Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh

qd.jpg (8936 bytes)

Kinh Điển Phật Giáo


......... .


KINH ĐẠI BỬU TÍCH

Hán dịch: Dao Tần, Pháp Sư Cưu Ma La Thập

Việt dịch:  Thích Trí Tịnh

--- o0o --- 

 

Tập 5

 

XVII

 

PHÁP HỘI

Phú lâu na

Thứ mười bảy

 

 

PHẨM BỒ TÁT HẠNH

 THỨ NHỨT

 

Như vậy tôi nghe một lúc đức Phật trong Trúc Viên thành Vương Xá cùng câu hội với chư đại Tỳ Kheo và chư đại Bồ Tát số ấy đông vô lượng.

Bấy giờ Huệ Mạng Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử từ chỗ ngồi đứng dậy trịch y vai hữu gối hữu chấm đất chắp tay hướng Phật mà bạch rằng: "Bạch Thế Tôn! Tôi muốn hỏi ít lời mong Như Lai sót thương hứa cho".

 Ðức Phật phán: "Tuỳ ý ông hỏi, ta sẽ giải đáp cho ông vui mừng".

Tôn giả Phú Lâu Na bạch đức Phật : "Nay tôi vì chư đại Bồ Tát là những nguời thật hành công đức cao thượng danh tiếng cao xa thường vì chúng sanh cầu sự an vui mà có lời thỉnh hỏi ".

Huệ mạng Phú Lâu Na nói kệ rằng:

"Làm công đức tối thượng

Danh tiếng rất cao xa

Người giới tịnh ưa pháp

Tôi hỏi sở hành ấy

Sửa trị tâm thế nào

Rộng bố thí thế nào

Ðộ chúng sanh thế nào

Hỉ tâm thường hành đạo.

Bạch Thế Tôn! Nay tôi vì chư Ðại Sĩ mà hỏi sự như vậy . Bồ Tát tu tập đa văn như biển cả chẳng cạn hết thế nào ? Hay chứa họp đa văn bửu tạng hay ở các pháp được nghĩa quyết định ở các ngữ ngôn giỏi rõ chương cú thế nào ?

Bồ Tát thế nào cầu

 Ða văn như biển cả

 Nơi pháp được định nghĩa

 Hay giỏi biết Phật đạo

 Thế nào ở một lời

 Mà hiểu vô lượng nghĩa

 Hay dùng sức trí huệ

 Thông đạt tất cả pháp

 Ða văn vô cùng tận

 Gạn hỏi lòng chẳng động

 Xót thương mà thuyết pháp

 Ðể dứt chúng sanh nghi.

 

Bạch Thế Tôn ! Nay tôi tùy theo trí lực của tự địa mà thỉnh hỏi đức Như Lai và chư đại Bồ Tát thế nào được chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề ?

 Thế nào rời lìa mạn

 Ðược gặp gỡ chư Phật

 Mau được tin thanh tịnh

 Ðược tin vô thượng rồi

 Bỏ được sự khó bỏ

 Vứt bỏ tất cả rồi

 Gắng tu đạo vô ngại

 Thế nào ưa xuất gia

 Nhàn tĩnh tu không trí

 Thế nào chẳng nghịch pháp

 Mong đáp đủ sự ấy.

 

Bạch Thế Tôn! Chúng tôi đều biết đức Phật đã đủ cả trí huệ dã trọn tất cả Thần thông Ba la mật, ở trong tam giới là cao tôn đệ nhứt không ai sánh được, đại trí vi diệu đi không chướng ngại nơi trong các pháp, vì thế nên nay tôi thỉnh hỏi sự ấy.

 

Phật đủ thượng công đức

 Ðã vượt bờ thần thông

 Ðược trí không chướng ngại

 Tôi vì Bồ Tát hỏi

 Giỏi học tất cả pháp

 Công đức rất cao thắng

 Phá tối sanh huệ sáng

 Khiến chúng đều hoan hỉ

 Oán thân không ghét thương

 Không lo không khi dối

 Ðại chiến thắng vua chết

 Dẹp phá chúng quân ma

 Chẳng cầm nơi dao gậy

 Hàng phục các oán địch

 Thường có lòng từ bi

 Bền giữ giới thanh tịnh

 Thế Tôn không siểm khúc

 Không mạn không cợt đùa

 Chứng được trí giải thoát

 Công đức rất tối thắng

 Như xưa chỗ hành đạo

 Thắng trí huệ đã được

 Mong nay vì tôi nói

 Tu thế nào được Phật".

 

Bấy giờ đức Phật bảo ngài Phú Lâu Na rằng: "Lành thay tốt thay, ông có thể hỏi Phật sự như vậy. Lắng nghe suy nghĩ kỹ, sẽ vì ông mà nói chư Bồ Tát phát tâm tu hành chứa họp vô lượng Phật pháp".

 

Ðức Thế Tôn nói kệ rằng:

 "Nay ta nói Bồ Tát

 Sơ phát tâm Bồ đề

 Thường dùng sức dũng mãnh

 Ưa làm đạo Bồ Tát

 Sở hành của Bồ Tát

 Các công hạnh thâm tâm

 Nơi Phật được thọ ký

 Sự ấy sẽ lược nói

 Thâm tâm lòng ưa pháp

 Vô lượng và vô biên

 Các thứ công hạnh tu

 Chẳng do một sự thành

Hỉ tâm đã sung mãn

 Mà thật hành bố thí

 Thí xong lòng không hối

 Trong tâm càng vui mừng

 Bồ Tát suy nghĩ rằng

 Chúng sanh thường nghèo cùng

 Không có của đa văn

 Tôi sẽ cầu cho họ

 Chúng sanh thường nghèo cùng

 Ðều do nơi giải đãi

 Tôi sẽ siêng tinh tiến

 Từ đó được Bồ đề

 Tôi sẽ vì chúng sanh

 Gia tâm tu nhẫn nhục

 Mắng nhiếc chửi đánh chém

 Nín nhận chẳng hề báo

 Sẽ nghĩ ai mắng tôi

 Kẻ mắng bất khả đắc

 Người mạ lị sân hận

 Thảy đều là không sự

 Suy nghĩ như vậy rồi

 Lòng không còn giận hờn

 Thường tu hành nhẫn nhục

 Do đây thành Phật đạo

 Chúng sanh không tâm lành

 Vì họ tôi làm đèn

 Cho họ có chỗ về

 Không của cho họ của

 Chúng sanh đáng xót thương

 Ðều cùng đi đường tà

 Tôi sẽ độ thoát họ

 Khiến an trụ Niết bàn

 Chúng sanh đều nghèo cùng

 Không có của trí huệ

 Tôi được Nhứt thiết trí

 Khiến họ được sung túc

 Chư Bồ Tát như vậy

 Vì độ chúng sanh nên

 Phát tâm cầu Bồ đề

 Hành các nguyện như vậy.

Này Phú Lâu Na! Chư đại Bồ Tát nhiều thứ nhơn duyên thị hiện tâm mình chẳng trụ một pháp nào cả. Tại sao vậy? Vì chư đại Bồ Tát học tất cả pháp rồi sau đắc đạo. Bồ Tát có bốn sự hi hữu, chẳng thấy có pháp khác hơn sự ấỵ Những gì là bốn ?

 Bồ Tát có thể ở nơi chúng sanh giải đãi mà siêng tu hành tinh tấn, đây gọi là sự hi hữu thứ nhứt.

Bồ Tát có thể ở giữa chúng sanh ngang ngược giận thù mà siêng tu hành nhẫn nhục, đây gọi là sự hi hữu thứ haị

 Bồ Tát thấy các chúng sanh đi đường tà mà tự mình siêng tu hành chánh đạo, đây gọi là sự hi hữu thứ bạ

Bồ Tát vì độ chúng sanh chuyển khỏi sanh tử mà dùng thâm tâm phát Vô thượng Bồ đề, đây gọi là sự hi hữu thứ tư.

 Bốn sự trên đây gọi là bốn sự hi hữu tối đại của Bồ Tát".

Ðức Thế Tôn nói kệ rằng :

Thấy chúng sanh giải đãi

 Lòng siêng tu tinh tấn

 Tôi chẳng nên theo họ

 Mà làm sự phi pháp

 Chẳng bắt chước giận thù

 Phật đạo chẳng giận thù

 Thường tu tâm từ bi

 Bồ đề từ đó sanh

 Chúng sanh ưa đường tà

 Y chỉ nơi tà đạo

 Bồ Tát cầu chánh đạo

 Khiến người tu nẻo chánh

 Thấy lỗi họa sanh tử

 Nhứt tâm cầu Phật trí

 Tôi được pháp vô thượng

 Sẽ độ các chúng sanh

 Bốn sự hi hữu ấy

 Sự khác không hơn được

 Do đây nên phải biết

 Ðược rời pháp chướng ngại

 Giả như áo mặc cháy

 Ðầu cháy còn chẳng chữa

 Lòng giải đãi nếu khởi

 Liền phải mau trừ diệt.

 

Này Phú Lâu Na! Bồ Tát có bốn sự hay sanh tâm hỉ. Những gì là bốn ?

Một là thấy các chúng sanh ở trong sanh tử chẳng tinh tấn được. Bồ Tát tự thấy mình ở trong Phật đạo tu hành tinh tấn bèn sanh hỉ tâm.

Hai là thấy các chúng sanh lòng họ thường giải đãi, Bồ Tát tự thấy mình ở trong Phật pháp tu tinh tấn nên sanh hỉ tâm.

Ba là thấy các chúng sanh sân hận tật đố, Bồ Tát tự thấy mình không sân không đố thường có lòng từ bi nên sanh hỉ tâm.

Ðức Thế Tôn nói kệ rằng :

 Thấy chúng sanh giải đãi

 Tự mình tu tinh tấn

 Vì thế Bồ Tát này

 Tự sanh lòng vui sướng

 Thấy sanh tử lỗi họa

 Mà sanh lòng chán lìa

 Kinh sợ ngục tam giới

 Lòng siêng cầu bỏ lìa

 Chúng sanh ưa giận thù

 Tự mình thường từ bi

 Vì thế Bồ Tát này

 Lòng luôn khởi vui vẻ

 Các việc chúng sanh làm

 Thường là việc chẳng nên

 Vì thế Bồ Tát cầu

 Phật đạo tối vô thượng

 Ðây gọi là thiệt trí

 Ðược chư Phật khen ngợi

 Bồ Tát học trí này

 Làm chỗ về cho chúng

 Vì thế Bồ Tát này

 Thường được lòng vui mừng

 Từ hữu vi hư ngụy

 Thương sanh pháp chơn thiệt.

Lại này Phú Lâu Na ! Bồ Tát có bốn pháp xa lìa được các nạn mà gặp chỗ không nạn, được gặp rồi không mất có thể tu hành Phật pháp. Những gì là bốn ?

Một là Bồ Tát khiêm tốn dịu hòa, hễ thấy người thì chào hỏi trước, hòa nhan vui vẻ cùng họ nói chuyện, lúc nói luôn mỉm cười.

Hai là Bồ Tát nhứt tâm cầu pháp thường ưa thưa hỏi siêng cầu học hiểu không hề nhàm đủ.

Ba là Bồ Tát thường thích rảnh rang vắng vẻ một mình.

Bốn là tự mình an trụ đạo Vô thượng Bồ đề cũng giáo hóa chúng sanh an trụ Phật đạo.

Bồ Tát có bốn pháp trên đây nên được khỏi các nạn gặp được chỗ không nạn, gặp rồi chẳng mất có thể tu hành Phật pháp".

Ðức Thế Tôn nói kệ rằng :

Trong lòng luôn hòa dịu

 Thường ưa làm từ bi

 Lúc cùng người nói chuyện

 Khiêm tốn vui mỉm cười

 Thường cầu pháp thâm diệu

 Ðược chư Phật khen ngợi

 Luôn giữ giới thanh tịnh

 Ưa tu hạnh đầu đà

 Dầu tu hạnh đầu đà

 Cũng tu trí thâm diệu

 Vì thế Bồ Tát này

 Lìa nạn không gặp nạn

 Thường ở trước chư Phật

 Thỉnh hỏi những pháp sâu

 Do đó trí huệ tăng

 Chẳng sanh vào chỗ nạn

 Thường thích ở vắng rảnh

 Thanh tịnh tu đầu đà

 Vì thế Bồ Tát này

 Lìan nạn không gặp nạn

 Những người có trí huệ

 Thân cận bốn pháp này

 Lìa được tất cả nạn

 Thường được gặp chư Phật

 Ðược gặp chư Phật rồi

 Có đủ bất hoại tín

 Hay phát thượng tinh tấn

 Ðể cầu Phật trí huệ

 Vì thế người cầu trí

 Phải nên học chánh pháp

 Nếu hay học chánh pháp

 Ðược thành Phật chẳng khó".

 

 

 

PHẨM ÐA VĂN

THỨ HAI

 

Ðức Thế Tôn bảo Ngài Phú Lâu Na : "Bồ Tát có bốn pháp thì hay tu tập đa văn bửu tạng, hay ở nơi các pháp được nghĩa quyết định, hay ở nơi các ngữ ngôn giỏi biết chương cú, dường như đại hải chẳng cạn hết được. Những gì là bốn ?

Một là Bồ Tát cầu học mười hai bộ kinh, cầu học rồi đọc tụng, đọc tụng rồi ghi nhớ, ghi nhớ rồi thật hành theo.

Hai là Bồ Tát ở trong tất cả pháp không y chỉ, dầu nhập thiền định mà không sở y chỉ, vì không sở y nên ở trong các pháp được trí bất trụ rồi ở trong các pháp được tri kiến vô ngại, tại sao vậy, vì không có pháp bị tham làm chướng ngại vậy.

Ba là Bồ Tát do pháp nhơn duyên mà niệm Phật và niệm Phật pháp. Lúc niệm Phật và niệm Pháp, Bồ Tát chẳng thấy có pháp được tham ưa. Vi` chẳng tham ưa nên ở nơi tất cả pháp lòng không nắm lấy. Vì không chấp trước tất cả pháp nên Bồ Tát ở nơi sự vấn đáp đều không chướng ngại.

 Bốn là Bồ Tát thành tựu vô sở đắc từ ở nơi việc làm đều vô ngại. Vô sở đắc từ là chẳng nhận thọ các sự tướng, tại sao vậy, vì nếu trụ tướng này hay trụ tướng kia thì hoặc sanh tham dục hoặc sanh sân khuể hoặc sanh ngu si, trụ tướng, sự tướng, vật tướng, ấm tướng, nhập tướng, giới tướng, pháp tướng phi pháp đều hoặc sanh tham dục sân khuể ngu si. Phàm có nhận thọ sự tướng đều gọi là tà kiến. Bồ Tát đều diệt tất cả tướng mà tu tập từ tâm vậy.

 Vì chúng sanh bại hoại nên tướng cũng bại hoại, vì tướng bại hoại nên sự cũng bại hoại, vì sự bại hoại nên kiến cũng bại hoại. Bấy giờ Bồ Tát hoại tất cả pháp mà tu tập tâm từ. Từ như đây gọi là vô sở đắc từ, cũng gọi là Pháp từ và Phật từ.

 Tại sao gọi là Phật từ, vì vô tác vô hoại vậy, vì như thiệt thông đạt tất cả pháp vậy".

 Ngài Phú Lâu Na bạch : "Bạch Thế Tôn ! Thế nào gọi là như thiệt thông đạt tất cả pháp ?".

 Ðức Phật dạy : "Này Phú Lâu Na ! Chỗ được thông đạt đó chẳng nói là thị pháp, chẳng nói là phi pháp. Tại sao vậy, vì nếu nói có pháp thì tức là phi pháp. Nếu ở nơi pháp hữu pháp vô mà không có phi pháp thì ở trong ấy không có hí luận, nếu không hí luận thì gọi là Niết bàn. Ông quan sát kỹ coi là cực viễn hay cực cận ?

-Bạch Thế Tôn ! Chẳng xa chẳng gần. Tại sao, vì nghĩa như vậy không phương không xứ không nội không ngoại.

 -Này Phú Lâu Na ! Ðúng như vậy, đức Như Lai ở nơi pháp tác số.

 -Bạch Thế Tôn ! Ở nơi pháp nào mà đức Như Lai vì nó tác số ?

 -Này Phú Lâu Na ! Như các phàm phu chấp trước các pháp, đức Như Lai chẳng được chẳng tu chẳng chứng chẳng thông đạt, pháp như vậy Như Lai vì nó tác số.

Này Phú Lâu Na ! Các pháp số ấy chẳng để phân biệt pháp vậy. Nay vì ông mà nói pháp tịch diệt đệ nhứt có thể nhiếp được Phật đạo.

Này Phú Lâu Na ! Ðời sau có người ưa theo thế lợi, nếu nghe kinh này họ chẳng thích nghe nhận.

Này Phú Lâu Na ! Bồ đề này của Phật, các ông chỉ do âm thanh chương cú mà biết chút ít thôi, còn nghĩa thú trong ấy các ông chẳng biết. Nghĩa thú ấy sâu xa chẳng thể lấy lời mà tuyên bày được, chỉ có người trí mới có thể khế hội được thôi".

 Ðức Thế Tôn nói kệ rằng :

 "Người chẳng biết được nghĩa

 Nghe Phật pháp thì khổ

 Nếu người biết được nghĩa

 Phật làm thầy cho họ

 Người được Phật làm thầy

 Thì ưa cầu Niết bàn

 Không có lòng tránh tụng

 Hay suy gẫm chánh pháp

 Trong ấy không pháp sanh

 Cũng không có pháp diệt

 Không sanh cũng không diệt

 Là thiệt tướng các pháp

 Nếu pháp đã không sanh

 Thì không có tác khởi

 Thị phi cùng nhứt dị

 Trong pháp ấy đều không

 Ðây gọi là Niết bàn

 Trong ấy không có diệt

 Nếu nói cực viễn cận

 Hai thứ ấy đều không

 Nếu người biết được không

 Thì gọi biết Niết bàn

 Nếu người biết Niết bàn

 Thì gọi đệ tử Phật.

 Này Phú Lâu Na ! Bồ Tát có bốn pháp này thì có thể tu tập đa văn bửu tạng, có thể ở nơi các pháp được quyết định nghĩa, ở nơi ngữ ngôn giỏi biết chương cú, dường như đại hải chẳng cạn hết được".

 Ðức Thế Tôn nói kệ rằng :

 "Thường muốn cầu đa văn

 Ðược chư Phật khen ngợi

 Ðược thiệt nghĩa quyết định

 Vì thế như đại hải

 Có thể trong một chữ

 Vài với nghĩa một câu

 Suốt ngàn vạn ức kiếp

 Diễn nói mãi không hết

 Thế nên cầu chánh pháp

 Cầu được rồi suy gẫm

 Chớ tham lấy pháp tướng

 Chẳng tham được Phật khen

 Tưởng nhớ chư Như Lai

 Và nhớ nơi chánh pháp

 Chẳng dùng lòng tham tranh

 Mà cầu nơi Ðạo Sư

 Thường nơi các chúng sanh

 Tu hành lòng từ mẫn

 Mà chẳng chấp chúng sanh

 Tan diệt tất cả pháp

 Bồ Tát danh tiếng lớn

 Tu tập pháp như vậy

 Mau được đà la ni

 Ða văn từ đây sanh

 Dường như tánh hư không

 Không tăng cũng không giảm

 Pháp tánh cũng như vậy

 Không tăng và không giảm

 Phật dùng sức trí huệ

 Thuyết pháp vô lượng kiếp

 Thuyết pháp vô lượng số

 Còn chẳng gọi là thuyết

 Hết các tánh chúng sanh

 Ðều khiến được thân người

 Ðều cùng tu xuất gia

 Ða văn như A Nan

 Ðà la ni Bồ Tát

 Vì tất cả người ấy

 Thuyết pháp ngàn ức kiếp

 Trí huệ vẫn chẳng hết

 Phật trí huệ vô đẳng

 Ðồng hư không vô lượng

 Hư không không sanh khởi

 Trí huệ cũng như vậy

 Như rồng chẳng lấy nước

 Mà hay mưa nhiều nước

 Nước ấy không chỗ trụ

 Mưa xuống không cùng tận

 Bồ Tát cũng như vậy

 Ðược đà la ni này

 Các pháp không chỗ trụ

 Thuyết pháp không cùng tận

 Thế nên cầu đa văn

 Cầu rồi chánh tư duy

 Dùng pháp duyên niệm Phật

 Ða văn từ đây sanh

 Lòng từ khắp chúng sanh

 Tan diệt tướng chúng sanh

 Cũng diệt các pháp tướng

 Ða văn từ đây sanh".

 

 

 

PHẨM BẤT THỐI

THỨ BA

 

Ðức Phật bảo Ngài Phú Lâu Na : "Bồ Tát thành tựu bốn pháp có thể chẳng thối chuyển nơi Vô thượng Bồ đề. Những gì là bốn ?

Một là Bồ Tát nghe pháp chưa nghe suy nghĩ nghĩa lý chẳng vội liền nói là sai, do đây chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề.

 Nghe pháp chưa được nghe

 Lòng Bồ Tát chẳng nghịch

 Suy lường nghĩa lý ấy

 Chẳng vội nói phi pháp

 Nếu nghe nói pháp không

 Thường tìm nghĩa lý ấy

 Vì thế trí huệ tăng

 Phật pháp từ đây sanh

 Nghe pháp chưa từng nghe

 Phải tìm cầu nghĩa lý

 Chẳng thối chuyển Bồ đề

 Trí huệ được tăng trưởng

 Nghe pháp chưa từng nghe

 Chẳng sanh lòng ghét khinh

 Chẳng sanh lòng siểm khúc

 Sanh thì trái Bồ đề

 Nghe pháp chưa từng nghe

 Phải tìm hiểu nghĩa ấy

 Trước dầu chưa từng nghe

 Phải nhứt tâm suy gẫm

 Lúc người này cầu pháp

 Thường được gặp chư Phật

 Chẳng thối thất Bồ đề

 Ðã được thấy Phật rồi

 Thì có thể thỉnh hỏi

 Người Thanh Văn được nghe

 Ðều lấy làm vui mừng

 Người này rất hi hữu

 Có thể hỏi như vậy

 Chúng tôi còn vô tâm

 Huống được nghe sự ấy

 Thanh Văn khen hi hữu

 Thiên thần đều vui mừng

 Chư Phật khen tên hiệu

 Ðây là quả đa văn

 Nếu có lúc thưa hỏi

 Phật đáp được lời hỏi

 Vô lượng các đại chúng

 Ðều được lợi ích lớn

 Ðược nghe nơi Bồ Tát

 Ða văn này hỏi đáp

 Vô lượng chúng đều được

 Pháp nhãn tối vô thượng.

Này Phú Lâu Na ! Do nhơn duyên ấy phải biết Bồ Tát nghe pháp chưa nghe tin nhận chẳng trái, chánh tâm suy gẫm chẳng vội nói sai thì có thể lợi ích vô lượng chúng sanh.

 Này Phú Lâu Na ! Quá khứ xưa vô lượng vô biên bất tư nghị a tăng kỳ kiếp, bấy giờ có Phập hiệu là Nhứt Thiết Công Ðức Quang Minh Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn, thọ tám mươi ức tuổi, hội thứ nhứt độ chúng Thanh Văn đệ tử chẳng thọ một pháp lậu tận giải thoát số đông như số cát sông Hằng chẳng tính đếm được, chúng Bồ Tát cũng đông nhiều như vậy. Sau khi Phật ấy diệt độ, chánh pháp trụ thế sáu vạn năm, vì lúc ấy Phật sắp nhập Niết bàn có trăm ức Bồ Tát đồng hưng khởi thần lực để hộ pháp đều khắp trăm ức Diêm Phù Ðề, trong mỗi Diêm Phù Ðề đều có một Bồ Tát.

Này Phú Lâu Na ! Sau khi Phật Nhứt Thiết Công Ðức Quang Minh Vương nhập diệt, chúng đệ tử lần lần giải đãi, chẳng còn tụng trì kinh sâu diệu như vậy. Kinh Chư Pháp Không kinh Tịnh Giới Ðầu Ðà đều lần lượt diệt mất, vì chúng sanh chẳng có thể đọc tụng diễn nói vậy. Pháp ấy rộng lớn có tám trăm bốn vạn pháp tạng. Mỗi pháp tạng có sáu mươi tám trăm vạn ức na do tha tu đa la. Mỗi tu đa la có ba vạn sáu ngàn ưu đà na. Mỗi ưu đà na có bảy trăm sáu vạn ức kệ. Lúc tối hậu pháp sắp diệt ở trong ngần ấy pháp tạng còn dư lại chỉ có một tu đa la ưu đà na, bấy giờ có một Tì Kheo Pháp Sư tên Na La Diên ở trong Diêm Phù Ðề này được Phật ban thần lực để hộ pháp. Pháp Sư Na La Diên ấy đa văn rộng rãi giỏi thuyết pháp nghiêm sức văn từ nghĩa lý rõ ràng, thường ưa nói pháp chưa từng nghe. Lúc thuyết pháp có đa số thính chúng trái nghịch huỷ báng. Pháp Sư Na La Diên liền nghĩ rằng, nơi pháp chưa từng nghe này thính chúng đây nghe chẳng tin được, chẳng thích nghe nhận, nếu nghe mà chẳng hiểu thì lòng họ chẳng tuỳ thuận trái nghịch phá hoại mà cho là chẳng phải Phật nói, chẳng phải Ðại Sư dạy, tại sao, vì chúng nó chưa từng được nghe Sư Trưởng Hòa Thượng nói kinh như vậy, lại các hàng Trưởng Lão Tỳ Kheo cũng lại chẳng nói là được xoay vần nghe nơi Sư Trưởng Hòa Thượng, nay chư Tỳ Kheo chỉ còn dư một tu đa la ưu đà na, tại sao tôi chẳng ở riêng mình nơi rảnh rang vắng vẻ.

Pháp Sư Na La Diên suy nghĩ như vậy rồi, một mình vào thâm sơn.

Bấy giờ trong Diêm Phù Ðề từ kiếp sơ đến nay có sáu vạn tám ngàn thành lớn, thành dài mười hai do tuần, rộng bảy do tuần trang nghiêm đẹp, đường sá tương đương nhân dân đông đúc an ổn giàu vui. Sau đó nối tiếp tạo tám mươi bốn ức thành nhỏ, có thành rộng bảy do tuần, hoặc rộng sáu năm bốn ba hoặc hai do tuần, thành nhỏ nhứt rộng một do tuần.

Lúc ấy trong Diêm Phù Ðề có một thành lớn tên là An Lạc, trong thành ấy có một Trưởng Giả tên là Xa Nặn, ông này có một con trai tên là Ma Ha Nựu Ma Ðà. Có một thiên thần đến nói với Trưởng Giả tử Ma Ha Nựu Ma Ðà rằng :

 Ngài phải siêng cầu pháp

 Cầu rồi chánh tư duy

 Công Ðức Vương Như Lai

 Ðã ký ngài làm Phật.

 Thiên thần nói kệ xong liền ẩn mất. Trưởng Giả tử đến thưa với cha rằng : Tôi muốn xuất gia ở trong pháp của Phật Nhứt Thiết Công Ðức Quang Minh Vương tu phạm hạnh.

Xà Nặc Trưởng Giả nói kệ đáp rằng :

 Nhà ta nhiều của báu

 Bạc vàng vô số lượng

 Diêm Phù Ðề không có

 Mà nhà ta có đủ

 Ta tìm cầu của báu

 Cho con hưởng dục lạc

 Sao con đi xuất gia

 Bị đời họ khinh miệt.

 Ma Ha Nựu Ma Ðà nói kệ đáp cha :

 Tôi ưa thích cầu pháp

 Cầu rồi chánh tư duy

 Chẳng thích thọ giàu sang

 Sẽ làm Phật trong đời

 Chẳng cần gia nghiệp giàu

 Tôi muốn tìm thiểu dục

 Sản xuất những pháp tài

 Nay phải đi xuất gia

 Chư Phật xuất thế khó

 Phật thuyết pháp cũng khó

 Nay tôi gặp Phật pháp

 Sao lại rời bỏ pháp.

 Trưởng Giả tử đầu mặt lạy chưn cha, rồi đi ra mà nói kệ rằng:

 Dầu có một ức cha

 Và có trăm ức mẹ

 Còn chẳng ngăn được tôi

 Lòng tôi quyết xuất gia

 Tôi bỏ thân thọ mạng

 Cha me, thân tộc, của

 Chỉ chẳng bỏ Phật pháp

 Sẽ xuất gia cầu đạo.

Nói kệ xong Trưởng Giả tử xuất gia hành đạo, đến Pháp Sư Na La Diên cầu muốn nghe pháp. Pháp Sư liền giảng nói kinh chưa từng nghe.

Tỳ Kheo Ma Ha Nựu Ma Ðà nghe kinh chưa từng nghe rồi thưa hỏi Pháp Sư Na La Diên rằng kinh này từ trước chưa từng nghe, ai đọc, ai tụng, ai thọ trì, từ đâu Ngài được nghe ?

 Pháp Sư Na La Diên nói : Ta do túc mạng thiện căn và cũng nhờ thần lực của Phật Công Ðức Vương nên kinh thâm diệu ấy tự nhiên tại tâm.

Nghe Pháp Sư nói như vậy, Tỳ Kheo Ma Ðà chuyên lòng suy gẫm liền sanh trí huệ, dùng sức phương tiện đại trí huệ gạn hỏi Pháp Sư Na La Diên. Pháp Sư ấy theo nghĩa giải đáp xong bảo Tỳ Kheo Ma Ðà rằng thời kỳ Phật Nhứt Thiết Công Ðức Quang Minh Vương có một Tỳ Kheo hỏi Phật về sự ấy như lời ông vừa hỏi và Phật cũng giải đáp như vậy. Tỳ Kheo Ma Ðà nghe nói vui mừng lại thưa hỏi pháp sư, giải đáp xong Pháp Sư cũng bảo là xưa kia thuở Phật Công Ðức Vương có một Tỳ Kheo hỏi như vậy và Phật cũng giải đáp như vậy. Nghe xong Tỳ Kheo Ma Ðà vui mừng rồi lại bạch hỏi Pháp Sư, giải đáp xong Pháp Sư lại cũng bảo là thuở Phật Công Ðức Vương cũng có một Tỳ Kheo hỏi như vậy. Nghe Pháp Sư nói Ma Ðà vui mừng bạch rằng thuở trước ngài theo Phật nghe được bao nhiêu sự vấn đáp như vậy.

Pháp Sư Na La Diên nói thôi chớ hỏi, sự ấy khó tin, những người chưa thiệt chứng pháp tăng thượng cũng khó tin.

Tỳ Kheo Ma Ðà lại hỏi như vậy lần thứ hai thứ ba. Pháp Sư Na La Diên bảo thôi chớ hỏi, sự ấy khó tin. Nay bất đắc dĩ dùng thí dụ nói cho ông. Các người có trí do thí dụ mà được hiểu.

Này Tỳ Kheo ! Ở chỗ Phật Nhứt Thiết Công Ðức Quang Minh Vương, ta được nghe táng chúng sanh nhiều hơn địa chủng. Giả sử tất cả chúng sanh trong cõi tam thiên Ðại Thiên, hoặc loài có sắc không sắc, loài có tưởng không tưởng, loài chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng, đều làm cho tất cả đều được thân người đều có sức trí huệ, mỗi mỗi chúng sanh ấy trong khoảng khảy ngón tay có thể khởi hằng hà sa lời hỏi khác nhau. Này Tỳ Kheo ! Cứ như vậy lần lượt đến vô dư thế giới mười phương, tất cả chúng sanh hoặc một kiếp hoặc hơn một kiếp phát khởi lời hỏi khác nhau. Lại có một người, có khả năng trong thời gian khảy ngón tay phát khởi ngần ấy lời hỏi của tất cả mọi người trước. Một người như vậy lần lượt lại hết tất cả vô dư chúng sanh hoặc một kiếp hoặc dưới một kiếp phát khởi các lời hỏi sai khác.

Này Tỳ Kheo ! Ý ông thế nào, những lời hỏi trên ấy có nhiều chăng ?

-Bạch Pháp Sư ! Rất nhiều, chẳng phải thí dụ mà có thể thí dụ được.

-Này Tỳ Kheo ! Nay ta nói rõ với ông, chớ có nghi hối. Như tất cả vô dư chúng sanh ấy phát khởi lời hỏi sai khác hoặc trong một kiếp hoặc dưới một kiếp, ta theo Phật nghe lời hỏi đáp trong một pháp môn còn nhiều hơn. Như vậy hai môn ba môn đến muôn ngàn trăm ức môn. Này Tỳ Kheo ! Ta sẽ lược nói tất cả bao nhiêu toán số danh tự vô lượng vô tận chẳng thể nghĩ bàn còn hơn các số này, ta đều tụng trì cả. Này Tỳ Kheo ! Các lời đáp ấy đều ở trong một pháp môn, ta đều biết rõ. Ðó là đức Phật Công Ðức Quang Minh Vương nói những câu đạo, câu môn, câu ấn, câu bổn sự, câu kim cương, câu trọng, câu bất khả động, câu khó thấu đáo.

Này Tỳ Kheo ! Trong một môn nhiếp tất cả pháp, đó là môn vô tác. Môn này là gốc của tất cả pháp tất cả câu, tất cả đều vào môn này. Tất cả tu đa la ưu đà na đều vào môn câu, phân biệt một chữ hay vào nhiều chữ. Này Tỳ Kheo ! Như vậy, hay vào bảy vạn tám ngàn môn đà la ni, trong ấy có chín vạn hai ngàn các căn sai biệt. Trong môn chúng sanh hành ấy có tám vạn ức hình sắc nơi các loài sai khác. Các hình sắc ấy, ta biết tên nó. Trong mỗi mỗi sắc ta biết trăm tên hai trăm tên ba trăm tên đều ở tại Diêm Phù Ðề , và lại khắp đến mười phương Phật quốc, trong ấy có những duyên những danh tự ta đều biết được cả.

Tóm lại, bao nhiêu trí lực của Phật ở trong các pháp có những sai biệt hỏi đáp khác nhau ta đều biết được cả, đó là sức oai thần của Phật Công Ðức Quang Minh Vương gia bị cho ta vậy.

 Bấy giờ Tỳ Kheo Ma Ðà thưa Pháp Sư Na La Diên rằng : "Ngưỡng mong Chánh Sĩ trở lại thành ấp tụ lạc để chuyển pháp luân của Phật Công Ðức Quang Minh Vương, tôi sẽ hộ vệ để du?c lãnh thọ giáo pháp.

Pháp Sư Na La Diên bảo : Thôi chớ có thỉnh ta. Ðời nay Tỳ Kheo phần nhiều giải đãi, không có ai quyết muốn chứa họp pháp lành.

Tỳ Kheo Ma Ðà thưa từ này tôi ở nơi pháp lành quyết mong muốn chẳng dám giải đãi, mong Pháp Sư trở vào tụ lạc thuyết pháp, tôi sẽ theo hộ vệ thưa hỏi để được nghe kinh chưa từng nghe.

 Này Phú Lâu Na ! Ma Ðà Tỳ Kheo thuở ấy được phần đông đại chúng cúng dường cung kính. Thời nhơn gọi ông là người trì giới đa văn tối thượng công đức vô lượng.

Bấy giờ Tỳ Kheo Ma Ðà vào thành ấp tụ lạc khen ngợi Pháp Sư Na La Diên để khiến chúng sanh vào chánh pháp, và cũng khiến Phật pháp được lưu bố khắp mọi nơi. Ma Ðà dắt dẫn nhiều người cúng dường cung kính hộ vệ Pháp Sư Na La Diên để được nghe pháp. Sau đó, Pháp Sư Na La Diên được Ma Ðà thủ hộ rồi vào thành ấp tụ lạc nói rộng đạo Bồ đề của chư Phật Nhứt Thiết Công Ðức Quang Minh Vương đã tu tập trong a tăng kỳ kiếp khiến lưu bố khắp nơi. Tỳ Kheo Ma Ðà suốt trong một năm thường theo Pháp Sư Na La Diên thưa hỏi chánh pháp thường là mới lạ chưa bao giờ nói lập lại. Nhờ Tỳ Kheo Ma Ðà hộ trợ, Pháp Sư Na La Diên khiến vô lượng chúng sanh an trụ trong chánh pháp, vô lượng chúng sanh an trụ Phật Bồ đề.

Này Phú Lâu Na ! Pháp Sư Na La Diên khéo giữ gìn chánh pháp khéo thuyết pháp thuở quá khứ ấy chính là Di Lặc Bồ Tát hiện nay vậy. Còn Tỳ Kheo Ma Ðà hộ vệ Pháp Sư tá trợ thưa hỏi, do năng lực phước đức ấy sau khi mạng chung liền sanh nước Phật Thượng Chúng tại thế giới thứ mười ở Hạ phương. Ở trước Phật Thượng Chúng ấy, ông hỏi kinh Ðoạn Nhứt Thiết Chúng Sanh Nghi. Phật ấy nhiều lời khen lành thay tốt thay rồi vì ông ấy mà nói kinh Ðoạn Nhứt Thiết Chúng Sanh Nghi, lúc thuyết kinh ấy khiến vô lượng chúng sanh sơ phát tâm Bồ đề liền nhập vào chánh định tụ. Sau đó ông ấy lại gặp Phật Tu Di Sơn thưa h?i kinh Nhiếp Xuất Nhứt Thiết Pháp Môn khiến vô lượng chúng sanh định tụ đều được Vô thượng Bồ đề. Sau đó ông ấy lại gặp Phật Sơn Vương thỉnh hỏi kinh Chư Pháp Môn khiến vô lượng chúng sanh quyết định nơi Vô thượng Bồ đề. Sau đó ông ấy lại gặp Phật Phạm Âm Thanh thỉnh hỏi kinh Nhiếp Nhứt Thiết Pháp khiến vô lượng chúng sanh quyết định Vô thượng Bồ đề. Lần lượt như vậy, Tỳ Kheo Ma Ðà gặp chư Phật thỉnh hỏi kinh pháp làm cho vô lượng vô số chúng sanh an trụ Vô thượng Bồ đề, nếu ta có dùng một kiếp hay hơn một kiếp để thuật nói danh hiệu chư Phật ấy và những chúng sanh được an trụ Vô thượng Bồ đề cũng chẳng thể hết được.

Này Phú Lâu Na ! Vì thế nên biết rằng đại Bồ Tát nghe kinh pháp chưa từng nghe mà suy gẫm nghĩa lý thì được công đức lợi ích lớn như vậy.

Này Phú Lâu Na ! Tỳ Kheo Ma Ha Nựu Ma Ðà theo Pháp Sư Na La Diên nghe kinh pháp chưa từng nghe tùy thuận nghĩa thú ấy nay chính là Kiều Việt Ðâu Bồ Tát vậy.

Thuở ấy Tỳ Kheo Ma Ha Nựu Ma Ðà thủ hộ chánh pháp nghe kinh chưa từng nghe tùy thuận nghĩa thú chẳng chấp ngôn từ, do đó mà gặp vô lượng Phật được nghe vô lượng kinh thâm diệu. Do nơi thiện căn thuở xưa ấy nên nay ở trước ta, Phật Thích Ca Mâu Ni, cũng thỉnh hỏi kinh Nhiếp Nhứt Thiết Pháp Ðại Hải Pháp Môn. Lúc ta thuyết kinh ấy có vô lượng chúng sanh được lợi ích lớn".

Ðức Thế Tôn muốn utyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :

 "Bồ Tát nghe chưa nghe

 Phải suy nghĩa lý kinh

 Chẳng nên vội nói rằng

 Từ truước tôi chưa nghe

 Nghe pháp chưa từng nghe

 Chánh niệm suy nghĩa lý

 Do đó trí huệ tăng

 Như biển nhận các dòng

 Ða văn càng tăng thượng

 Trí huệ tăng cũng vậy

 Ðược nghe các Phật sự

 Rộng lợi ích chúng sanh

 Họp đa văn như biển

 Trí huệ không cùng tận

 Giỏi biết được chương cú

 Hạng nhứt trong sai biệt

 Thế nên phải nên nghe

 Pháp chưa từng được nghe

 Cầu pháp chưa từng nghe

 Ðược quả báo vô thượng. 

Lại này Phú Lâu Na ! Hai là Bồ Tát chơn thiệt tinh tấn, Bồ Tát thành tựu pháp này thì chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề. Ðại Bồ Tát ở nơi sự cầu đa văn sanh lòng rất mong muốn, ở nơi sự rảnh rang vắng vẻ sanh lòng rất ưa thích, nhứt tâm siêng cầu Vô thượng Bồ đề, cầu rồi vì dứt sân khuể mà tu tập từ quán, vì dứt tham dục mà tu tập bất tịnh quán, vì dứt ngu si mà tu tập nhơn duyên quán.

Này Phú Lâu Na ! Những gì là Bồ Tát tinh tấn, Bồ Tát tu tập tinh tấn thế nào ?

Này Phú Lâu Na ! Bồ Tát hoặc trong một kiếp hoặc dưới một kiếp, hoặc đi hoặc ngồi thường phát tinh tấn. Ðây chẳng gọi là chơn thiệt tinh tấn.

Có Bồ Tát hoặc trong một kiếp hoặc dưới một kiếp tu hành tịnh giới khổ hạnh khó làm, đầy đủ đầu đà, tùy sở duyên sự sanh lòng nguyện cầu sâu mà rời lìa thiệt tướng các pháp, đây chẳng gọi là chơn thiệt tinh tấn.

-Bạch Ðức Thế Tôn ! Thế nào là Bồ Tát chơn thiệt tinh tấn được chư Phật khen, người trí thế tục chẳng chê ghét ?

-Này Phú Lâu Na ! Ở nơi kinh chưa từng nghe đúng pháp không sâu diệu không có chút tướng dạng hiệp đệ nhứt nghĩa, Bồ Tát chẳng trái chẳng nghịch biết rõ nghĩa ấy siêng phát tinh tấn lòng chẳng lui mất nghe nhận đọc tụng giải thuyết cho người. Ðây gọi là Bồ Tát chơn thiệt tinh tấn. Vì nghe kinh thâm diệu thông đạt nghĩa lý chẳng trái chẳng nghịch, tinh tấn như vậy được chư Phật khen ngợi người trí thế gian chẳng chê trách được.

Thế nên Bồ Tát phát trang nghiêm như vầy : Chỗ mà chúng sanh thế gian chẳng thể thấu đáo được thì tôi ở trong ấy sẽ thấu đáo hết, chỗ mà chúng sanh thế gian có thể bị chìm mất tôi ở trong ấy chẳng nên để bị chìm, chỗ mà chúng sanh thế gian phải kinh sợ tôi ở trong ấy chẳng nên kinh sợ. Tại saỏ Vì tôi phát trang nghiêm chẳng hiệp với thế gian, vì rời lìa thế pháp mà tôi phát trang nghiêm chớ chẳng phải đi trong thế pháp mà tôi phát trang nghiêm, vì chẳng đi trong thế pháp mà tôi phát trang nghiêm chớ chẳng phải vì tùy theo thế pháp mà tôi phát trang nghiêm, vì chuyển thế pháp mà tôi phát trang nghiêm.

Này Phú Lâu Na ! Ðây gọi là Bồ Tát chơn thiệt tinh tấn. Bồ Tát thành tựu pháp thứ hai này thì chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề vậy".

Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :

 "Bồ Tát cầu thâm pháp

 Thường siêng phát tinh tấn

 Suy gẫm nghĩa lý ấy

 Chẳng theo nơi âm thanh

 Bồ Tát chẳng theo lời

 Biết nói điều hư dối

 Vì biết các pháp không

 Chỉ cầu nơi lời lành

 Nếu trong ngàn vạn ức

 Vô lượng các kiếp số

 Ngày đêm luôn đi ngồi

 Chuyên tâm tu khổ hạnh

 Mà chẳng tin thâm kinh

 Thì chẳng phải tinh tấn

 Thấu đáo nghĩa lý sâu

 Chẳng gọi là giải đãi

 Tinh tấn được như vậy

 Là chỗ khen của Phật

 Thế gian chẳng thấu đáo

 Bồ Tát thấu đáo được

 Thế gian bị sợ mất

 Bồ Tát chẳng sợ mất

 Chuyên tâm thường mong cầu

 Pháp không tịch chơn diệu

 Trong pháp không vô uý

 Cũng không có lui mất

 Vì trụ tướng ngã pháp

 Nên sanh lòng sợ mất

 Tán hoại tất cả pháp

 Ðây gọi đạo Bồ đề

 Chuyên tâm phát tinh tấn

 Mau thành biển đa văn.

Lại này Phú Lâu Na ! Ba là Bồ Tát khéo biết ngũ ấm, khéo biết mười hai nhập, khéo biết thập bát giới, khéo biết mười hai nhơn duyên, vì khéo biết các pháp nên thành tựu trí vô y chỉ, vì được trí vô y chỉ nên ở nơi tất cả pháp chẳng niệm chẳng phân biệt, vì chẳng niệm chẳng phân biệt nên thuyết pháp cho chúng sanh phá tất cả kiến chấp khiến trừ thân kiến.

Bồ Tát thành tựu pháp thứ ba này thì chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề".

Ðức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :

 "Bồ Tát biết ngũ ấm

 Mười hai nhập đều không

 Biết rõ thập bát giới

 Thông đạt mười hai duyên

 Chẳng tùy theo năm ấm

 Biết thân này hư dối

 Nơi các nội ngoại nhập

 Ðều biết nó tánh không

 Biết các pháp như vậy

 Biết rồi nói với người

 Vì thế nên Bồ Tát

 Trí huệ càng cao lớn.

Lại này Phú Lâu Na ! Bốn là đại Bồ Tát như sở kiết giới như sở thuyết giới đều khéo theo học không có khuyết phạm. Những gì là Bồ Tát học giới ?

Học tất cả pháp là Bồ Tát học giới.  Tại sao, vì Bồ Tát học tất cả pháp nên được trí tất cả pháp, do pháp trí ấy mà được vô phân biệt huệ, do huệ vô phân biệt ấy mà biết được tất cả sự. Biết tất cả sự thế nào ? Bồ Tát biết hết tất cả nội sự, tất cả ngoại sự tất cả nội ngoại sự.

Cớ chi gọi là nội tên nội ? Phàm bao nhiêu chỗ thọ có thể tham trước thì gọi là nội thân, từ mười hai nhơn duyên sanh, trong ấy chỉ có thế tục giả danh, đó là mắt này, tai này, mũi này, lưỡi này, thân này, ý này. Ðây gọi là nội. Vì pháp này được phàm phu tham trước nên gọi là nội, họ bảo rằng tôi sẽ được mắt như vậy, được tai mũi lưỡi thân và ý như vậy chẳng làm tai mũi lưỡi thân và ý như vậy. Trong ấy chỉ do nghiệp duyên đã khởi mà có quả báo sanh nên gọi là nội, trong ấy sai biệt mà phàm phu tham trước gọi là mắt là tai mũi lưỡi thân ý đều gọi là nội cả.

Này Phú Lâu Na ! Nội gọi là hai. Sự ấy hư dối. Những người phàm phu tham trước nhận lấy nó mà sanh tranh cãi. Nơi ấy, đức Như Lai từ trước đến nay biết nó đúng thiệt nên chẳng tham trước. Thế nào biết rằng đức Như Lai biết nó đúng thiệt mà chẳng tham trước ? Ðức Như Lai ở trong pháp ấy chẳng làm về nương. Ai chẳng làm về nương ? Ðó là ái kiết. Mắt chẳng làm về nương, rời mắt chẳng làm về nương. Tai mũi lưỡi thân ý chẳng làm về nương, rời tai mũi lưỡi thân ý chẳng làm về nương. Tại sao, vì nơi các pháp, đức Như Lai chẳng được nội chẳng được ngoại, thế nên trong pháp ấy đức Như Lai chẳng làm về nương.

Ðức Như Lai là đấng nói lời chơn thiệt, bảo các Tỳ Kheo rằng mắt chẳng phải là các ông cũng chẳng phải người khác. Tại sao, vì bổn thể nó bất khả đắc nên pháp nào là mắt, mắt ấy thuộc ai, pháp nào là tai mùi lưỡi thân ý, thuộc về ai. Tại sao, vì bổn thể nó bất khả đắc vậy.

Này Phú Lâu Na ! Mắt ấy, nay nên suy kiểm, tai mũi lưỡi thân và ý ấy, nay nên suy kiểm.  Nơi pháp không chỗ tham thọ được. Tại sao, nếu có pháp nhận thọ thì sanh khổ não, vì sanh khổ não nên không có vui. Vì thế nên nơi pháp mà có nhận thọ thì đều thọ khổ não, nếu thọ khổ não thì chẳng rời lìa khổ. Ðây gọi là suy kiểm mắt suy kiểm tai mũi lưỡi thân và ý, không có nhập xứ, tại sao, vì nếu có chỗ nhập thì có chỗ xuất. Thế nên đức Như Lai nói mắt là không vô ngã vô ngã sở bổn tánh nó tự như vậy, tai mũi lưỡi thân ý không vô ngã vô ngã sở bổn tánh nó tự như vậy. Tánh ấy không có tánh, không có tánh như vậy thì không tác không hoại. Pháp tánh như vậy, hoặc chư Phật xuất thế hay chẳng xuất thế, tánh ấy luôn thường trụ. Ở nơi các pháp sanh, đức Như Lai biết là chẳng sanh, nên Như Lai là đấng nói lời chơn thiệt mà nói rằng hoặc có Phật hay không có Phật tánh ấy thường trụ.

Này Phú Lâu Na ! Thế nào gọi là vô sanh, thế nào gọi là trí vô sanh ? Này Phú Lâu Na ! Các pháp bình đẳng gọi là vô sanh, đạo gọi là trí vô sanh. Khổ hêt gọi là vô sanh, đạo gọi là trí vô sanh. Ðây là Như Lai nói có hai đế : thế đế và đệ nhứt nghĩa đế.

Này Phú Lâu Na ! Như Lai nói tướng khổ tức là nói vô tướng. Thế nào gọi là tướng khổ, đó là tướng vô vi, vô vi tức là vô tướng, người trí biết vô vi là vô tướng.

Này Phú Lâu Na ! Người trí thế nào biết vô vi là vô tướng ? Ðó là biết vô vi pháp không, biết là tịch diệt, biết là chỗ về, biết là lợi ích đệ nhứt, biết là không có nhiệt não. Người trí biết vô vi là như vậy, trong trí biết ấy cũng chẳng sanh tướng.

Này Phú Lâu Na ! Nếu người có tác thì có hoại, nếu không tác thì không hoại. Tướng không hoại là không, tướng không hoại là vô tướng, tướng không hoại là không nguyện.

Này Phú Lâu Na ! Không pháp không có người tác không có người hoại. Vô tướng và vô nguyện cũng không có người tác người hoại.

Ðây gọi là tướng bất hoại là Vô thượng Bồ đề của chư Phật. Những gì là Vô thượng Bồ đề của chư Phật, đó là chư Phật sở bất đắc vậy.

-Bạch Thế Tôn ! Những pháp gì là chư Phật sở bất đắc ?

-Này Phú Lâu Na ! Tất cả pháp là chư Phật sở bất đắc.

-Bạch Thế Tôn ! Vì lẽ ấy mà tất cả pháp là Vô thượng Bồ đề của chư Phật chăng ?

-Này Phú Lâu Na ! Ðúng như vậy, tất cả pháp là Vô thượng Bồ đề của chư Phật đó chỉ là thế tục giả danh ngôn để nói thôi. Người chẳng tinh tấn khó hiểu khó biết. Tại sao, vì người chẳng tinh tấn chẳng tu tập được các pháp bình đẳng. Nếu bất bình đẳng thì trái chống với chư Phật.

Này Phú Lâu Na ! Người nào chẳng tu tập bình đẳng được ?

Này Phú Lâu Na ! Tất cả thế gian hành bất bình đẳng. Trong Bồ đề của chư Phật không có đẳng cũng không có bất đẳng. Ta do đạo ấy mà được Vô thượng Bồ đề. Do nhơn duyên ấy mà trong kinh Phật nói tất cả pháp ở trong chánh vị đều nhập tất định, đây gọi là môn tất định nhập Bồ đề. Vì thế nên, này Phú Lâu Na, tất cả pháp đều là Bồ đề vậy".

Bấy giờ Huệ Mạng Phú Lâu Na bạch rằng: "Hi hữu Thế Tôn! Vô thượng Bồ đề của chư Phật cũng định cũng bất định, cũng vào văn tự cũng chẳng vào văn tự, cùng vào ngữ ngôn cũng chẳng vào ngữ ngôn. Tại sao, bạch Thế Tôn, nay tôi theo Phật nghe nói kinh này, ở nơi các pháp tôi được quyết định quang minh. Tôi ở trong các pháp được quyết định quang minh như vậy, tôi ở trong một sự biết tất cả sự, ở trong tất cả sự biết một sự".

Ðức Phật khen Ngài Phú Lâu Na rằng : "Lành thay, tốt thay, này Phú Lâu Na, ông có thể mau nhập được tất cả pháp lợi của chư Phật như vậy, phải biết thuở đời quá khứ ông đã từng cúng dường chư Phật gieo trồng các căn lành, hầu gần thỉnh hỏi. Này Phú Lâu Na ! Ta nhớ thuở quá khứ ở trong phần hư không của cõi đất này, ông đã từng ở chỗ sáu vạn tám ngàn đức Phật được nghe nói kinh này, do vì thiện căn công đức ấy nên nay ông ở nơi các pháp được khắp quyết định quang minh.

-Bạch Thế Tôn ! Nếu tôi đã ở nơi chư Phật ấy được nghe kinh này, tại sao tôi lại chẳng dùng một niệm phát Vô thượng Bồ đề ?

Này Phú Lâu Na ! Ta nhớ thuở quá khứ ông đã có một kiếp phát tâm Vô thượng Bồ đề mà chẳng rời lìa các tâm khác nên lại thối thất. Do vì phước đức ấy, nay ta nói ông ở trong các Pháp Sư là tối đệ nhứt.

Bạch Thế Tôn ! Tôi khi trước làm tội chướng gì nên trong một kiếp phát tâm Bồ đề lại thối thất ?

Này Phú Lâu Na! Do vì theo y chỉ ác tri thức, lại vì chẳng có thể lưu bố rộng chánh pháp nên ông thối thất tâm Bồ đề.

Này Phú Lâu Na ! Có bốn pháp thối thất tâm Vô thượng Bồ đề mà thành Thanh Văn thừa. Những gì là bốn ?

Một là vì Bồ Tát thân cận ác tri thức nên có thể ở nơi thiện căn tăng thêm ác niệm viễn ly mà nói rằng : Cần gì phát tâm Bồ đề như vậy, sanh tử dài lâu vô lượng khổ não qua lại trong năm loài được không nạn rất khó, gặp Phật càng khó mà sanh lòng tịnh tín lại khó hơn, dầu được gặp Phật nhưng xuất gia lại khó, đời nay ngươi được gặp không nạn chớ để mất, nơi chư Phật người chưa được thọ ký thiện căn chưa nhứt định, nếu chẳng được Niết bàn thì phải luân chuyển năm loài. Người ấy nghe lời của ác tri thức nói trên đây rồi sanh lòng thối thất đạo Bồ đề giải đài chẳng an vui. Ðây là pháp ban đầu mà do đó Bồ Tát thối thất Bồ đề thành Thanh Văn thừa.

Hai là Bồ Tát chẳng nghe các kinh đúng với Bồ Tát, đó là các kinh Bồ Tát Tạng, kinh Phát Bồ Ðề Tâm, ,kinh Nhiếp Bồ Tát Sự, kinh đúng sáu Ba la mật, do vì chẳng nghe nên chẳng hành Bồ Tát hạnh chẳng học Bồ Tát đạo. Người này chẳng biết Bồ Tát nên thân cận pháp gì nên xa rời pháp gì, pháp nào nên thọ pháp nào chẳng nên thọ, pháp gì là Bồ Tát pháp, pháp gì là Thanh Văn pháp. Vì chẳng biết rõ ràng nên với pháp nên thân cận mà chẳng thân cận trở lại thân cận pháp chẳng nên thân cận, do đó nên thối thất đạo Vô thượng Bồ đề tâm giải đãi nhàm yếu bỏ phế bổn nguyện. Có pháp thứ hai này thì Bồ Tát thối thất Bồ đề thành Thanh Văn thừa.

Ba là Bồ Tát chấp được các tham trước ngô ngã hành tà kiến sa vào biên kiến chìm trong ác kiến khó cứu khỏi. Người này được nghe kinh sâu diệu đúng đệ nhứt nghĩa không có mảy tướng dạng thì trái nghịch chẳng tin chẳng thông đạt được gây tội phá pháp, do đó mà sanh tại chỗ nạn chẳng gặp được Phật chẳng được nghe pháp, vì chẳng nghe pháp nên chẳng gặp giáo pháp chư Phật nên chẳng được gặp thiện tri thức, vì chẳng gặp thiện tri thức nên mất chỗ vô nạn mà sanh tại chỗ nạn, vì sanh chỗ nạn nên rời lìa thiện tri thức gặp ác tri thức, vì cùng tùng sự với ác tri thức nên quên mất bổn niệm, vì mất bổn niệm nên bỏ tâm Bồ Tát bỏ Bồ Tát thừa mà thối chuyển mất tâm Bồ đề chỉ làm pháp sanh tử chẳng tu tập được hành pháp Ðại thừa. Có pháp thứ ba này thì Bồ Tát thối thất Bồ đề thành Thanh Văn thừa.

Bốn là Bồ Tát được nghe các kinh thâm diệu mà chẳng thâm tâm giáo hóa người khác, tâm niệm thối thất chỉ thích tu một mình lòng tham tiếc chẳng muốn tuyên nói, chẳng có thể dùng Chánh pháp nhiếp nhiều người, do căn bất thiện này mà mất trí niệm huệ, đã mất trí huệ niệm chẳng cùng người đọc tụng Ðại thừa kinh chẳng đem pháp Ðại thừa cùng người cộng đồng, người này chuyển thân đời khác, mất tâm Bồ Tát quên niệm Bồ Tát. Có pháp thứ tư này thì Bồ Tát thối thất Bồ đề thành Thanh Văn thừa".

Ðức Thế Tôn muốn tuyên rõ lại sự ấy mà nói kệ rằng :

 "Thân cận ác tri thức

 Giải đãi nơi Bồ đề

 Do vì duyên cớ ấy

 Mất tâm thượng Bồ đề

 Sâu sanh ác ngã kiến

 Sa vào biên tà kiến

 Mà gây tội phá pháp

 Sanh tại nơi nạn xứ

 Sanh nơi nạn xứ rồi

 Thì dứt tâm Bồ đề

 Quên mất bổn niệm trước

 Do đó mất Bồ đề

 Người này chẳng nghe được

 Pháp sanh Bồ đề tâm

 Tâm ấy nếu tăng trưởng

 Thì thành được Bồ đề

 Ðược pháp diệu quảng đại

 Tham lẫn chẳng muốn nói

 Do vì duyên cớ ấy

 Mà thối thất Bồ đề

 Bồ Tát cầu Ðại thừa

 Phải biết bốn pháp ấy

 Nếu biết bốn pháp ấy

 Bồ đề sẽ được sanh

 Vì thế nên xa rời

 Bốn pháp ác như vậy

 Siêng tu hành pháp không

 Ðược gần thiện tri thức

 Ðược kinh thâm diệu rồi

 Chẳng nên tham bỏn xẻn

 Lòng siêng nói dạy người

 Do đây sanh Bồ đề.

Lại này Phú Lâu Na! Bồ Tát thành tựu bốn pháp tùy hồi hướng Bồ đề tâm chẳng mất, tùy hồi hướng các thiện căn cũng chẳng mất. Những gì là bốn ?

Bồ Tát trì giới thanh tịnh, ức niệm thành tựu có niệm an huệ, tâm siêng tinh tấn mà chẳng lười bỏ, thành tựu đa văn sanh huệ.

Bồ Tát có bốn pháp ấy thì tùy hồi hướng tâm Bồ đề chẳng mất, tùy hồi hướng các thiện căn cũng chẳng mất".

Ðức Thế Tôn muốn tuyên rõ lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng :

 "Bồ Tát đủ trì giới

 Chỗ ghi nhớ sâu xa

 Tâm siêng thường tinh tấn

 Ða văn trang nghiêm huệ

 Bồ Tát thường thân cận

 Bốn pháp như trên ấy

 Tùy ý muốn khởi sự

 Ðều có thể thành tựu

 Vì thế phải thường trì

 Tịnh giới siêng tinh tấn

 Chẳng dứt pháp ức niệm

 Thường siêng cầu đa văn

 Trì giới tịnh chỗ sanh

 Ức niệm tịnh đại trí

 Tinh tấn tịnh Phật pháp

 Ða văn sanh đại huệ

 Vì thế các Bồ Tát

 Phải học bốn pháp trên

 Học bốn pháp trên rồi

 Sẽ chuyển vô thương luân.

Lại này Phú Lâu Na ! Bồ Tát có bốn pháp thì có thể lợi ích Bồ đề : Trì giới là pháp lợi ích Bồ đề, nhẫn nhục là pháp lợi ích Bồ đề, tinh tấn là pháp lợi ích Bồ đề, đa văn là pháp lợi ích Bồ đề".

Ðức Thế Tôn muốn tuyên rõ nghĩa mà nói kệ rằng :

 "Bồ Tát tịnh trì giới

 Lợi ích cho Bồ đề

 Nhẫn nhục và tinh tấn

 Ða văn cũng như vậy

 Người trì giới thanh tịnh

 Sở nguyện đều được thành

 Giới tịnh nhiều lợi ích

 Bồ đề được chẳng khó

 Bồ Tát tu nhẫn nhục