó là bình đẳng nghe vậy”.

Thiện Trụ Ý Thiên Tử khen Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát : “ Lành thay, lành thay ! Ngài nói lời ấy rất hay.  Bạch Ðại Sĩ ! Nếu ai có thể nói như vậy thì nên biết là thuyết bất thối chuyển”.

 Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói : “ Thôi đi Thiên Tử, nay ông chẳng nên vọng tưởng phân biệt Bồ Tát thối chuyển.  Tại sao ? Vì giả sử Bồ Tát mà có thối chuyển thì họ trọn chẳng thành được Vô thượng Chánh Giác.  Tại sao ? Vì trong Bồ đề ấy không có pháp thối chuyển vậy”.

Thiện Trụ Ý Thiên Tử nói : “Bạch Ðại Sĩ ! Nếu như vậy thì ở đâu có thối chuyển ấy?”.

 Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói : “Nầy Thiên Tử ! Phải biết từ tham dục mà có thối chuyển, từ sân khuể mà có thối chuyển, từ ngu si mà có thối chuyển, từ hữu ái mà có thối chuyển, từ vô minh mà có thối chuyển, nhẫn đến từ mười hai hữu phần sanh tử mà có thối chuyển, từ nhơn duyên mà có thối chuyển, từ kiến chấp mà có thối chuyển, từ danh từ sắc mà có thối chuyển, từ Dục giới từ Sắc giới từ Vô sắc giới mà có thối chuyển, từ Thanh Văn mà có thối chuyển, từ Bích Chi Phật mà có thối chuyển, từ phân biệt mà có thối chuyển, từ chấp trước mà có thối chuyển, từ tướng mà có thội chuyển, từ thủ tướng mà có thối chuyển, từ đoạn kiến mà có thối chuyển, từ thường kiến mà có thối chuyển, từ thủ mà có thối chuyển, từ xả mà có thối chuyển, từ ngã tưởng mà có thối chuyển, từ chúng sanh tưởng mà có thối chuyển, từ thọ mạng tưởng mà có thối chuyển, từ sĩ phu tưởng mà có thối chuyển, từ bổ đặc già la mà có thối chuyển, từ tư tưởng mà có thối chuyển, từ hệ phược mà có thối chuyển, từ điên đảo mà có thối chuyển, từ ngã kiến mà có thối chuyển, từ ngã kiến làm căn bổn cho sáu mươi hai kiến mà có thối chuyển, từ ngũ cái mà có thối chuyển, từ ngũ ấm mà có thối chuyển, từ các nhập mà có thối chuyển, từ các giới mà có thối chuyển, từ Phật tưởng mà có thối chuyển, từ Pháp tưởng mà có thối chuyển, từ Tăng tưởng mà có thối chuyển, nhẫn đến tôi sẽ thành Phật tôi sẽ thuyết pháp tôi độ chúng sanh tôi sẽ phá ma tôi được trí huệ từ các tưởng ấy mà có thối chuyển. 

 Nầy Thiên Tử ! Nếu có thể chẳng phân biệt Như Lai thập lực, chẳng phân biệt tứ vô sở úy chẳng phân biệt thập bát bất cộng pháp chẳng phân biệt tất cả căn lực giác đạo chẳng phân biệt các tướng hảo chẳng phân biệt trang nghiêm Phật quốc chẳng phân biệt Thanh Văn chẳng phân biệt Bồ Tát nhẫn đến chẳng phân biệt tất cả phân biệt thối chuyển thì gọi là bất thối chuyển ».

ThiệnTrụ Ý Thiên Tử nói : « Bạch Ðại Sĩ ! Nếu như vậy thì sẽ ở đâu để được bất thối chuyển ? ».

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói : « Nầy Thiên Tử ! Phải biết từ thông đạt Phật huệ mà được bất thối chuyển, từ không vô tướng vô nguyện mà được bất thối chuyển, từ như như từ pháp tánh, từ thiệt tế từ bình đẳng mà được bất thối chuyển ».

Thiện Trụ ý Thiên Tử nói : « Bạch Ðại Sĩ ! Nếu nói như vậy thì phân biệt cùng bất phân biệt hai thứ không sai khác.  Tại sao ? Vì đều là từ tư duy phân biệt mà sanh vì thế nên được nói là có thối chuyển.

Bạch Ðại Sĩ ! Thối chuyển như vậy là có pháp hay không pháp ?”.

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói : “ Chẳng phải có chẳng phải không có thối chuyển ấy”.

  Thiện Trụ Ý Thiên Tử nói : “ Bạch Ðại Sĩ ! Nếu như vậy thì chỗ nào có thối chuyển?”.

  Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói : “ Nầy Thiên Tử ! Nếu có nếu không là hư vọng lấy, là điên đảo lấy là bất như lấy, kia là chẳng lấy cũng chẳng phải chẳng lấy, do nghĩa ấy mà được nói là thối chuyển.  Nhưng pháp thối chuyển ấy chẳng thể nói có chẳng thể nói không.  Tại sao ? Vì nếu trong có không mà có thối chuyển thì có lỗi, tại sao ? Vì nếu có pháp thối chuyển thì đọa thường kiến, nếu không pháp thối chuyển thì đọa đoạn kiến.  Nhưng đức Thế Tôn nói chẳng ở trong thường chẳng ở trong đoạn.  Chẳng phải đoạn chẳng phải thường là lời nói của Như Lai.  Nầy Thiên Tử ! Nếu họ ở nơi các tưởng chẳng  chơn thiệt trước ấy mà họ chứng biết thì gọi là chẳng phải đoạn chẳng phải thường.  Nầy thiên Tử ! Ðây là pháp môn thối chuyển của Bồ Tát vậy”.

Lúc nói pháp nầy có mười ngàn Thiên Tử được vô sanh pháp nhẫn.

 

 

 

XXXVI
PHÁP HỘI
THIỆN TRỤ Ý THIÊN TỬ
THỨ BA MƯƠi SÁU
 

 

Hán dịch : Tùy: Pháp Sư Ðạt Ma Cấp Ða

Việt dịch : Việt Nam : Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh

 

PHẨM
VĂN THÙ THẦN BIẾN

THỨ BA

 

Bấy giờ Thiện Trụ Ý Thiên Tử bạch Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát : “Bạch Ðại sĩ ! Nay nên cùng đến chỗ đức Như Lai thân cận đảnh lễ thỉnh hỏi chỗ chưa nghe, cũng nhơn thời gian ấy mà hỏi gạn như pháp”.

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói : “ Nầy Thiên Tử ! Ngài chớ phân biệt thủ trước Như Lai”. 

Thiện Trụ Ý Thiên Tử nói : “ Bạch Ðại Sĩ ! Như Lai ở tại đâu mà bảo chớ thủ trước ?”.

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói : “ Chính tại hiện tiền.

- Bạch Ðại Sĩ ! Nếu như vậy sao tôi chẳng thấy ?

- Nầy Thiên Tử ! Nếu nay Ngài có thể tất cả chẳng thấy thì gọi là chơn thiệt thấy Như Lai.

- Bạch Ðại Sĩ ! Nếu là hiện tiền sao bảo tôi chớ thủ trước Như Lai ?

- Nầy Thiên Tử ! Ngài cho rằng nay đây hiện tiền có gì ?

- Bạch Ðại Sĩ  có hư không giới.

- Nầy Thiên Tử ! Ðúng vậy, nói là Như Lai chính là nói hư không giới.  Tại sao? Vì các pháp bình đẳng như hư không vậy.  Thế nên hư không tức là Như Lai, Như Lai tức là hư không.  Hư Không và Như Lai không hai không khác.  Nầy Thiên Tử  ! Do nghĩa ấy nên người muốn cầu thấy Như Lai phải quan sát như vầy : chơn tế như thiệt biết rõ trong ấy không có một vật có thể phân biệt được”.

Bấy giờ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát lại dùng thần lực hóa làm ba mươi hai sở nhà báu nhiều từng mái hiên đầy đủ bốn mặt vuông  vức bốn góc có cỗ trụ giáp vòng  có bao lơn lưới báu giăng xen rất đẹp vi diệu cao vọi nguy nga hoàn toàn trang nghiêm rất đáng ưa thích.  Trong nhà đều có giường báu thù thắng trải với thiên y, trên giường đều có Hóa Bồ Tát ngồi đủ ba mươi hai tướng đại nhơn.

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hiển hiện sự trang nghiêm như vậy rồi cùng các tòa liên hoa Hóa Phật Hóa Bồ Tát và nhà báu nhiều từng nầy cùng với chúng Bồ Tát đồng đến chỗ Phật hữu nhiễu bảy vòng cũng vi nhiễu chúng Tỳ Kheo rồi thăng lên hư không sáng chói chiếu khắp chúng hội đạo tràng an trụ nơi bốn phía.

 Lúc ấy Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đi sau Thiện Trụ Ý Thiên Tử mà bỗng đến chỗ Phật trước, còn Thiện Trụ Ý Thiên Tử lại đến sau.  Thiện Trụ Ý Thiên Tử hỏi : « Bạch Ðại Sĩ ! Tôi đi trước mà đến sau.  Ðại Sĩ từ con đường nào đến đây ? ».

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói : « Nầy Thiên Tử ! giả sử có người cúng dường hằng sa Như Lai cúi đầu đảnh lễ cũng trọn chẳng thấy được tôi qua lại đi đứng ».

  Bấy giờ chư Hóa Bồ Tát trên hoa đài và trong nhà báu đồng thanh nói kệ tán thán đức Như Lai :

« Ðã từng cúng dường quá hằng sa

Bất khả tư nghị các Thế Tôn

Dũng mãnh tu hành cầu Bồ đề

Thế nên siêu xuất trên Thiên Nhơn

Ánh sáng sắc đẹp hơn tam giới

Mâu Ni tướng tốt thiệt kỳ đặc

Vì chúng tuyên nói pháp thậm thâm

Không có thọ mạng không nhơn ngã

Thế Tôn hành thí trì tịnh giới

Nhẫn nhục tinh tiến đủ thiền định

Trí huệ thanh tịnh sáng ba cõi

Tôi lạy đấng thắng Ba la mật

Có ai phát tâm cầu Bồ đề

Thì thọ cúng dường của Thiên Nhơn

Nếu nơi thâm không chẳng nghi hoặc

Sẽ nối Pháp Vương xuất thế gian

Quá khứ của Phật Ðẳng Chánh Giác

Hiện tại tất cả Lưỡng Túc Tôn

Thường nói các pháp không như vậy

Bổn lai vô tướng cũng vô tác

Chúng sanh thể tánh bất khả đắc

Nào có kẻ sanh và tử diệt

Vốn đã không lai cũng không khứ

Tất cả các pháp như hư không

Như các hóa nhơn xem các sự

Dẫu lại thị hiện mà không thiệt

Thế Tôn thuyết pháp cũng như vậy

Ðều là hư giả đồng ảo mộng

Hằng sa thế giới đầy châu báu

Mang đem bố thí tất cả người

Nếu hay tu nhẫn khéo nói không

Thí pháp như đây hơn tài thí

Lại như số kiếp như hằng sa

Cúng dường chư Phật Thiên Nhơn Sư

Phụng hiến hương hoa và tư cụ

Vì cầu Bồ đề lìa thế gian

Ðược nghe thâm pháp rất sâu nầy

Không có ngã chúng sanh thọ mạng

Nên biết người nầy được tịnh nhẫn

Ðây là cúng dường thập phương Phật

Trong vô số kiếp hành bố thí

Y thực tượng mã và trân bửu

Nên biết chẳng phải nhơn giải thoát

Bởi có tưởng ngã nhơn chúng sanh

Quy mạng đấng Vô thượng Niết bàn

Cứu tế chúng sanh số vô lượng

Các pháp đều không vốn thanh tịnh

Giải thoát như vậy trí trang nghiêm

Chư Phật xuất thế rất khó gặp

Lành thay Phật pháp người thuận tu

Ðã được bỏ trừ tám chướng nạn

Ðược nghe chánh pháp sanh tin khó

Thân người khó được nay đã được

Tuyệt hẳn chật hẹp ở không nhàn

Nơi các chánh pháp được tín hành

Phải nên dũng mãnh phát tinh tiến

Nếu nghe pháp rồi phải chánh tư

Chẳng nên nghe tiếng liền nắm lấy

Các người thường tu a lan nhã

Chắc sẽ mau chóng thành nhơn hùng

Gần thiện tri thức và pháp sư

Phải mau xa rời các ác hữu

Người nơi chúng sanh tưởng bình đẳng

Cẩn thận chớ khởi tâm ngã nhơn

Thường thích đa văn trì cấm giới

Lìa bỏ cửa nhà ngồi trong rừng

Hũ dược trị bịnh chớ dối tốt

Cũng luôn khất thực thọ phấn tảo

Tất cả hữu vi tức vô vi

Ðồng đều nhứt tướng như dương diệm

Nếu rõ thiệt tế thấy chơn như

Mau thành Vô thượng Bồ đề đạo

Nên quán ngũ ấm dường mộng ảo

Các nhập trong ngoài như nhà hoang

Thế Tôn thường nói pháp như đây

Pháp cũng mộng ảo chớ chấp trước

Tham dục sân khuể tánh tự không

Ngu si ngã mạn phân biệt khởi

Pháp ấy đã diệt nay cũng không

Biết được như vậy thì thành Phật ».

Lúc chư Hóa Bồ Tát nói kệ nầy , trong chúng hội có hai vạn hai ngàn chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ đề, năm trăm Tỳ Kheo lậu tận ý giải tâm được giải thoát, năm trăm Tỳ Kheo Ni xa trần lìa cấu được pháp nhãn tịnh, bảy ngàn Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, hai  vạn năm ngàn Thiên tử cũng đều được lìa trần cấu được pháp nhãn tịnh, ba trăm Bồ Tát được vô sanh pháp nhẫn.  Cả đại địa tam thiên Ðại Thiên thế giới chấn động sáu cách.

 

 

 

XXXVI
PHÁP HỘI
THIỆN TRỤ Ý THIÊN TỬ

THỨ BA MƯƠi SÁU
 

 

Hán dịch : Tùy : Pháp Sư Ðạt Ma Cấp Ða

Việt dịch : Việt Nam Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh

 

PHẨM PHÁ MA

THỨ TƯ

 

Bấy giờ Tôn giả Xá Lợi Phất bạch đức Phật rằng : « Bạch đức Thế Tôn ! Nay thoại tướng nầy do ai làm mà có thể khiến Ðại Thiên thế giới đại địa chấn động sáu cách, lại còn nhà báu tòa liên hoa chư Hóa Bồ Tát phóng quang minh lớn soi sáng chúng hội diễn nói thâm pháp vi diệu, khiến vô lượng ức số chư Thiên Tử đều đến tập họp và ức số chư Bồ Tát cũng vân tập đến ? ».

Ðức Phật phán dạy : «  Nầy Xá Lợi Phất ! Ðây là thần lực của Văn Thù Sư Lợi hiện ra những sự vi diệu trang nghiêm như vậy, cũng khiến chư Bồ Tát và chư Thiên vân tập.  Nầy Xá Lợi Phất ! Văn Thù Sư Lợi cùng Thiện Trụ Ý Thiên Tử dắt đại chúng muốn đến chỗ Phật thỉnh hỏi về pháp môn Phá tán chư ma tam muội để thành tựu đầy đủ các Phật pháp thậm thâm bất tư nghị ».

 Tôn giả Xá Lợi Phất lại bạch Phật rằng : « Bạch đức Thế Tôn ! Nếu như vậy sao tôi xem khắp đại chúng mà trọn chẳng thấy Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ? ».

  Ðức Phật phán dạy : « Nầy Xá Lợi Phất ! Ông chờ một chút, nay Văn Thù Sư Lợi cùng tất cả Ma Vương tất cả Ma chúng tất cả ma cung mà làm sự suy hao lớn, đó là thần biến cực vi diệu trang nghiêm sắp đến chỗ ta, ông sẽ tự thấy ».

  Lúc nầy Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nhập Phá tán chư ma tam muội, do sức tam muội làm cho trong Ðại Thiên thế giới trăm ức cung điện ma cũ mục tối tăm như sắp rã hư , không còn oai quang khiến tất cả ma chẳng thích chỗ mình ở , họ đều thấy thân hình mình già suy ốm gầy chống gậy mà đi, hàng thiên nữ biến thành bà già.  Thấy sự như vậy, tất cả ma rất ưu sầu Cả mình rởn ốc hãi sợ suy nghĩ rằng : đây là biến quái gì mà khiến cho trong ngoài của ta đầy những bất tường, phải chăng là sắp chết mất đến lúc bị quả báo suy tán ư ? Hay là thế gian sắp bị hoại kiếp ư ?

 Lúc chúng ma lo sợ suy nghĩ như trên, Văn Thù Sư Lợi bồ Tát dùng thần lực hiện ra trăm ức Thiên Tử đứng trước chúng ma bảo rằng : « Mọi người chớ lo sợ, đây chẳng phải tai họa của các người cũng chẳng phải kiếp hoại.  Nay có Bồ Tát Ðại Sĩ trụ bất thối chuyển tên là Văn Thù Sư Lợi có đại oai thần đạo đức siêu thế đang nhập Phá tán chư ma tam muội, do sức tam muội ấy mà có sự việc như thế nầy chớ chẳng phải có chi khác ».

Chư ma vương và ma chúng nghe Hóa Thiên Tử nói đến tên Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát họ càng tăng thêm kinh sợ run rẩy chẳng an, tất cả cung điện ma đều chấn động dữ dội.

Chư ma vương thưa với Hóa Thiên Tử : « Xin Ngài đại từ cứu tai ách cho chúng tôi ».

Chư Hóa Thiên Tử nói : « Chớ sợ chớ sợ, các người mau đến chỗ đức Thích Ca Mâu Ni Phật.  Tại sao ? Vì đức Phật Như Lai ấy có đại từ bi, nếu có chúng sanh quá lo sợ thì chỉ đến quy y  với Phật đều liền được an lạc trừ hết lo khổ”.  Nói xong, chư Hóa Thiên Tử bỗng ẩn mất. 

  Chư ma vương và ma chúng nghe lời chỉ trên tất cả đều vui mừng cùng nhau chống gậy trong khoảnh khắc đến chỗ Thích Ca Mâu Ni Phật đồng thanh bạch rằng : « Ðại Ðức Thế Tôn xin được cứu hộ, xin được cứu hộ khỏi tai quái khốn khổ đại họa nầy.
 
Bạch Thế Tôn ! Thà chúng tôi thọ danh hiệu của muôn ngàn vạn ức chư  Phật chứ chẳng mong nghe một tên Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.  Tại sao ? Vì khi chúng tôi một lần nghe đến tên Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát thì rất kinh sợ như bị táng mạng”.

  Ðức Phật phán dạy : « Nầy Ba Tuần ! Nay sao các ông bỗng thốt lên lời như vậy.  Tại sao ? Vì Văn Thù Sư Lợi Ðại Sĩ phàm hể khai đạo thì đều làm lợi ích cho chúng sanh.  Ức trăm ngàn Phật  trước kia hiện nay và sau nầy đều không có làm sự ấy.  Chỉ có Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát thuở quá khứ hiện tại vị lai thường vì chúng sanh mà kiến lập đại sự như vậy, lúc chúng sanh thành thục rồi thì Ngài đặt vào trong giải thoát, do đó các ông dầu nghe danh hiệu trăm ngàn Phật mà chẳng sanh lòng khổ não cũng chẳng kinh sợ.  Sao các ông lại nói chúng tôi nghe tên một Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát thì đều rất kinh sợ”.

Chư ma bạch rằng : 

« Bạch đức Thế Tôn ! Chúng tôi thiệt hổ thẹn với thân hình già xấu nầy thêm quá kinh sợ nên nói như vậy.

 Bạch đức Thế Tôn ! Từ nay chúng tôi quy y đấng Chánh Giác, ngưỡng mong thương xót hoàn phục thân hình cho ».

Ðức Phật phán dạy : « Các ông chờ giây lát, văn Thù Sư Lợi đến đây rồi sẽ trừ hết sự xấu hổ cho các ông ».

 Bấy giờ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát từ tam muội dậy cùng vô lượng trăm ngàn thiên chúng, vô lượng trăm ngàn đại Bồ Tát và vô lượng trăm ngàn chư Long Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, khẩn Na La, Ma Hầu La Già trước sau vây quanh lại trổi vô lượng trăm ngàn âm nhạc, lại mưa vô lượng hoa trời vi diệu, đủ đại trang nhiêm có đại thần thông oai đức vô cực đồng đến chỗ đức Phật đảnh lễ chưn Phật hữu nhiễu ba vòng rồi lui ở một bên.
Ðức Phật phán dạy : « nầy Văn Thù Sư Lợi ! Có phải ông đã nhập phá tán chư ma tam muội chăng ?.

Văn Thù Sư Lợi bồ Tát bạch rằng : « Vâng, bạch đức Thế Tôn ! Tôi đã có nhập ».

Ðức Phật phán dạy : « Nầy Văn Thù Sư Lợi ! Từ đức Phật nào mà ông được nghe dạy tam muội ấy và ông tu bao lâu được thành mãn ? »

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bạch rằng : « Bạch đức Thế Tôn ! Lúc tôi chưa phát tâm Bồ đề, được nghe tam muội ấy nơi đức Phật ».

 Ðức Phật phán dạy : « Ðức Phật ấy danh hiệu là gì ? ».

 Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bạch rằng : « Bạch đức Thế Tôn ! Tôi nhớ thuở quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghị a tăng kỳ kiếp, thuở ấy có đức Phật hiệu Mạn Ðà La Hoa Hương Như Lai Ứng Ðẳng Chánh Giác, xuất hiện thế gian tuyên nói Phá tán chư ma tam muội ấy, lúc ấy tôi sơ khởi được lắng nghe ».

Ðức Phật phán dạy : « Nầy Văn Thù Sư Lợi ! Tam muội như vậy tu thế nào để được ? ».

Văn Thù Sư Lợi bạch rằng : « Bạch đức Thế Tôn ! Nếu đại Bồ Tát thành tựu đủ hai mươi pháp thì được Phá ma tam muội ấy.

Một là quở trách tham dục phá hoại lòng tham

.  Hai là quở trách sân nộ phá hoại lòng sân.  Ba là quở trách ngu si phá hoại lòng si.

 Bốn là quở trách tật đố phá hoại lòng đố.  Năm là quở trách kiêu mạn phá hoại lòng mạn.  Sáu là quở trách ngũ cái phá hoại lòng cái.  Bảy là quở trách nhiệt não phá hoại lòng não.  Tám là quở trách tưởng niệm phá hoại lòng tưởng.  Chín là quở trách các kiến phá hoại lòng kiến.  Mười là quở trách phân biệt phá hoại lòng phân biệt.  Mười một là quở trách thủ sự phá hoại lòng thủ.  Mười hai là quở trách chấp trước phá hoại lòng chấp.  Mười ba là quở trách các tướng phá hoại tâm tướng.  Mười bốn là quở trách pháp có phá hoạilòng có.  Mười lăm là quở trách pháp thường phá hoại lòng thường.  Mười sáu là quở trách pháp đoạn phá hoại lòng đoạn.  Mười bảy là quở trách các ấm phá hoại lòng ấm.  Mười tám là quở trách các nhập phá hoại lòng nhập.  Mười chín là quở trách các giới phá hoại lòng giới.  Hai mươi là quở trách tam giới phá hoại lòng tam giới.  Ðại Bồ Tát đủ hai mươi pháp nầy thì thành tựu tam muội ấy.

 Bạch đức Thế Tôn ! Lại có bốn pháp, Bồ Tát tu hành đầy đủ thì thành tựu Phá ma tam muội ấy.

 Một là kiến lập tâm hành thanh tịnh điều nhu.  Hai là tâm tánh thuần trục không có các

siểm khúc.  Ba là tâm không phan duyên nhập thâm pháp nhẫn.  Bốn là nội ngoại sở hữu hay xả thí tất cả.

 Bạch đức Thế Tôn ! Ðại Bồ Tát còn có bốn pháp hay được tam muội ấy : những là cứu cánh thâm tín, thành tựu thiệt ngữ, thường thích không nhàn và chẳng nắm lấy các tướng.

Ðại Bồ Tát còn có bốn pháp hay được tam muội ấy : những là gần gũi thiện hữu, thường biết chỉ túc, ngồi một mình tư duy và chẳng thích ồn ào. 
 Ðại bồ Tát còn có bốn pháp hay được tam muội ấy : những là giới chẳng phá hoại, giới chẳng khuyết phạm, giới vô sở y và giới chẳng vọng báo.

 Ðại Bồ Tát còn có bốn pháp hay được tam muội ấy : những là bỏ tâm Thanh Văn, lìa tâm Duyên Giác, an trụ Bồ Tát nhẫn và chẳng bỏ chúng sanh.

 Ðại Bồ Tát còn có bốn pháp hay được tam muội ấy, những là tu không trừ ngã, lìa tướng không có tướng, vô nguyện trừ nguyện và xả bỏ các sở hữu. 
 Bạch đức Thế Tôn ! Thuở ấy đức Mạn Ðà La Hoa Hương Như Lai tuyên nói pháp môn

Phá tán chư ma ấy tôi được nghe và bắt đầu tu tập.

 Kế lại có Phật hiệu Nhứt Thiết Bửu Ðiện Tế Nhựt Nguyệt Quang Như Lai Ứng Ðẳng Chánh Giác, bấy giờ ở nơi tam muội ấy tôi thành tựu đầy đủ.  Ðức Thế Tôn ấy tuyên nói pháp môn nầy trong chúng hội ấy có mười ngàn Bồ Tát thành tựu pháp môn Phá tán chư ma tam muội.  Tôn giả Xá Lợi Phất bạch đức Phật : « Hi hữu Thế Tôn ! Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nầy có thể từ thuở xa xưa thành tựu Phá ma tam muội, do nơi lực tam muội khìến Ba Tuần và ma chúng tóc bạc già nua hình chí đều suy đến đỗi thế nầy ».

 Ðức Phật phán dạy : « Nầy Xá Lợi Phât ! Nay ông cho rằng Văn Thù Sư Lợi riêng một Ðại Thiên thế giới nầy biến chúng ma làm cho già suy thôi ư ! Ông chớ quan niệm như vậy.  Tại sao ? Vì hiện nay trong mười phương hằng sa Phật độ tất cả chúng ma đều biến hoại như vậy cả, đều do oai lực của Văn Thù Sư Lợi làm ra vậy ».

Ðức Phật bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát :  «  : Nay ông nên nhiếp thần lực của ông lại khiến tất cả chúng ma hoàn phục bổn hình ».

Tuân lời đức Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bảo chúng ma rằng : « Các Ngài có thiệt chán sợ thân hình nầy chăng ? ».

 Chúng ma bạch rằng : « Vâng, bạch Ðại Sĩ ».

 Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bảo : « Nếu như vậy thì các Ngài cũng nên chán sợ tham dục chớ luyến tam giới ».

Chúng ma bạch rằng : « Lành thay Ðại Sĩ, kính nghe lời dạy tốt há dám sai trái, mong Ðại Sĩ cho chút oai thần trừ sự khổ xấu hổ nầy ».

 Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát liền nhiếp thần lực khiến chúng ma hoàn phục thân hình chư Thiên trang nghiêm như cũ rồi bảo chúng ma rằng : « Nầy Ba Tuần !Như nhãn sở hữu của Ngài, gì là nhãn ? Gì là nhãn tưởng ? Như vậy chỗ nào là nhãn trước, là nhãn tướng, là nhãn phan duyên, là nhãn chướng ngại, là nhãn tư, là nhãn ngã, là nhãn y chỉ, là nhãn hỉ lạc, là nhãn hí luận, là nhãn ngã sở, là nhãn hộ, là nhãn niệm, là nhãn thủ, là nhãn xả, là nhãn phân biệt, là nhãn tư lương, là nhãn thành tựu, là nhãn sanh, là nhãn diệt, là nhãn lai khứ ? Các pháp như vậy là cảnh giới của Ngài, ma nghiệp chướng ngại

Như nhãn, với nhĩ tỉ thiệt thân và ý cũng như vậy.

  Lại như sắc, thanh hương vị xúc và pháp cũng như vậy.  Các Ngài đều phải nên biết rõ như thiệt.

  Lúc Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát thuyết pháp ấy trong chúng có một vạn ma vương Ba Tuần đều phát tâm Vô thượng Bồ đề.  Tám vạn bốn ngàn các ma quyến thuộc xa lìa trần cấu được pháp nhãn thanh tịnh.

 

 

XXXVI

PHÁP HỘI

THiỆN TRỤ Ý THIÊN TỬ

THỨ BA MƯƠI SÁU

 

Hán dịch:Pháp Sư Ðạt Ma Cấp Ða 

Việt dịch:Việt Nam Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh

 

PHẨM BỒ TÁT THÂN HÀNH

THỨ NĂM

Bấy giờ Tôn giả Ma Ha Ca Diếp bạch Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Chúng tôi nguyện thỉnh Văn Thù Sư Lợi làm cho chúng tôi xem thấy chư đại Bồ Tát.  Vì chư Ðại Sĩ ấy khó được gặp gỡ vậy”.

Ðức Phật phán bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát : “Ông nên biết nay đại chúng cũng đều khát ngưỡng muốn thấy thập phương vân tập chư đại Bồ Tát. Hiện đã phải lúc ông nên hiển hiện”.

Tuân lời Phật dạy, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bảo chư đại Bồ Tát mười phương vân tập đến như là Pháp Luân Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát, Hàng Ma Bồ Tát, Diệu Âm Bồ Tát, Ly Cấu Bồ Tát, Tịch Diệt Bồ Tát, Tuyển Trạch Bồ Tát, Pháp Vương Hống Bồ Tát, vô lượng Bồ Tát như vậy rằng : “Chư Ðại Sĩ ! Nay các Ngài đều nên ở tại cung điện tự hiện thân mình rõ ràng đúng như hình trạng tại bổn quốc của các Ngài”.

 Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát phát xuất lời ấy xong, chư đại Bồ Tát từ tam muội dậy đều hiện bổn thân khiến tất cả đại chúng đều thấy:

  Hoặc có Bồ Tát thân cao lớn như Tu Di sơn vương hoặc có Bồ Tát thân lớn tám vạn bốn ngàn do tuần, hoặc trăm ngàn do tuần, hoặc chín mươi ngàn do tuần nhẫn đến có mười ngàn do tuần, nhẫn đến có một trăm do tuần, nhẫn đến có mười do tuần, chin do tuần, tám do tuần đến một do tuần lần lượt cho đến hoặc có bồ Tát thân hình lớn nhỏ rộng hẹp bằng thân người ở Ta Bà thế giới nầy.  Lúc nầy đại chúng đầy chật cả Ðại Thiên thế giới không còn một chỗ trống bằng đầu gậy.

 Tất cả chúng đại Bồ Tát ấy đều là công đức nguy nguy tri huệ sâu xa đầy đủ oai lực thành tựu thần thông phóng đại quang minh chiếu khắp mười phương vô lượng trăm ngàn Phật độ.

  Nhẫn đến chư Thiên đại oai đức cùng chư Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhơn Phi Nhơn, chư đại vương, chư tiểu vương đều đông đủ.

 Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đứng dậy chỉnh y phục trịch y vai hữu gối hữu chấm đất chắp tay hướng Phật mà bạch rằng: “Bạch Thế tôn !Nay tôi muốn thưa hỏi đức Như Lai Ứng Ðẳng Chánh Giác chút ít để giải quyết lòng nghi , chẳng biết đức Thế Tôn có thương cho phép chăng ?”.

 Ðức Phật phán : “Cho phép ông hỏi, Như Lai Ứng Ðẳng Chánh Giác sẽ giải thích quyết dứt lòng nghi cho ông khiến ông vui mừng”.

 Văn Thù Sư lợi Bồ Tát Bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Thế nào gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát , Nói Bồ Tát ấy có nghĩa gì ?

  Ðức Phật phán dạy : “Nầy Văn Thù Sư Lợi ! Ông hỏi thế nào là Bồ Tát và Bồ Tát có nghĩa gì?

Do vì hay giác liễu tất cả pháp nên gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát vậy !

  Nầy Văn Thù Sư Lợi ! Tất cả pháp mà Bồ Tát giác liễu đó là ngôn thuyết.

 Nầy Văn Thù Sư Lợi ! Thế nào là Bồ Tát giác liễu tất cả pháp ? Những gì là giác liễu nhãn nhĩ tỷ thiệt thân và ý.  Bồ Tát giác liễu nhãn căn v. v…bổn tánh là không, giác liễu như vậy rồi trọn chẳng sanh niệm rằng tôi hay giác tri.

 Giác liễu nhãn v. v…như vậy rồi, bồ Tát lại giác liễu sắc thanh hương vị xúc và pháp bổn tánh tự không.  Giác liễu như vậy rồi bồ Tát cũng chẳng phân biệt rằng tôi hay giác tri.

 Ðây là Bồ Tát giác liễu tất cả pháp vậy.

 Nầy Văn thù Sư Lợi ! Bồ Tát giác liễu ngũ ấm thế nào ? Bồ Tát xem thấy ngũ ấm thể tánh vốn tự không.  Vì giác liễu  như vậy nên quán vô tướng.  Vì giác liễu như vậy nên quán vô nguyện.  Vì giác liễu như vậy nên quán vô dục.  Vì giácliễu như vậy nên quán tịch tĩnh.  Vì giác liễu như vậy nên quán viễn ly.  Vì giác liễu như vậy nên quán sở hữu.  Vì giác liễu như vậy nên quán vô thiệt.  Vì giác liễu như vậy nên quán vô động.  Vì giác liễu như vậy nên quán vô sanh.  Vì giác liễu như vậy nên quán vô diệt.  Vì giác liễu như vậy nên quán vô lai.  Vì giác liễu như vậy nên quán vô khứ.  Vì giác liễu như vậy nên quán vô chơn.  Vi giác liễu như vậy nên quán vô chủ.  Vì giác liễu như vậy nên quán vô chứng.  Vì giác liễu như vậy nên quán vô tri.  Vì giác liễu như vậy nên quán vô kiến. Vì giác liễu như vậy nên quán vô nhơn.  Vì giác liễu như vậy nên quán vô tưởng.  Vì giác liễu như vậy nên quán bất khả thuyết. Vì giác liễu như vậy nên quán đản hữu danh.  Vì giác liễu như vậy nên quán vô ngã.  Vì giác liễu như vậy nên quán phân biệt khởi.  Vì giác liễu như vậy nên quán tùng duyên sanh.  Vì giác liễu như vậy nên quán như huyễn.  Vì giác liễu như vậy nên quán như hóa.  Vì giác liễu như vậy nên quán như mộng.  Vì giác liễu như vậy nên quán như cảnh tượng.  Vì giác liễu như vậy nên quán như thanh hưởng.  Vì giác liễu như vậy nên quán như ba tiêu.  Vì giác liễu như vậy nên quán bất cữu trụ.  Vì giác liễu như vậy nên quán bất lao cố.  Vì giác liễu như vậy nên quán hư vọng.  Vì giác liễu như vậy nên quán vô vật.  Vì giác liễu như vậy nên gọi Bồ Tát giác liễu tất cả pháp.

Lại nầy Văn Thù Sư Lợi ! Thế nào là đại Bồ Tát giác liễu tham sân si ? Bồ Tát giác liễu tham dục, kia nhơn vì phân biệt mà khởi, giác liễu sân khuể kia nhơn vì phân biệt mà khởi, giác liễu ngu si kia nhơn vì phân biệt mà khởi nhưng cũng giác liễu phân biệt kia không, vô sở hữu, vô vật, vô hí luận, vì bất khả thuyết bất khả chứng vậy.  Ðây là Bồ Tát giác liễu tất cả pháp.

Lại nầy Văn Thù Sư Lợi ! Thế nào là Bồ Tát giác liễu tam giới? Bồ Tát giác liễu Dục giới không ngã nhơn.  Sắc giới vô sở tác, Vô Sắc giới không vô hữu.  Giác liễu tam giới đều viễn ly vậy.  Ðây là Bồ Tát giác liễu tất cả pháp.

Lại nầy Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ! Thế nào là Bồ Tát giác liễu chúng sanh hành ? Bồ Tát giác liễu chúng sanh nầy tham dục hành, chúng sanh nầy sân khuể hành, chúng sanh nầy ngu si hành, chúng sanh nầy đẳng phần hành.  Giác liễu như vậy chứng tri như vậy, vì chúng sanh mà giảng thuyết như vậy giáo hóa như vậy khiến được giải thoát như vậy.  Ðây là Bồ Tát giác liễu tất cả pháp.

Lại nầy Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ! Thế nào là Bồ Tát giác liễu chúng sanh ? Bồ Tát giác liễu chúng sanh chỉ có văn tự, rời lìa văn tự ấy, thì không có chúng sanh riêng , thế nên tất cả chúng sanh tức là một chúng sanh, một chúng sanh tức là tất cả chúng sanh.  Chúng sanh như vậy tức là phi chúng sanh.  Nếu ai có thể vô phân biệt như vậy đó là đại Bồ Tát giác liễu tất cả pháp.

Lại giác liễu tất cả pháp thế nào? Có thể giác liễu Bồ đề đạo như vậy đó là đại Bồ Tát giác liễu tất cả pháp”.

Thuyết minh lại nghĩa nầy, đức Thế Tôn nói kệ rằng :

“Giác liễu nhãn với nhĩ

Tự thể thường không tịch

Chẳng nói tôi hay giác

Thì gọi là Bồ Tát

Quán tỉ cùng với thiệt

Bổn tánh vô sở hữu

Chẳng phân biệt tôi giác

Thì gọi là Bồ Tát

Trí huệ quan sát thân

Cũng giác ý tự nhiên

Giác rồi nói dạy người

Thì gọi là Bồ Tát

Sắc thanh hương vị xúc

Ý chỗ thích trần cảnh

Giác tri bổn tánh không

Thì gọi là Bồ Tát

Giác sắc cùng thọ tưởng

Hành ấm và thức tâm

Tất cả đồng như huyễn

Thì gọi là bồ Tát

Ngũ ấm tụ như mộng

Giác nó không một tướng

Chẳng phân biệt tôi biết

Thì gọi là Bồ Tát

Chẳng sanh cũng chẳng xuất

Không tác cũng không nói

Chỉ có danh tự thôi

Danh ấy cũng không vật

Giác tham dục sân khuể

Ðều do phân biệt khởi

Phân biệt ấy không thể

Cứu cánh trọn tự không

Si cũng phân biệt sanh

Phân biệt nhơn duyên sanh

Duyên đây sanh kiến chấp

Kiến chấp bất khả đắc

Giác sát tam giới không

Tất cả không chơn thiệt

Nơi kia bất khả động

Nên gọi là Bồ Tát

Dục giới chẳng thành tựu

Ðều do phân biệt khởi

Sắc giới vô sắc giới

Tất cả chẳng bền vững

Sở hành của chúng sanh

Người trí đều biết rõ

Tham dục cùng sân khuể

Và ngu si kia thảy

Tất cả các chúng sanh

Tức là một chúng sanh

Trí giả không sở giác

Chẳng niệm chúng sanh kia

Các pháp được sanh khởi

Ðều nhơn điên đảo sanh

Giác liễu điên đảo ấy

Biết chơn tướng điên đảo

Trí huệ rất vi diệu

Chẳng lấy các âm thanh

Giác rồi vô sở trước

Nên gọi là Bồ Tát

Hay xả thịt thân mình

Cũng trọn không y chỉ

Giác chơn thiệt như vậy

Mới gọi là Bồ Tát

Trì giới đến bỉ ngạn

Cũng chẳng niệm bỉ ngạn

Giác liễu giới hạnh như

Không sanh cũng không tận

Từ tâm khắp chúng sanh

Chẳng được tướng chúng sanh

Giác liễu chúng sanh tế

Chỉ do giả ngôn tuyên

Dũng mãnh đại tinh tiến

Thâm tâm chán hữu vi

Thấy tam giới không hư

Chứng Vô thượng Ðẳng giác

Thường nhập thiền vi diệu

Vô trước vô sở y

Không trụ không phan duyên

Trí giả định như vậy

Hay dùng dao bén trí

Dứt trừ các dây kiến

Quan sát tánh pháp giới

Không dứt cũng không tổn

Nếu người chơn giác liễu

Tất cả pháp như thiệt

Liền đó lợi chúng sanh

Mới gọi là Bồ Tát ».

 

*


 

 

 

XXXVI
PHÁP HỘI

THIỆN TRỤ Ý THIÊN TỬ

THỨ BA MƯƠI SÁU

 

Hán dịch: Tùy Pháp Sư Ðạt Ma Cấp Ða

Việt dịch : Việt Nam Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh

 

Phẩm

PHÁ BỒ TÁT TƯỚNG

Thứ sáu

  Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bạch Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Như lời Phật dạy bồ Tát sơ phát tâm ấy, do nghĩa gì gọi là sơ phát tâm ?”.

  Ðức Phật phán dạy : “Nầy Văn Thù Sư Lợi !Nếu có Bồ Tát bình đẳng xem tam giới tất cả tưởng sanh như vậy, được nói tối sơ phát tâm.  Ðây gọi là Bồ Tát sơ phát tâm vậy.

  Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát lại bạch Phật : “Bạch đức Thế Tôn ! Như tôi hiểu nghĩa của đức Phật nói : nếu có Bồ Tát tâm tham dục sanh là sơ phát tâm, tâm sân khuể sanh là sơ phát tâm , tâm ngu si sanh là sơ phát tâm.  Lời đức Thế Tôn nói phải chăng bảo đó là sơ phát tâm ?”.

  Thiện Trụ Ý Thiên Tử hỏi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát : “Bạch Ðại Sĩ! Nếu chư Bồ Tát khởi tham sân si mà gọi là sơ phát tâm thì tất cả cụ phược phàm phu đều tức là sơ phát tâm Bồ Tát.  Tại sao ? Vì từ xưa đến nay các phàm phu ấy thường phát ba độc tâm tham sân si như vậy”.

 Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói : “ Nầy Thiên Tử ! Ngài nói tất cả phàm phu từ xưa đến nay thường phát được ba độc tâm ấy, nghĩa đó không đúng.  Tại sao ? Vì tất cả phàm phu tâm lực kém yếu chẳng thể phát khởi tham sân si ấy.  Duy có chư Phật Thế Tôn tất cả A La Hán Bích Chi Phật bất thối chuyển địa Bồ Tát mới hay phát khởi tham sân si thôi.  Vì thế nên phàm phu chẳng phát được”.

Thiện Trụ Ý Thiên Tử nói : “ Bạch Ðại Sĩ ! Nay Ngài cớ chi nói như vậy khiến chúng hội nầy chẳng hiểu chẳng biết sa vào lưới nghi rất đáng kinh sợ”.

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói : “ Nầy Thiên Tử ! Như chim kia bay qua bay lại trong hư

không, dấu chưn chim ấy tại hư không là có phát hành hay không có phát hành ?

 - Bạch Ðại Sĩ ! Chẳng phải không phát hành.

- Nầy Thiên Tử ! Ðúng như vậy.  Do nghĩa ấy nên tôi nói nếu có ai hay phát tham sân si, thì duy chư Phật Thế Tôn Thanh Văn Duyên Giác Bất thối Bồ đề mới hay phát được thôi.

Nầy Thiên Tử ! Không có y xứ đó gọi là phát, không có thủ trước đó gọi là phát.  Ðã không y xứ lại không thủ trước thì tức là không có, đây gọi là phát, là câu vô phân biệt đây gọi là phát, là câu bất khả sanh đây gọi là phát, là câu bất thiệt đây gọi là phát, là câu phi vật đây gọi là phát, là câu bất lai đây gọi là phát, là câu bất khứ, đây gọi là phát, là câu vô sanh đây gọi là phát, là câu vô phan duyên đây gọi là phát, là câu vô chứng đây gọi là phát, là câu bất tránh đây gọi là phát, là câu bất tư đây gọi là phát, là câu bất hoại đây gọi là phát, là câu vô ngôn đây gọi là pháp, là câu bất phá đây gọi là phát, là câu vô tự đây gọi là phát, là câu vô chấp đây gọi là phát, là câu vô trụ đây gọi là phát, là câu bất thủ đây gọi là phát, là câu bất xả đây gọi là phát, là câu bất đạt đây gọi là phát,.  Nầy Thiên Tử ! Nên biết đây là Bồ Tát sơ phát tâm vậy.

Nầy Thiên Tử ! Bồ Tát phát tâm nếu ở nơi tất cả pháp như vậy mà chẳng ái trước  chẳng tư tuởng  chẳng thấy chẳng biết chẳng nghe chẳng hiểu chẳng lấy chẳng bỏ  chẳng sanh chẳng diệt thì gọi là chơn phát tâm vậy.

Nầy Thiên Tử ! Ðại Bồ Tát nếu hay y chỉ Pháp giới như vậy bình đẳng như vậy thiệt tế như vậy phương tiện như vậy thì tham dục sân khuể ngu si phát.  Lại nếu quyết hay y chỉ như vậy thì nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý kia phát, thì sắc thủ uẩn thọ tưởng  thức hành thủ uẩn kia phát, như vậy thì tất cả kiến chấp phát, vô minh hữu ái phát, mười hai nhơn duyên hữu phần phát, ngũ dục các sự phát, ái trước tam giới phát, ngã kiến phát, ngã sở kiến phát, sáu mươi hai kiến phát, Phật tưởng phát, Pháp tưởng phát, Tăng tưởng phát, tự tưởng phát, tha tưởng phát, địa thủy hỏa phong không thức đại tưởng phát, tứ điên đảo phát, tứ thức trụ phát, ngũ cái phát, bát tà phát, cửu não phát, thập ác nghiệp đạo phát.  Nói tóm lại, tất cả phân biệt, tất cả chỗ phân biệt, tất cả ngữ ngôn, tất cả các tướng, tất cả tiến xu, tất cả hi cầu, tất cả thủ trước, tất cả tư

tưởng, tất cả ý niệm, tất cả chướng ngại Bồ Tát đều phải phát cả, các Ngài nên biết như thiệt.
Nầy Thiên Tử ! Do nghĩa ấy nên nếu nay Ngài có thể ở nơi các pháp nầy mà chẳng ái trước chẳng tư tưởng thì gọi là chơn thiệt phát vậy ”.

Ðức thế Tôn khen rằng : “Lành thay lành thay, nầy Văn Thù Sư Lợi ! Nay ông có thể vì chư Bồ Tát mà tuyên đủ những nghĩa sơ phát tâm như vậy.  Từ quá khứ ông đã từng cúng dường vô lượng vô biên  quá hằng sa số chư Phật Thế Tôn nên ông có thể tuyên nói như vậy”.

Tôn giả Xá Lợi Phất bạch Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Nay chỗ nói của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát về tối sơ phát tâm và được vô sanh pháp nhẫn của Bồ Tát, trước sau hai sự bình đẳng không khác ư”.

Ðức Phật phán dạy: “Nầy Xá Lợi Phất ! Thuở xưa đức Nhiên Ðăng Thế Tôn thọ ký ta rằng : Ma Na Bà ! Ðời vị lai quá khứ a tăng kỳ kiếp ông sẽ được thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Ðẳng Chánh Giác.  Nầy Xá Lợi Phất, lúc ấy ta cũng chẳng lìa tâm nầy mà được vô sanh pháp nhẫn.  Ông nên biết nghĩa sơ phát tâm của tất cả Bồ Tát đúng như lời Văn Thù Sư Lợi nói không có khác vậy”.

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bạch rằng : “ Bạch đức Thế Tôn như tôi hiểu nghĩa của đức Phật nói đều là sơ phát.  Tại sao ? Vì như lời Phật nói tất cả sơ phát tức là chẳng phát, chẳng phát ấy tức là Bồ Tát tối sơ phát tâm”.

Lúc nói pháp nầy, có hai vạn ba ngàn Bồ Tát chứng vô sanh nhẫn, năm ngàn Tỳ Kheo ở trong các pháp lậu tận giải thoát, sáu mươi ức chư Thiên Tử xa lìa trần cấu được pháp nhãn tịnh.

Tôn giả Ðại Ca Diếp bạch Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Nay Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát lại còn làm được việc khó làm tuyên nói pháp môn thậm thâm như vậy khiến các chúng sanh được nhiều lợi ích”.

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói : “Nầy Tôn giả Ðại Ca Diếp ! Thiệt tôi chẳng làm việc khó làm.  Tại sao ? Vì tất cả pháp đều vô sở tác; cũng không có đã làm, nay làm sẽ làm.  Thưa Ðại Ca Diếp ! Nơi các pháp tôi chẳng phải làm chẳng làm nghĩa ấy cũng vậy.

Lại nầy Tôn giả ! Với chúng sanh tôi không có độ thoát cũng không trói buộc.  Tại sao? Vì tất cả các pháp vô sở hữu vậy.  Sao Tôn giả ở trước Phật nói là hay làm việc khó làm.

Lại nầy Tôn giả ! Thiệt tôi chẳng làm.  Chẳng phải riêng tôi chẳng làm mà tất cả Như Lai cũng chẳng làm, Bích Chi Phật cũng chẳng làm, A La Hán cũng chẳng làm.

Lại nầy Tôn giả Ðại Ca Diếp ! Có những người nào hay làm việc khó làm ? Nếu muốn nói đúng hay làm sự khó làm thì chỉ có tất cả anh nhi phàm phu kia nói như vậy là khéo nói.  Tại sao ?Vì như chư Phật không có đã được nay được sẽ được, nhẫn đến tất cả Thanh Văn tất cả Bích Chi Phật cũng vô sở đắc, chỉ có phàm phu kia tất cả đều được”.

Tôn giả Ðại ca Diếp hỏi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát : “Bạch Ðại Sĩ ! Tất cả chư Phật chẳng được những gì ?”.

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói : “Tất cả chư Phật chẳng được ngã, chẳng được nhơn chúng sanh thọ mạng sĩ phu, chẳng được đoạn thường; chẳng được ấm nhập giới, chẳng được các danh sắc, chẳng được Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, chẳng được phân biệt tư duy niệm xứ, chẳng được nhơn sanh, chẳng được điên đảo, chẳng được tham sân si, chẳng được đời nầy đời kia, chẳng được ngã ngã sở, nhẫn đến chẳng được tất cả các pháp.

Nầy Tôn giả ! Tất cả các pháp thứ đệ chẳng được như vậy cũng lại chẳng mất, chẳng phược chẳng giải, chẳng lấy chẳng bỏ, chẳng xa chẳng gần.  Vì thế nên phải giác liễu pháp môn như vậy.

Nếu chư Phật Thế Tôn đều bất đắc thì tất cả pháp  chẳng phải pháp chẳng phải nghe, còn phàm phu tất cả đều đắc nên phàm phu hay làm sự khó làm, mà chẳng phải chư Phật làm, chẳng  phải Bích Chi Phật làm, chẳng phải A La Hán làm.  Ðây gọi là phàm phu hay làm vậy”.

Tôn giả lại hỏi : “ Bạch Ðại Sĩ ! Làm những gì?”.

 Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói : “Làm đoạn làm thường, làm nhiễm trước, làm y chỉ, làm tư tưởng ức niệm, làm thủ làm xả nhẫn đến tất cả hí luận phân biệt tùy thuận cao hạ các sự việc.

 Vì thế nên các pháp như vậy, chư Phật Thế Tôn đều không làm, không có đã làm nay

làm sẽ làm, chỉ có phàm phu kia hay làm sự khó làm”.

  Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bạch đức Phật : “Bạch đức Thế Tôn ! Vô sanh nhẫn được nói ấy, thế nào là vô sanh nhẫn ?Bạch đức Thế Tôn! Lại do nghĩa gì mà còn gọi là pháp vô sanh nhẫn, Bồ Tất thế nào được nhẫn pháp ấy ?”.

  Ðức Phật phán dạy : “Nầy Văn Thù Sư Lợi ! Thiệt không có người ở trong sanh pháp mà được vô sanh nhẫn.  Nói là được ấy chỉ có ngữ nôn danh tự. Tại sao ? Vì vô sanh pháp chẳng thể được vậy, vì lìa phan duyên vậy nên chẳng được pháp nhẫn, được không chỗ được, không đắc không thất do đây mà gọi là được vô sanh pháp nhẫn.
Lại nầy Văn Thù Sư Lợi !Vô sanh pháp nhẫn ấy đó là vì tất cả pháp vô sanh  nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô lai vô khứ nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô ngã vô chủ nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô thủ vô xả nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô sở hữu vô thiệt nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô đẳng vô đẳng đẳng nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô tỉ nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô nhiễm như hư không nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô phá hoại nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô đoạn nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô cấu vô tịnh nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp không vô tướng vô nguyện nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp lìa tham sân si nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp như như pháp tánh thiệt tế nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô phân biệt vô tương ưng vô ức niệm, vô hí luận vô tư duy nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô tác vô lực gầy kém hư cuống như ảo như mộng như hưởng như ảnh như cảnh tượng như ba tiêu như tụ mạt như thủy bào nên nhẫn như vậy.  Cái bị được nhẫn cũng không có được nhẫn, chẳng phải pháp chẳng phải phi pháp, chỉ dùng danh tự nói lên pháp ấy thôi.  Mà danh tự ấy cũng bất khả đắc bổn tánh tự ly.  Nói nhẫn như vậy tin hiểu thích vào không nghi hoặc không kinh bố không động không mất đầy khắp nơi thân rồi chánh thọ mà hành chẳng được thân mình cũng không chỗ trụ.  Ðây là đại Bồ Tát ở trong các pháp được vô sanh nhẫn cho đến chẳng hành tất cả tưởng vậy”.

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bạch Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Nói rằng nhẫn ấy, thế

nào là nhẫn cho đến chẳng bị cảnh giới phá hoại nên gọi là nhẫn’’.

  Thiện Trụ Ý Thiên Tử hỏi Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát : « Bạch Ðại Sĩ ! Những gì chẳng bị cảnh giới phá hoại ? ».

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói : « Nầy Thiên Tử ! Ðó là nhãn.  Pháp nào hoại nhãn ? Ðó là sắc tốt sắc xấu hay làm hoại nhãn.  Như sắc hoại nhãn, các thứ thanh hoại nhĩ hương hoại tỷ vị hoại thiệt xúc hoại thân và pháp hoại ý cũng như vậy.

Nầy Thiên Tử ! Nếu Bồ Tát mắt thấy sắc chẳng nắm lấy tướng chẳng ham tốt chẳng phân biệt chẳng tư tưởng chẳng ái chẳng yểm, biết là bổn tánh không chẳng có niệm tưởng, chẳng bị các sắc nó làm